Chớ Hiểu Lầm Về Sự Cứu Chuộc
[Ôn lại 3 điều về thập giá trong bài giảng tuần qua: tình yêu thương, sự tha thứ, hy vọng trước kẻ thù đáng sợ nhất là sự chết] Hôm qua trong buổi thảo luận KT nam giới, một người đã hỏi: nhưng tại sao Jêsus lại phải chết trên thập giá? Đây là một câu hỏi rất hay, nhưng không phải vì câu hỏi đó mà tôi chọn chủ đề cho bài giảng hôm nay. Bài giảng hôm nay nhằm trả lời phần nào câu hỏi đó. Tôi nói phần nào bởi vì sau 33 năm theo Chúa tôi vẫn còn chưa hiểu, biết hết về ý nghĩa, mầu nhiệm của thập giá. Dù chưa hiểu, biết hết, nhưng một điều quan trọng là mỗi ngày theo Chúa tôi càng cảm nhận sâu sắc hơn về giá trị và ân điển của thập giá. Hơn hết vì tình yêu thương của ĐCT qua thập giá.
Khi còn trong trường đại học tôi có đọc một quyển sách (Beyong Budhism) viết bởi một người Mỹ gốc Nhật tên Isamu Ymamoto . Ông nội và cha ông là người rất sùng đạo Phật, mẹ ông là người tin Chúa. Lớn lên giữa hai tôn giáo ông thường nghĩ về hai hình ảnh giữa Phật ngồi bình tâm, tự tịnh trước mọi phong bao của cuộc đời này và hình ảnh của Jêsus Christ bị đóng đinh, treo trên thập giá, đầu đội mão gai, hông bị giáo đâm đổ máu. Hai hình ảnh thật vô cùng tương phản và khiến cho ông suy nghĩ nhiều. Tôi cũng đã suy nghĩ nhiều về hai hình ảnh này và nhận xét như sau: Sự bình tâm của Phật là của một đấng diệt bỏ mọi dục vọng, ham muốn, xem như không mọi phiền nhiễu, khổ đau, mất mát trong cuộc đời này; nói cách khác phải ra khỏi thế gian này đầy đau khổ này (xuất thế) để tìm được sự bình an, đến cõi niết bàn. Trái lại hình ảnh của Jêsus Christ trên thập giá của hình ảnh của một đấng đã nhập thế, và chịu nhận sự khinh khi, nhục nhã, những trừng phạt khủng khiếp nhất của thế gian này. Tại sao ĐCJC phải nhập thế và chịu nhận sự chết trên thập giá? Câu trả lời đơn giản nhất là để cứu chuộc tôi và quí vị.
Cứu có nghĩa là đem một người, một vật từ nơi hiểm nguy đến nơi an toàn, từ một nơi nhiễu nhương, đe dọa, mất mát đến nơi êm ấm, bình an, hồi phục. Dù từ cứu cũng có khi nói về sự tự cứu nhưng đa số đều có ý được cứu. Như người tị nạn trên chiếc thuyền nhỏ chết máy, cạn nước, hết thức ăn lênh đênh trên biển cả cần được cứu. Như một người mang bệnh nan y phải cần được cứu. Đây là cũng chính là hình ảnh và ý nghĩa của từ cứu trong sự cứu chuộc của ĐCJC. Tôi và quí vị không tự cứu mình được nhưng phải cần được cứu. Nhưng quí vị có thể hỏi cứu gì? tại sao cần được cứu?
Một lần ĐCJC nói cùng các môn đồ: Kẻ trộm chỉ đến để cướp giết và hủy diệt; còn ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống và được sự sống dư dật. 11 Ta là người chăn hiền lành; người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình. (Giăng 10:10-11). Một số mục sư giảng rằng mục đích của sự Chúa đến là để đem đến cho người tin Ngài một sự sống dư dật. Dư dật về sức khỏe, về vật chất, tiền của, dư dật về thành công trong đời sống, về tiền về hưu trí. Có phải thật vậy không. Quí vị cùng tôi đọc lại câu 10 gồm hai phần: hầu cho chiên 1) được sự sống và 2) được sự sống dư dật. Nếu có sự sống thì chắc chắn không thể có sự sống dư dật. Nhưng chẳng phải Chúa Jêsus nói với những người đang lắng nghe, những người đang sống, đang có sự sống hay sao? Vậy Chúa phải hàm một ý khác về sự sống; phải có nghĩa khác hơn là về sự sống trong thể xác này. Điều khác hơn đó là sự sống tâm linh, của linh hồn một người. KT dạy con người có cả phần thể xác và linh hồn. Cuộc sống trong thể xác này rồi sẽ chấm dứt. Bụi đất rồi sẽ trở về với bụi đất. Nhưng linh hồn một người sẽ còn đến đời đời. ĐCJC đến không phải để cứu chuộc đời sống vật chất này nhưng để cứu chuộc linh hồn. Linh hồn vô giá. ĐCJC dạy: Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại? (Mat 16:26)
Cứu có nghĩa là người được cứu đang trong cảnh túng cùng, cơn nguy hiểm. Được cứu có nghĩa là người trong cơn nguy hiểm ý biết rõ rằng mình không thể làm gì được để thoát ra được hoàn cảnh đó. Được cứu cũng có nghĩa là người cứu độ phải hành động, thậm chí trong nhiều trường hợp phải có mặt, phải ở gần. Như thuyền nhỏ mong manh sắp chìm trên biển cả bao la giữa cơn giông bảo được cứu khi chiếc thuyền lớn cặp bên cạnh. Chúa đến thế gian, nhập thế để bày tỏ sự cảm thông cho thân phận của con người và để cứu chuộc linh hồn. Nhưng chúng ta đang trong nguy hiểm gì mà phải cần được đến ĐCT cứu? Câu trả lời là tội lỗi. Có ai trong quí vị tại đây có thể nói rằng mình không phạm tội?
Trước luật pháp xã hội khi phạm lỗi, phạm tội (dù không biết luật) chúng ta vẫn phải trả giá. Một lần khi chạy từ trong base tôi không thấy bản chỉ tốc độ 15 miles nên chạy nhanh hơn. Khi bị chận lại người cảnh sát chỉ cho tôi xem tốc độ 18miles. Chỉ 3miles hơn mà tôi phải bị một ticket rồi phải ra tòa để đóng phạt (thay vì khiếu nại!) Hễ tội phạm càng nặng thì giá trả sẽ càng cao. Kẻ giết người cách chủ ý sẽ phải chịu tù chung thân hay lên ghế điện (bị chích thuốc chết!)
GIÁ CỦA TỘI LỖI
Để giải thích điều này (tội lỗi và giá của nó) tôi muốn quí vị cùng tôi trở lại phần đầu của KT là CU. KT gồm 2 phần: CU và TU. Từ Ước có nghĩa là giao ước, kết ước, là lời hứa. Lời hứa trong CU là về một Đấng Cứu Rỗi cho dân tộc DT và mọi dân trên đất như đã chia sẽ tuần qua.
KT dạy rằng sau khi tổ phụ loài người phạm tội cùng ĐCT thì tội lỗi bắt đầu lan tràn vào thế gian và từ đó mọi người sinh ra đều mang mầm móng tội lỗi. Để bày tỏ lòng ăn năn, để bày tỏ lòng mong mỏi được ĐCT lắng nghe, con người lập bàn thờ (như Áp-ra-ham, ngay cả như những người ngoại) và dâng cúng của lễ. Ý nghĩa của sự dâng cúng và của lễ là gì? Để phần nào chuộc lại lỗi lầm đã vi phạm (cho trời đừng phạt!) và để nói rằng mình cần được Trời bỏ qua, tha lỗi.
Rồi dân sự DT bị làm nô lệ trong suốt gần 400 năm. Họ mong mỏi được cứu ra khỏi cảnh nô lệ. Chúa dùng Mô-se giải cứu và đem họ ra xứ nô lệ Ai-cập. Khi đi trong đồng vắng, ĐCT ra lệnh cho dân sự làm một cái lều tạm. Gọi là lều tạm vì có thể di động, nhưng đây là một đền thờ công phu di động trong xa mạc. Trong ngôi đền thờ di động đó có phần gọi là nơi thánh và phần cuối là nơi chí thánh.
Trong nơi chí thánh đó hòm giao ước và trong hòm đó có 3 vật: Bánh manna Chúa ban cho dân sự để ăn khi đi trong đồng vắng, cây trượng A-rôn nở bông, và hai bản luật pháp. 3 vật vừa nhắc cho dân sự về sự ban cho của ĐCT: ban cho bánh để sống, ban cho người giúp dân đến với Chúa, ban cho luật pháp trong xã hội. Nói cách khác trong đời sống này chúng ta cần bánh, cần luật pháp, và cần cả quan hệ với ĐCT. Tuy nhiên 3 vật này cũng nhắc cho dân sự về tội lỗi của họ: về sự bội nghịch, từ chối ĐCT trong đời sống. Bánh manna dù ăn nhưng lầm bầm, oán trách tượng trưng cho sự từ chối sự ban cho của ĐCT. Cây trượng nở bông nhắc cho dân sự khi họ ghen tị cùng A-rôn là thầy cả thượng phẩm; Chúa bảo mỗi chi bộ trong 12 chi bộ lấy một cây viết tên chi bộ rồi để trước hòm giao ước. Đến ngày sau, chỉ có cây của A-rôn nở bông. Hai bản luật pháp nhắc họ về sự mau chóng phạm tội cùng Chúa, mau chóng từ bỏ luật pháp Chúa.
Hình ảnh 3 vật trong hòm giao ước cho thấy mọi điều trong đời sống loài người đều do ĐCT ban cho, nhưng loài người lại phủ nhận, khinh dễ, từ chối sự ban cho đó mà theo đuổi cách thức riêng của mình.
Cũng chính trong nơi chí thánh đó, ĐCT ngự. Một năm một lần chỉ có thầy tế lễ cả mới được vào nơi chí thánh để đại diện cho cả dân sự dâng của lễ chuộc tội. Chuộc tội bằng gì? Bằng huyết của chiên, cừu. Tại sao huyết (máu)? Nhiều người nghĩ đạo gì mà dã man quá vậy? Tôi xin được giải thích. Trước khi y khoa biết rằng hầu hết mọi tật bệnh đều có thể chuẩn đoán qua thử máu thì KT đã cho biết rằng sự sống một người ở trong huyết của họ: vì sanh mạng của xác thịt ở trong huyết (Lê-vi-ký 17:11).
Vậy hình ảnh của huyết trong KT tượng trưng cho sự sống. Khi một người giết người thì chính họ cũng phải trả giá bằng huyết, hay mạng sống của họ. Vậy việc dâng của lễ bằng huyết là hình ảnh tượng trưng cho giá của tội lỗi phải trả qua chính mạng sống. Tội con dưới mắt ĐCT nặng đến nỗi phải trả giá bằng chính sự sống. Mắt đền mắt, răng đền răng, sự sống đền sự sống nhắc cho chúng ta biết về giá phải trả tương xứng với tội.
Có người nói rằng tội tôi có gì nặng đến nỗi phải đáng chịu chết như vậy? Tôi có thể giải thích đơn giản thế này. Khi ngọn đèn soi trong bóng tối thì dù đèn nhỏ cũng thấy ánh sáng. Nhưng khi ngọn đèn đó so sánh với ánh sáng mặt trời thì có ra gì? Ánh sáng lớn nhất, sáng nhất của loài người khi càng gần mặt trời thì càng vô nghĩa. Với tiêu chuẩn của ĐCT tuyệt đối thì tội tôi đáng chết. Như khi gần mặt trời thì mọi kim loại đều sẽ bị tiêu chảy. Cũng vậy đời sống con người sẽ bị tiêu chảy khi đến gần ĐCT thánh khiết, vô nhiệm, toàn thiện. Tội lỗi loài người trước ĐCT khiến họ phải chịu chết, hay đổ huyết.
Quí vị hỏi tại sao lại dâng chiên cừu? Bởi vì đây là tượng trưng cho những tế vật chết thế cho người có tội trước khi có thể đến với ĐCT. Nếu đúng ra thì mọi người đều đáng chết trước Chúa cả vì tội lỗi chúng ta nhưng Ngài cho phép dùng tế vật để nhắc chúng ta về tội và cũng để chuộc lấy tội chúng ta. Đây là phần thứ hai của câu Lê-vi-ký 17:11): Ta đã cho các ngươi huyết rưới trên bàn thờ đặng làm lễ chuộc tội cho linh hồn mình; vì nhờ sanh mạng mà huyết mới chuộc tội được.
Nhưng khi nào thì tế vật đủ để chuộc tội cho một người? Không bao giờ cả. Chính vì vậy mà mỗi ngày những thầy tế lễ phải tiếp tục dâng của lễ qua huyết tế vật. Một lá thư trong KT TU tên Hê-bơ-rơ giải thích ý nghĩa của những điều này như sau: Vả, luật pháp chỉ là bóng của sự tốt lành ngày sau, không có hình thật của các vật, nên không bao giờ cậy tế lễ mỗi năm hằng dâng như vậy, mà khiến kẻ đến gần Đức Chúa Trời trở nên trọn lành được. 2 Nếu được, thì những kẻ thờ phượng đã một lần được sạch rồi, lương tâm họ không còn biết tội nữa, nhân đó, há chẳng thôi dâng tế lễ hay sao? 3 Trái lại, những tế lễ đó chẳng qua là mỗi năm nhắc cho nhớ lại tội lỗi. 4 Vì huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được… Phàm thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc và năng dâng của lễ đồng một thức, là của lễ không bao giờ cất tội lỗi được, 12 còn như Đấng nầy, đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ, rồi ngồi đời đời bên hữu Đức Chúa Trời. (Hê-bơ-rơ 10:1-4, 11-12)
Vậy để đến với ĐCT nơi chí thánh của Ngài chúng ta cần phải được chuộc tội. Không phải bởi chính mình nhưng bởi một thầy tế lễ thượng phẩm (do chính ĐCT chọn). Thấy tế lễ đó dùng huyết để chuộc tội vì huyết tượng trưng cho sự sống, và việc đổ huyết để nói lên giá tuyệt đối của tội con người. Qua ngàn năm dân tuyển DT thực hiện điều này để nhắc họ về tội lỗi phạm mỗi ngày, về sự thánh khiết tuyệt đối của ĐCT, và về giá đắt của tội.
Và trong thời điểm đã định, ĐCJC đến thế gian để làm của chuộc tội cho dân sự, không phải chỉ cho dân tuyển nhưng cho cả mọi dân tộc. Chúa đổ huyết trên thập giá để làm của lễ chuộc tội cho mạng sống của tôi và quí vị. Lẽ ra chúng ta phải đổ chính huyết mình vì tội lỗi nhưng ĐCJC đã đổ huyết Ngài để cứu chúng ta. Ngày xưa thầy tế lễ phải dâng chiên cừu mỗi ngày, nhưng huyết của ĐCJC đổ ra một lần đủ để rửa sạch tội cho loài người vì Ngài là ĐCT. Nhưng Đấng Christ đã hiện đến làm thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau nầy; Ngài đã vượt qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay người dựng ra, nghĩa là không thuộc về đời nầy. 12 Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời… Nhân đó, Ngài là Đấng trung bảo của giao ước mới, để khi Ngài chịu chết mà chuộc tội đã phạm dưới giao ước cũ, thì những kẻ được kêu gọi nhận lãnh cơ nghiệp đời đời đã hứa cho mình. (Hê-bơ-rơ 9:11-12, 15)
Khi ĐCT trút hơi trên thập giá thì tấm màng ngang phần thánh và chí thánh trong đền thờ bị xé làm đôi. Hình ảnh này tượng trưng cho sự tha thứ của ĐCT với chúng ta qua ĐCJC. Vì ĐCJC mà hôm nay chúng ta có thể vào nơi chí thánh, có thể đến với ĐCT.
Khi dự tiệc thánh, chúng ta ăn bánh, uống chén (nước nho). Bánh tượng trưng cho thân thể Chúa, rượu nho tượng trưng cho huyết Chúa. Khi ăn bánh và uống chén KT dạy chúng ta rao (nói về) sự chết của Ngài. Bởi vì sự chết, sự đổ huyết của Chúa trên thập giá đem đến sự cứu chuộc cho những tội nhân như tôi và quí vị. Tội của tôi và quí vị lẽ ra phải trả bằng chính mạng sống mình; nhưng ĐCJC đã trả bằng chính mạng sống của Ngài.
Đây chính là ý nghĩa của tiên tri Ê-sai viết 700 trước khi Jêsus giáng thế: vì người đã đổ mạng sống mình cho đến chết, đã bị kể vào hàng kẻ dữ, đã mang lấy tội lỗi nhiều người, và cầu thay cho những kẻ phạm tội (Ê-sai 53:12)
CHÚA CỨU CHUỘC TỘI NHÂN
Tiếng Việt chúng ta rất hay. Chỉ từ cứu mà cũng có rất nhiều dạng thể: cứu chuộc, cứu độ, cứu rỗi, cứu giúp, cứu thế, cứu cánh… Từ sau từ cứu nhằm phụ ý, nói lên cách thức hay đối đượng của việc cứu. Như cứu thế là cứu thế gian; cứu bệnh là cứu người đang bệnh. Tôi chủ ý dùng từ cứu chuộc trong bài giảng này để nhắc rằng để cứu tôi và quí vị ĐCJC phải chuộc chúng ta bằng chính huyết của Ngài.
Chuộc hàm ý trả một giá để lấy lại. Thường chúng ta chỉ chuộc lại những điều quan trọng, quí báu. Không ai lại đi chuộc một cái áo cũ, áo rách cả; nhưng người ta trả giá để chuộc lại một chiếc nhẫn kỷ niệm, hay chuộc lại một người lính bị giặc thù bắt giam. Hễ của càng quí, người càng quí thì giá càng cao. Chúa đã chuộc chúng ta từ vòng tội lỗi, từ nơi tối tăm sang đến nước sáng láng của Ngài. Chuộc với giá đắt vô cùng.
Nhưng thật sự chúng ta có đáng gì với giá đó hay không? ĐCJC cứu chuộc ai? Người đàn bà Sa-ma-ri có 5 đời chồng; những người đánh cá; người phụ nữ bị bắt phạm tội tà dâm; người bắt bớ để giết tín đồ (Phao-lô). Chúa cứu chuộc những người bần cùng, thấp hèn, bị chê bai, khinh dễ, xem thường trong xã hội. Ai quan tâm đến những người này, huống chi đến cứu chuộc? Khi không có nhiều vật chất, khi không có bằng cấp, chức vị, quyền thế, người ta dễ được cứu vì biết rõ mình chẳng đáng gì. Nhưng với những người giàu có, dư thừa họ nghĩ mình cần gì được cứu.
Nhưng linh hồn của cả người giàu lẫn người nghèo, cả người học thức, lẫn người không học thức, giữa người đẹp và người xấu đều cần được cứu chuộc.
Sự cứu chuộc (salvation) của Chúa gồm 3 điều sau đây trong 3 thời điểm: Quá khứ - giá trả của tội; Hiện tại - sức mạnh (quyền thống trị) của tội; Tương lai - hiện diện của tội.
Nhiều tín đồ nghĩ Chúa cứu giúp mình. Cứu để giúp đở, ban cho điều mình mong muốn, ao ước. Họ đọc Giăng 10:10: còn ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống và được sự sống dư dật với suy nghĩ, hiểu biết đó. Cứu để được sự sống dư dật về vật chất, để được mọi ơn phước trên đời này. Họ đã hiểu sai lời Chúa rồi. Họ chú tâm vào sự sống vật chất hơn là sự sống tâm linh. Sự sống vật chất rồi sẽ qua đi, nhưng linh hồn còn đến đời đời. Hoặc lên thiên đàng, hoặc xuống địa ngục. Sự sống dư dật là linh hồn bình an, vui thỏa vì biết mình được cứu, được tha thứ, yêu thương bởi ĐCT, là sự sống có ĐTL làm chủ để giúp lèo lái qua những gian truân trong đời, là sự sống với sự bảo đảm khi qua đời sẽ về với Chúa đời đời.
Một đứa con trai không nghe lời cha mẹ. Bao nhiêu lần, bao nhiêu năm tháng cha mẹ khuyên dạy vẫn chứng nào tật nấy. Bao nhiêu lần anh làm khổ, làm nhục cha mẹ mình. Một ngày anh bị bắt vào tù. Trong thời gian đó anh hối hận lắm vì đã làm khổ cha mẹ biết bao nhiêu. Anh ăn năn rồi viết một lá thư cho cha mẹ: Con sẽ được ra tù trong thời gian rất gần. Con biết con có tội rất nặng cùng cha mẹ. Con xin cha mẹ tha thứ cho con. Cha mẹ có thể cho con biết rằng cha mẹ tha thứ và sẽ chấp nhận cho con trở về bằng cách máng một tấm vải trắng trên cửa sổ nhà mình. Khi xe bus đi ngang qua làng con sẽ thấy và biết. Con tự hiểu nếu cha mẹ không thể nào tha thứ và chấp nhận cho về. Ngày được thả, anh đáp chuyến xe đi ngang qua làng. Khi gần đến nhà anh không dám nhìn để xem có tấm vải trắng hay không mà phải nhờ một hành khách cạnh bên nhìn dùm. Khi xe chạy qua, người hành khách vỗ vai anh: wow, xem kìa, hãy xem kìa. Khi nhìn lên anh nhìn thấy cả căn nhà phủ đầy vải trắng.
Để được cứu chuộc quí vị phải ý thức mình là người cần được cứu. Ý thức rằng tội lỗi mình đáng bị Chúa xử phạt đến chết. Phải hối hận, ăn năn. Tin vào Đấng Christ đã chịu chết trên thập giá để trả giá chuộc cho tội mình.
Vì nếu miệng ngươi xưng nhận Đức Giê-su là Chúa và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu; 10 Vì tin trong lòng thì được sự công chính, và xưng nhận nơi miệng thì được sự cứu rỗi. (Rô-ma 10:9)
