Chính Tôi Là Kẻ Tội Đầu
Không ai có thể phủ nhận rằng chỉ sau ĐCJC, PL là một sứ đồ quan trọng hơn hết trong suốt lịch sử HT từ hơn 2000 năm qua. PL là một vĩ nhân vì thành tích ông đã đạt được chỉ trong vòng 35-40 năm trời thay đổi lịch sử HT, đạo Cơ Đốc và cả lịch sử thế giới, đặc biệt là lịch sử các dân tộc Tây Phương. HT Công Giáo và ngay cả rất nhiều hệ phái khác gọi PL là thánh đồ vì sự hy sinh, dấng thân, tận trung cho việc phát triển Tin Lành, sáng lập các HT, và vì đời sống thánh khiết, liêm chính, trong sạch của ông.
Lời dạy của PL về tội lỗi, ân điển, sự cứu rỗi qua ĐCJC trong 13 thư tín ông đã viết gần 2000 năm trước đây thay đổi cả thế giới xưa và nay. Hôm nay hàng tỉ tín đồ, hằng ngày, hàng tuần, hoặc cá nhân hay nhóm nhau lại để nghe, đọc, học hỏi, nghiên cứu, áp dụng lời dạy của PL. Hàng bao nhiêu ngàn quyển sách đã viết để giải thích về ý nghĩa sâu nhiệm từ những lời dạy trong thư tín của PL.
Có mấy ai dám nói như PL cùng các tín đồ HT: Cho dù anh em có hàng vạn người hướng dẫn trong Đấng Christ, nhưng anh em không có nhiều cha; vì nhờ Tin Lành, tôi đã sinh anh em ra trong Đấng Christ Jêsus. 16Vậy, tôi nài khuyên anh em: Hãy bắt chước tôi. (1 Cô-rinh-tô 4:15-16) Hãy bắt chước tôi, như chính tôi bắt chước Chúa Cứu Thế. (1 Cô-rinh-tô 11:1) Thưa anh em, hãy cùng nhau bắt chước tôi, và hãy chú tâm đến những người sống theo mẫu mực mà anh em thấy trong chúng tôi. (Phi 3:17 – BHĐ).
Chỉ khi một người có đời sống đạo gương mẫu, chân thật, thánh khiết, liêm chính, trong sạch, làm theo đúng những lời Chúa dạy, vâng giữ các luật pháp, 10 điều răn, yêu mến ĐCT với tất cả tấm lòng, tất cả linh hồn, tất cả tâm trí, tất cả sức lực, và yêu mến người lân cận như chính mình, thì mới có thể nói: hãy bắt chước tôi như tôi bắt chước Đấng Christ.
Một sứ đồ tận trung, thánh khiết, trong sạch, một sứ đồ hy sinh cả cuộc đời cho Chúa, cho lợi ích của tín đồ bao nhiêu HT trên khắp các xứ của đế quốc La-mã, từ Giu-đa, đến Sa-ma-ri, đến Si-ri, đến Tiểu Á, Ma-xê-đoan, A-chia, tác giả của 13 thư tín trong số 27 thư sách trong TU. Khi đọc về hy sinh, chịu khổ cho danh Chúa, cho công việc rao giảng TL, lòng chân thành yêu thương, quan tâm đến đời sống thục linh của tín đồ trong tất cả cá HT, có ai không thán phục, nể trọng? Tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn, tù rạc nhiều hơn, đòn vọt quá chừng. Đòi phen tôi gần phải bị chết; 24 năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; 25 ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm. 26 Lại nhiều lần tôi đi đường, nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối; 27 chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói khát, thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ. 28 Còn chưa kể mọi sự khác, là mỗi ngày tôi phải lo lắng về hết thảy các Hội thánh. 29 Nào có ai yếu đuối mà tôi chẳng yếu đuối ư? Nào có ai vấp ngã mà tôi chẳng như nung như đốt ư? (2 Cô-rinh-tô 11:23-29)
Vậy đó mà trong một lá thư viết lúc gần cuối đời, PL tự nhận rằng chính ta là kẻ tội đầu: Đây là lời đáng tin nhận hoàn toàn: Chúa Cứu Thế Giê-su đã đến trần gian để cứu người tội lỗi, mà ta là người nặng tội nhất. 16Nhưng ta đã được thương xót chính vì lý do đó. Chính vì ta là kẻ nặng tội nhất, nên Chúa Cứu Thế Giê-su đã bày tỏ lòng nhẫn nhục hoàn toàn đối với ta, để làm gương cho những người sau này tin nhận Ngài mà được sự sống vĩnh phúc. (1 Ti-mô 1:15-16 – BDM). Không phải một lần nhưng 2 lần!
Tại sao PL lại viết những lời này? Có bài học gì cho tôi và qv qua lời nhận này của PL hay không? PL muốn người tin Chúa, tín đồ các HT bắt chước ông là người nặng tội nhất, là kẻ tội đầu hay sao? Làm sao một người yêu mến Chúa hết lòng, tận trung với Chúa hết đời, phục vụ HT Chúa hết sức lại có thể là người nặng tội nhất, là kẻ tội đầu?
Bản dịch mới rõ ý của PL hơn bản cũ tội đầu. Vì đầu đây không có ý là đầu tiên, người có tội đầu tiên, nhưng là đầu trong các hạng. Tội đầu là tội nặng nhất như BDM người nặng tội nhất.
VÀI GIẢI THÍCH SAI LẦM
Nhiều học giả KT (liberal) (thật sự không tin KT, không tin Jesus là Chúa) nêu lên vài lý do sau đây:
1) Sáo ngữ hay thuật hành văn - PL chỉ nói văn hoa nhưng thật không hề có ý thật như vậy! Một ví dụ có thể thấy trong Ê-phê-sô 3:8 khi PL viết: Phải, ân điển đó đã ban cho tôi, là kẻ hèn hơn hết mọi thánh đồ, để rao truyền cho dân ngoại sự giàu có không dò được của Đấng Christ (Ê-phê-sô 3:8) – từ hèn hơn hết là elachistoteros (el-akh-is-tot'-er-os) nghĩa là thấp hơn điều thấp nhất, nhỏ hơn, kém hơn điều nhỏ nhất, kém nhất! Từ duy nhất dùng trong TU.
Một học giả giải thích về từ này như sau: Ai cũng biết rằng kiểu so sánh kép này là phổ biến ở các nhà thơ; Nhưng trong văn xuôi, nó được coi là có lỗi "it is well known that this kind of double comparison is common in the poets; but in prose, it is regarded as faulty." Lob. ad Phryn., p. 136; cf. Winers Grammar, § 11, 2 b. [also 27 (26); Buttmann, 28 (25)])
2) Khiêm nhường giả tạo – tự hạ mình xuống để làm nổi mình lên. Mọi người (dĩ nhiên gồm cả tín đồ và mục sư) đều có lúc phạm tội này: giả bộ như khiêm nhượng nhưng nếu không ai để ý đến, không ai khen tặng thì rất khó chịu, bực mình, trở nên buồn giận, cay đắng. PL viết rằng chính tôi là kẻ tội đầu như một cách tự hạ mình xuống chỉ với mục đích để được khen tặng là khiêm nhường nhưng thật sự muốn làm nổi mình lên.
[Câu chuyện về ba tín đồ làm chứng tội nặng đến thế nào trước khi tin Chúa!] Họ hãnh diện về sự khiêm nhường!
3) Phóng đại của người cuồng đạo, cuồng giáo (không chỉ sùng đạo nhưng còn là cuồng đạo giáo), của người tin đạo quá khích, quá cực đoan. Các học giả này, nhiều MS, HT cho rằng đây cũng là một nan đề của KT, của lời dạy trong các thư tín của PL, của đạo Cơ Đốc: chú trọng quá nhiều, quá mức về tội lỗi con người. Con người chỉ được cứu qua sự chịu chết của Con Trời trên thập giá cách đau đớn, tủi nhục; huyết của Ngài phải đổ ra để rửa sạch tội. Đây là những lời dạy hết sức sơ khai (primitive), cổ hủ, lỗi thời. Lý do là bởi vì họ thiếu tự tin vào khả năng của chính mình để có đời sống đạo đúng đắn nên luôn luôn phải đấm ngực, ăn năn, xưng tội. Hình ảnh của người thu thuế cúi đầu, đấm ngực xưng mình là người có tội xin Chúa tha thứ chính là biểu tượng của sự yếu đuối, của sự thiếu tự tin.
Lời thú tội của PL là một gánh nặng luôn luôn đè nặng trên cuộc đời của người tin vào lời dạy quá khích về tội lỗi này. Trong xã hội hiện đại trong thế kỷ 21, không ai có thể bảo tôi phải sống thế nào nhưng tự tôi sẽ quyết định cuộc đời, hướng đi, chọn lựa của tôi. Không ai có thể nói với tôi đây là điều tội lỗi; chính tôi sẽ quyết định điều đúng sai phải quấy.
4) Viết về tội trong quá khứ - PL vẫn luôn mang mặc cảm tội lỗi vì hành động trong quá khứ, vẫn cảm thấy chưa được hoàn toàn tha thứ. Động từ dùng trong thời hiện tại. Ê-phê-sô 3:8 cũng lập lại cùng 1 ý này trong thời hiện tại.
BỐI CẢNH CỦA NHỮNG LỜI NÀY
Một bằng chứng cho chúng ta biết PL không tự nhận chính ông là kẻ tội đầu, là người nặng tội nhất vì bối cảnh khi PL viết những lời này. Chúng ta đọc lại lời viết này:
Đây là lời đáng tin nhận hoàn toàn: Chúa Cứu Thế Giê-su đã đến trần gian để cứu người tội lỗi, mà ta là người nặng tội nhất. 16Nhưng ta đã được thương xót chính vì lý do đó. Chính vì ta là kẻ nặng tội nhất, nên Chúa Cứu Thế Giê-su đã bày tỏ lòng nhẫn nhục hoàn toàn đối với ta, để làm gương cho những người sau này tin nhận Ngài mà được sự sống vĩnh phúc. (1 Ti-mô-thê 1:15 – BDM)
Đây là một trong 5 lần trong các thư tín của PL ông dùng cụm từ đây là lời đáng tin nhận hoàn toàn:
1 Ti-mô-thê 1:15
Đây là lời đáng tin cậy: Nếu ai mong muốn làm giám mục, người đó ước ao một việc tốt đẹp. (1 Tim 3:1)
Thật vậy, sự luyện tập thân thể chỉ ích lợi chút đỉnh còn luyện tập lòng tin kính lại ích lợi mọi bề, vì có lời hứa cho cả đời này lẫn đời sau. 9Đây là lời đáng tin cậy và đáng được mọi người chấp nhận (1 Ti-mô-thê 4:8-9)
4 Nhưng khi lòng khoan dung và nhân ái của Đức Chúa Trời, Cứu Chúa chúng ta, được bày tỏ thì Ngài cứu chúng ta, 5 không phải bởi việc công chính chúng ta đã làm, nhưng bởi lòng thương xót của Ngài, qua việc thanh tẩy của sự tái sinh và đổi mới của Đức Thánh Linh, 6 là Đấng mà Ngài đã tuôn đổ dồi dào trên chúng ta bởi Đức Chúa Jêsus Christ, Cứu Chúa chúng ta, 7 để chúng ta nhờ ân điển Ngài mà được xưng công chính, trở nên người thừa kế niềm hi vọng về sự sống đời đời. 8 Đây là lời chắc chắn. (Tít 3:4-8 – BHĐ)
Lời nầy chắc chắn lắm: Ví bằng chúng ta chết với Ngài, thì cũng sẽ sống với Ngài; 12 lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta; 13 nếu chúng ta không thành tín, song Ngài vẫn thành tín, vì Ngài không thể tự chối mình được. (2 Ti-mô-thê 2:11-13)
Tôi muốn giải thích một điểm vô cùng quan trọng về 5 lời đáng tin nhận hoàn toàn, lời chắc chắn này: tất cả 5 lời này đều được viết trong thời gian cuối đời của PL tức sau hơn 30 năm dài PL được ĐCJC cứu, tin Chúa, phục vụ Ngài. 5 lời này được viết trong 3 thư: 1 Ti-mô-thê, Tít và 2 Tim
[Giải thích về thời gian khi PL viết thư qua slides. Vụ cháy lớn thành La-mã vào tháng 07/64. Đại đế Nê-rô đổ lỗi cho người tin Chúa nên bắt đầu một cuộc thanh trừng đạo Chúa và tàn giết tín đồ. Có lẽ đây cũng là thời gian PL và Phi-e-rơ bị Nê-rô bắt giam và sau đó xử chết]
Điều này chứng minh rằng 5 lời đáng tin này được viết bởi sứ đồ PL trong thời gian ông đã từng trãi, đã phục vụ, đã kinh nghiệm, đã hiểu biết mọi điều sâu nhiệm ĐTL khải thị cho ông. 5 lời này này gồm cả lời tự thú tôi là kẻ tội đầu được viết trong 3 thư cuối cùng đời trước khi PL về với Chúa. Đây không phải là những lời của một người non nớt, nông cạn, hời hợt trong đức tin, không phải của một người chưa hề phục vụ Chúa, chưa từng kinh nghiệm những khổ nạn, mất mát, bắt bớ, khốn cùng của người hầu việc Chúa. Trái lại.
Chúng ta có thể cả quyết chắc chắn lời của PL trong 1 Ti-mô-thê 1:15-16 về sự thú nhận rằng chính tôi là kẻ tội đầu là lời hoàn toàn chân thật, hoàn toàn đáng tin cậy, mang nhiều ý nghĩa, bài học cho HT ĐCT, cho tín đồ trong suốt mọi thời đại gồm cả tôi và qv hôm nay.
Hơn thế nữa đây không phải là lần đầu tiên PL viết rằng ông là kẻ tội đầu. Trong 2 thư khác là 1 Cô-rinh-tô 15:8-10, PL cũng xem mình là hèn mọn nhất trong vòng các sứ đồ:
Rốt lại, sau những người ấy, Ngài cũng hiện ra cho tôi xem, như cho một thai sanh non vậy. 9 Vì tôi là rất hèn mọn trong các sứ đồ, không đáng gọi là sứ đồ, bởi tôi đã bắt bớ Hội thánh của Đức Chúa Trời. 10 Nhưng tôi nay là người thể nào, là nhờ ơn Đức Chúa Trời, và ơn Ngài ban cho tôi cũng không phải là uổng vậy. Trái lại, tôi đã làm nhiều việc hơn các người khác, nhưng nào phải tôi, bèn là ơn Đức Chúa Trời đã ở cùng tôi. (1 Cô-rinh-tô 15:8-10)
Hèn mọn – theo tự điển Hy ngữ: nhỏ nhất, thấp nhất, kém nhất về kích thước (size), số lượng (amount), quan trọng (importance), thẩm quyền (authority), ước tính của người (estimation of men), chức vị và thành quả (rank and excellence). Ơn – ân điển (grace)
Và Ê-phê-sô 3:8: Phải, ân điển đó đã ban cho tôi, là kẻ hèn hơn hết mọi thánh đồ, để rao truyền cho dân ngoại sự giàu có không dò được của Đấng Christ – từ hèn hơn hết là elachistoteros (el-akh-is-tot'-er-os) nghĩa là thấp hơn điều thấp nhất, nhỏ hơn, kém hơn điều nhỏ nhất, kém nhất! Từ duy nhất dùng trong TU. Từ thánh đồ trong câu này có nghĩa gì? Để nói về ai? Về người tin Chúa.
Thư Ê-phê-sô viết trước thư 1 Ti-mô-thê. PL cũng đã viết rằng chính ông là kẻ nhỏ nhất, thấp nhất trong tất cả tín đồ!
CHÍNH TÔI LÀ KẺ TỘI ĐẦU
12Cảm tạ Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta, Đấng đã ban năng lực cho ta, vì Ngài đã tín nhiệm ta, và giao cho ta công tác phục vụ Ngài. 13Trước đây ta là người phạm thượng, bắt bớ đạo và xấc xược với Ngài, nhưng Ngài đã thương xót ta, vì lúc bấy giờ ta chưa có lòng tin nên chưa ý thức được những việc mình làm. (1 Tim 1:12-13 – BM)
Câu 12-13 PL viết về quá khứ thời gian trước khi ông tin Chúa: người phạm thượng, hay bắt bớ, hung bạo. Tôi hỏi qv: khi PL phạm thượng cùng ĐCT, bắt bớ tín đồ, hung bạo tàn phá, hủy diệt HT Chúa, ông có biết mình phạm tội hay không? Hay PL nghĩ rằng ông đang làm việc của ĐCT, đang phục vụ Chúa, đang làm theo mạng lệnh, vâng phục luật pháp của ĐCT? Ông viết rõ vì lúc bấy giờ ta chưa có lòng tin nên chưa ý thức được những việc mình làm.
Qv nghĩ những người Pha-ri-si cố sức vâng giữ 613 luật lệ, điều răn từ luật pháp Mô-se, 365 điều cần tránh làm và 248 điều nên làm có tin rằng họ làm đẹp lòng ĐCT của tổ phụ họ hay không?
Câu trả lời cho 2 câu hỏi này nói lên một sự thật trong đời của tội nhân trước khi tin Chúa như PL trước khi được cứu, như những người Pha-ri-si, như tất cả chúng ta trước khi được cứu là chắc chắn, chắc chắn chúng ta không hề thấy rõ được tội lỗi trong đời sống mình. Đây là lý do mà người không tin Chúa nghĩ rằng họ không hề có tội, hay không có tội gì đáng bị trừng phạt!
Nhưng khi ĐTL bắt đầu làm việc trong tấm lòng một người, một điều lạ lùng xảy ra: họ bắt đầu ý thức được tội lỗi của mình. Như Martin Luther. Trong thời gian còn là sinh viên tại trường đại học Erfurt, mỗi ngày ông đều đi ngang qua một bức tượng hình ĐCJC như một quan xét với thanh gươm và mắt nhìn xuyên thấu lòng người. Đây là một hình ảnh phổ thông trong thời Trung Cổ tại Âu Châu về Đấng Christ. Hình ảnh này ám ảnh Luther trong rất nhiều năm khi ông nghĩ đến tội khi phải ứng hầu trước Chúa. Luther không ngừng xưng tội cùng cha bề trên. Đến nỗi sau khi đã xưng tội trên đường về phòng, Luther nhớ lại một tội trong tư tưởng thì lập tức trở lại để tiếp tục xưng tội.
Tuy nhiên, dù tự hành xác mình, dù xưng tội ngày đêm Luther vẫn không tìm được sự bình an cho tâm hồn, vẫn luôn lo sợ về sự phán xét của ĐCT với tội lỗi ông. Hình ảnh của Đấng Christ đối với ông không phải là một Đấng Nhân Từ yêu thương loài người đến nỗi chịu chết cách đau đớn, nhục nhã trên thập giá để cứu tội, nhưng là một quan xét khắt khe trừng phạt người có tội, không bỏ qua một tội, dù nhỏ đến mấy, dù qua hành động hay trong suy nghĩ, dù qua thái độ hay chỉ trong ước muốn.
Thời gian trong dòng tu là một thời gian khủng hoảng về tâm linh đối với Luther: Dù tôi là một tu sĩ hoàn hảo (không có gì để chê trách được) nhưng tôi vẫn sẽ phải đứng trước mặt ĐCT như một tội nhân phiền não trong lương tâm, và không có sự tự tin rằng mọi việc tốt tôi làm có thể làm giảm bớt đi sự trừng phạt đó.
Sau khi đã được Chúa cứu, sau khi thật sự tin nhận ĐCJC là Cứu Chúa cuộc đời, qv nghĩ chúng ta có còn được ĐTL tiếp tục mở mắt của lòng để thấy rõ hơn về tội lỗi trong đời mình hay không? Đúng vậy.
Suy nghĩ với tôi về lời ĐCJC dạy trong bài giảng trên núi: Sao ngươi dòm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, mà chẳng thấy cây đà trong mắt mình? 4 Sao ngươi dám nói với anh em rằng: Để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh, mà chính ngươi có cây đà trong mắt mình? 5 Hỡi kẻ giả hình! Trước hết phải lấy cây đà khỏi mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em mình được. (Ma-thi-ơ 7:3-5)
Lời dạy này chủ yếu cho ai? Cho đoàn dân đông hay cho các môn đồ? Cho các môn đồ. Dù đã tin Chúa họ vẫn chưa thấy nhìn được cây đà trong mắt mình, mà chỉ để ý đến cái rác (cái dầm) trong mắt anh em mình. Khi PL thú nhận trong 1 Tim 1:15 chính tôi là kẻ tội đầu ông nhìn điều gì? Cái cột to lớn trong mắt ông hay cái dầm trong mắt người?
Tại sao PL có thể nói ta là kẻ tội đầu?
ĐCJC là mặt trời, sự công chính của PL và chúng ta là đóm lửa từ que diêm. ĐCJC là vũ trụ mênh mông, bao la, qv là một hạt cát nhỏ nhoi. ĐCJC là sự thánh khiết toàn hảo, tuyệt đối là Vua của mọi vua, Chúa của mọi chúa, 16 một mình Ngài có sự không hề chết, ở nơi sự sáng không thể đến gần được (1 Ti-mô-thê 6:16), qv là một tội nhân ở trong bóng tối của sự chết.
Càng đến gần ĐCJC, đến gần ĐCT 3 Ngôi, qv thấy gì? Sự vĩ đại, thánh khiết, ánh sáng của ĐCT và sự tối tăm của tội lỗi trong qv. Hễ càng gần mặt trời, qv sẽ càng ý thức rõ hơn về sự vô nghĩa của đóm lửa từ que diêm. Chi khi ở giữa đại dương mênh mông, sâu thẳm, bao la, chỉ khi nhìn vào nước xanh đen vì độ sâu không thể dò biết, nhìn khắp quanh chỉ thấy biển và nước, biển và trời, qv mới ý thức rõ hơn về sự nhỏ bé, hữu hạn của mình. Qv hiểu tôi muốn nói gì?
Đến cuối đời PL khi ông thực sự trưởng thành, thực sự nhận biết ĐCJC, thật sự được ở trong Ngài (thật ra cũng chỉ một phần cho đến khi lên thiên đàng!) ông càng hiểu rõ hơn về sự vĩ đại, vinh hiển, về Đấng ở nơi ánh sáng không thể đến gần được. Và khi đó ông càng ý thức rõ hơn về sự hèn mọn, tội lỗi, nhơ nhớp của mình.
Chú ý lời của PL với những tín đồ yếu đuối, vấp ngã, phạm tội: Nào có ai yếu đuối mà tôi chẳng yếu đuối ư? Nào có ai vấp ngã mà tôi chẳng như nung như đốt ư? (2 Cô-rinh-tô 11:29) Các anh chị em có biết từ vấp ngã là gì không? Skandalizō – scandal, sự việc nhục nhã, tiếng xấu do sai quấy, tội lỗi. Nhưng thường thái độ, phản ứng của chúng ta là gì khi thấy anh chị em mình yếu đuối, vấp ngã? Phê phán, chỉ trích, đánh giá, lên án, buộc tội thay vì cảm thông, giúp đở, hồi phục, cầu thay.
Hơn thế nữa chúng ta cùng đọc lại lời PL trong 1 Tim 1:15-16: 15Đây là lời đáng tin nhận hoàn toàn: Chúa Cứu Thế Giê-su đã đến trần gian để cứu người tội lỗi, mà ta là người nặng tội nhất. 16Nhưng ta đã được thương xót chính vì lý do đó. Chính vì ta là kẻ nặng tội nhất, nên Chúa Cứu Thế Giê-su đã bày tỏ lòng nhẫn nhục hoàn toàn đối với ta, để làm gương cho những người sau này tin nhận Ngài mà được sự sống vĩnh phúc. (1 Ti-mô-thê 1:15-16)
Theo đoạn KT này thì lý do gì ĐCT thương xót PL? Vì ông là kẻ tội đầu. Và chính vì PL là kẻ tội đầu nên Chúa bày tỏ lòng nhân nhục hoàn toàn [kiên nhẫn vô hạn] với ông.
Vậy tại sao chúng ta lại quá vội phê phán, lên án, chỉ trích mà không biết khiêm nhường, nhân từ như lời KT dạy?
Hai động cơ lớn nhất thúc đẩy con người hành động, thay đổi: sợ hãi, yêu thương. Trước khi tin Chúa, tôi biết tôi chỉ sợ Trời nên không dám làm điều này điều nọ. Nhưng nay đã được Chúa cứu, động cơ chính yếu không còn là sự sợ hãi, như là tình yêu thương.
ĐCT cứu PL và mỗi chúng ta với 2 mục đích chính: 1) Để biết Chúa; 2) Để giúp mọi người biết Chúa. Biết Chúa là ước nguyện của PL bày tỏ trong thư Phi-líp (1 trong 4 thư tín trong tù: Phi-líp, Phi-lê-môn, Ê-phê-sô, Cô-lô-se). PL viết: Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quí hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ 9 và được ở trong Ngài, được sự công bình, không phải công bình của tôi bởi luật pháp mà đến, bèn là bởi tin đến Đấng Christ mà được (Phi-líp 3:8-9)
Hơn thế nữa chỉ khi càng nhận biệt ĐCJC rõ hơn, PL càng biết rõ hơn về cái giá to lớn, vĩ đại, vô cùng vô tận của tình yêu thương và giá đắt mà ĐCJC phải chịu để cứu chuộc tội ông.
[Câu chuyện về Billy Graham 1955 khi ông 37 tuổi giảng tại trường đại học Cambridge. Rất nhiều người phẫn nộ, chỉ trích về lời mời giảng này. Nhiều thư viết: làm thế nào có thể mời một truyền giảng HK bảo thủ này đến giảng cho những sinh viên ưu tú, tài giỏi nhất đất nước Anh về thập tự, về cái chết, về huyết của Jesus? Chắc chắn những người trí thức sẽ không bao giờ có thể tin vào những điều này”
Mấy đêm đầu tiên khi giảng ông trích nhiều triết gia hiện đại như để phù hợp với người nghe. Nhưng đây không phải là Billy Graham. Ông quì gối cầu nguyện và nói với Chúa rằng trong đêm cuối ông sẽ giảng về thập giá. Sau đây là lời của người có mặt trong đêm cuối cùng của cuộc truyền giảng tại Cambridge: Tôi sẽ không bao giờ quên được đêm đó. Đó là đêm thứ Tư tại nhà thờ St Mary trường Cambridge. Tôi ở giữa một đám đông nghẹt người không còn chỗ ngồi. Tôi ngồi giữa một giáo sư thần học trường Cambridge và một số giáo sư khác. Đây là những người giáo sư rất tốt nhưng hoàn toàn phản đối niềm tin vào sự cứu tội qua huyết ĐCJC. Nhưng ông Billy thân mến trong đêm đó, đã đứng lên để giảng bắt đầu từ STK và qua cả KT nói về những lễ dâng chuộc tội. Huyết tràn lan mọi nơi trong suốt 45 phút đồng hồ. Tất cả các giáo sư quanh tôi đều thật mắc cở, xấu hổ vì lời giảng thô sơ về huyết Chúa Giê-xu. Nhưng đến cuối bài giảng mọi người đều sửng sốt, ngạc nhiên: 400 người nam và nữ đứng lên để cầu nguyện tin nhận Chúa, mời Chúa làm Chủ đời sống họ. 400 trong số 8000 sinh viên trong thời điểm đó. Tôi nhớ nhiều năm sau đó gặp một người đàn ông trẻ tuổi là mục sư, tôi hỏi ông: ông tin Chúa khi nào? Ông trả lời: Oh, Cambridge 1955. Ồ thật vậy sao, khi nào? Đêm thứ Tư, đêm cuối khi Billy Graham giảng. Chuyện xảy ra thế nào? Ông trả lời: tôi chỉ nhớ khi bước ra khỏi sảnh đường của nhà thờ St Mary đêm đó, lần đầu tiên trong đời tôi nghĩ: Đấng Christ đã thật sự chết và đỗ huyết trên thập giá cho tôi. Quyền trong huyết Giê-xu.
PL nói với các trưởng lão HT Ê-phê-sô: Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình. (CV 20:28). Giá gì đủ trả cho huyết của Chúa đã đổ ra cho tôi và qv, cho muôn người trên cây gỗ trên đồi Gô-gô-tha? Vô giá, vô giá. Chính vì ý thức được sự vô giá của sự chuộc tội mà sứ đồ PL trong lúc cuối đời, sau hơn 30 năm trời trung tín phục vụ, 30 năm trời kinh nghiệm được tình yêu thương và giá của sự cứu tội thú nhận rằng so với giá của huyết Giê-xu, chính tôi là kẻ tội đầu.
Cũng chính trong thư Ê-phê-sô, trong đoạn 3:8 khi PL viết: Phải, ân điển đó đã ban cho tôi, là kẻ hèn hơn hết mọi thánh đồ, để rao truyền cho dân ngoại sự giàu có không dò được của Đấng Christ, ông cũng viết: Ấy là vì cớ đó mà tôi quì gối trước mặt Cha, 15 bởi Cha mà cả nhà trên trời và dưới đất đều được đặt tên, 16 tôi cầu xin Ngài tùy sự giàu có vinh hiển Ngài khiến anh em được quyền phép bởi Thánh Linh mà nên mạnh mẽ trong lòng; 17 đến nỗi Đấng Christ nhân đức tin mà ngự trong lòng anh em; 18 để anh em khi đã đâm rễ vững nền trong sự yêu thương, được hiệp cùng các thánh đồ mà hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó là thể nào, 19 và được biết sự yêu thương của Đấng Christ, là sự trổi hơn mọi sự thông biết, hầu cho anh em được đầy dẫy mọi sự dư dật của Đức Chúa Trời. (Ê-phê-sô 3:14-19)
Khi được ĐTL chỉ rõ hơn về cây đà trong chính mắt mình, khi được ĐTL chỉ rõ hơn về sự vô giá của huyết ĐCJC đã đổ ra để cứu chuộc mình, khi được ĐTL giúp chúng ta ngày càng thấu hiểu rõ hơn bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của tình yêu thương Đấng Christ là dường nào, khi đó nhìn thật sâu vào con người nhỏ bé, tội lỗi, tham lam, ích kỷ, ganh tị, hèn nhát của mình, mọi người cũng sẽ nói như PL đã nói:
PL giải thích rõ về ân điển ĐCJC đã bày tỏ cùng ông, kẻ tội đầu: 14Chúa chúng ta đã ban ân sủng dồi dào cho ta, Ngài ban cho ta đức tin và tình yêu thương mà ta đã nhận được trong sự tương giao với Chúa Cứu Thế Giê-su. 15Đây là lời đáng tin nhận hoàn toàn: Chúa Cứu Thế Giê-su đã đến trần gian để cứu người tội lỗi, mà ta là người nặng tội nhất. 16Nhưng ta đã được thương xót chính vì lý do đó. Chính vì ta là kẻ nặng tội nhất, nên Chúa Cứu Thế Giê-su đã bày tỏ lòng nhẫn nhục hoàn toàn đối với ta, để làm gương cho những người sau này tin nhận Ngài mà được sự sống vĩnh phúc. (1 Tim 1:14-16 – BDM)
