Câu Hỏi Phải Chi
Ba điều: 1) Không ai quyết định, hành động cách toàn hảo; 2) Mọi người đều có những tiếc nuối về quyết định, hành động trong quá khứ, mọi người đều hỏi phải chi; 3) Chớ để quá khứ giam cầm hiện tại
KHÔNG AI QUYẾT ĐỊNH, HÀNH ĐỘNG CÁCH TOÀN HẢO
Không ai trong đời lại không có lần quyết định và hành động cách lầm lỗi để sau đó phải nuối tiếc, hối hận. Có nhiều quyết định không quan trọng nhưng cũng có nhiều quyết định ảnh hưởng đến tương lai, vậng mạng. Có những quyết định đã qua khi nhìn lại vẫn còn như những vết thương mới, vẫn còn làm cho đau nhức, vẫn có gợi lại những ký ức xưa ám ảnh. Và với những ám ảnh là câu hỏi phải chi. Phải chi tôi đừng làm điều này, điều nọ hay tôi nên làm điều này, điều nọ.
Có người than vãn về thị trường chứng khoán: “Phải chi tôi bán cổ phần trước ngày đó thì đâu đến nỗi!” Có người thở dài: “Phải chi đừng ham hố mà mua với giá cao như vậy!”
Lời than vãn phải chi không phải chỉ từ những người đầu tư mất của nhưng là tiếng lòng của mỗi chúng ta trong suốt cuộc đời. Có khi đây chỉ là những tiếc nuối về điều chóng qua như thức ngon vật lạ, thời trang, cách trang điểm, tuồng giải trí. Nhưng phải chi cũng là câu hỏi day dứt, dằn vặt cả đời người. Nó khiến chúng ta thức giấc nữa đêm, trăn trở, đau xót, nuối tiếc. Nó theo đuổi, trách móc, ám ảnh người trong cuộc từ ngày này sang ngày khác. Nhất là khi ta phạm lỗi lầm tưởng nhỏ nhưng lại gây ra một hậu quả vô cùng nghiêm trọng.
Người không vui thoả trong hôn nhân tự trách mình sao không suy nghĩ kỹ lưỡng, chọn người phối ngẫu thận trọng hơn. Lắm lúc vợ chồng ngoại tình trong tư tưởng về người tình cũ như trong một bài nhạc tình lãng mạn: “Phải chi em chưa có chồng, còn anh không là riêng ai, thì ngày nay duyên đôi mình không âm thầm, không ngăn cách, không đau thương!” Phải chi, phải chi!!!
Các sử gia đều đồng ý rằng vua Quang Trung Nguyễn Huệ là một vị vua lỗi lạc; chỉ tiếc rằng vua mất sớm. Nhà sử học Phan Huy Lê đã đánh giá "Quang Trung không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc mà còn là một nhà chính trị có biệt tài". Với nhãn quan tiến bộ, chỉ trong 3 năm, ông đã liên tiếp đề ra nhiều kế hoạch cải cách tiến bộ trong kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự,... nhằm xây dựng đất nước và tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại từ phương Tây
Viết về sự kiện này, sử gia Phạm văn Sơn đầy những lời nuối tiếc: “Nhưng nếu vua Quang Trung không mất sớm thì nhà Tây Sơn không phải chỉ để một võ công vĩ đại trên lịch sử là đuổi quân xâm lăng nhà Thanh mà thôi. Ví con người lỗi lạc, thông minh giàu sáng kiến và đảm lược ấy sống thêm ít năm nữa thì chính tình nước ta và cục diện Đông Nam Á rất có thể thay đổi lớn. Mông cổ vào làm vua đất Tàu, người Mãn ngự trị Hoa tộc, với Nguyễn Huệ chưa quá 7 ngày đã dẹp tan được 20 vạn quân Thanh, ai bảo rằng dân tộc Việt Nam sẽ chẳng có phần ăn nói trên lục địa của con cháu Hoàng Đế?” Một số chúng ta thầm nghĩ: Ôi, phải chi vua Quang Trung đừng chết sớm, chắc đất nước ta hôm nay đã trở nên một cường quốc.
Không một nhân vật nào trong KT CU, từ A-đam, E-va cho đến Nô-e, từ Áp-ra-ham, Lót cho đến Mô-se, từ vua Sau-lơ cho đến vua Đa-vít, Sô-lô-môn, lại không có những quyết định, hành động sai quấy, tội lỗi trong đời. Khi nhìn lại chắc chắn họ sẽ hối hận, tiếc nuối, và đều có câu hỏi phải chi.
Dĩ nhiên mọi người đều biết vì quyết định và chọn lựa của tổ phụ con người là A-đam & E-va làm trái lại lời ĐCT dặn chớ ăn trái cấm mà cả hai bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng. Cũng vì quyết định, chọn lựa đó mà cả loài người đều mang tội cùng ĐCT: phụ nữ phải mang nặng đẻ đau, nam giới phải vật vả với ruộng đất mới có thức ăn. Tôi nghe nhiều tín đồ than thở: phải chi hai người đó đừng phạm tội, thì chúng ta đâu đến nỗi khổ như vầy!
Nô-e là người đóng chiếc tàu lớn trước cơn đại hồng thủy hủy diệt cả loài người, ngoại trừ Nô-e và 7 người trong gia đình ông. KT viết về Nô-e như sau: Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va. 9 Nầy là dòng dõi của Nô-ê. Nô-ê trong đời mình là một người công bình và trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời. (STK 6:8-9) Trong 600 năm dài, ông trung tín bước đi với ĐCT. Nhưng sau cơn lụt lớn, khi nước đã rút khỏi đất, thì Nô-e lại sa ngã: Vả, Nô-ê khởi cày đất và trồng nho. 21 Người uống rượu say, rồi lõa thể ở giữa trại mình. (STK 9:20-21)
Nhưng khi thời gian qua đi rồi, không ai có thể trở ngược lại được để thay đổi quyết định đã chọn. Câu hỏi phải chi không thể thay đổi quá khứ, hay làm dịu lại cơn đau hiện tại. Chúng ta chỉ hy vọng khi đặt lại câu hỏi này thì có thể giúp chuẩn bị tốt hơn cho tương lai. Đây cũng là điều tôi hy vọng và cầu nguyện khi suy gẫm câu chuyện về sự xung đột dữ dội giữa hai sứ đồ của ĐCT là Phao-lô và Ba-na-ba trong CV 15:36-41.
Về Phao-lô
Thiết nghĩ hầu hết qv đây đều đã nghe giảng, đọc biết nhiều về PL nên tôi chỉ xin tóm tắt về vài điều về nhân vật quan trọng này trong KTTU và lịch sử HT. Không ai có thể phủ nhận rằng sứ đồ Phao-lô là người Cơ Đốc (Christian) vĩ đại, xuất chúng nhất sau ĐCJC. Ông đã đem Tin Lành từ những ngày tháng đầu tiên của lịch sử HT đến dân ngoại trong khắp vùng Trung Đông, Tiểu Á, Âu Châu và cả đến La-mã. PL là một người vô cùng thông minh (brilliant), can trường, cứng rắn, luôn giữ vững chí hướng (single-minded), quyết chí, từng trải. Một người hết lòng yêu mến và trung tín cùng Chúa và luôn yêu mến anh chị em trong Chúa và đặc biệt những người chưa Giu-đa biết Chúa. PL là một vĩ nhân không chỉ trong lịch sử HT nhưng còn trong lịch sử nhân loại.
Trong số 27 sách TU ông là tác giả của ít nhất 13 sách. Tính tất cả 3 chuyến truyền giáo bằng thuyền, hay đường bộ và chuyến hành trình cuối cùng từ Jerusalem đến Rome, ước tính PL đã đi hơn 13,000 miles! Khoảng cách giữa Sài Gòn và Los Angelos theo đường phi cơ khoảng 8,200 miles. PL đã đi gần 2 lần chuyến đường này!
Tuy vậy trước khi tin Chúa, PL là người tìm bắt những ai theo Chúa. Tay PL cũng dính máu của Ê-tiên khi ông cầm áo cho dân chúng ném đá Ê-tiên cho đến chết.
Về Ba-na-ba
Trước đoạn KT trong CV 15:36-41 đã đọc là thời gian PL đã hoàn tất chuyến truyền giáo thứ nhất và vừa trở về từ hội nghị tại thành Jerusalem cùng với một người bạn trong Chúa rất thân tín tên Ba-na-ba. Tên của ông có nghĩa là con trai của sự yên ủi (4:36) bởi vì ông thường động viên, yên ủi, khích lệ tín đồ. Theo CV 11:24 thì Ba-na-ba thật là người lành, đầy dẫy Thánh Linh và đức tin.
Chính Ba-na-ba là người giới thiệu PL đến các sứ đồ tại thành Jerusalem. Sau-lơ tới thành Giê-ru-sa-lem rồi, muốn hiệp với các môn đồ; nhưng hết thảy đều nghi sợ người, không tin là môn đồ. Ba-na-ba bèn đem người đi, đưa đến các sứ đồ và thuật lại cho biết thể nào dọc đường Chúa đă hiện ra và phải cùng người, lại thể nào người đă giảng dạy cách bạo dạn về danh Đức Chúa Jêsus tại thành Đa-mách. (9:27)
Khi không ai tin PL thì chính Banaba đã can đảm mà bảo chứng về sự thay đổi của PL cho các môn đồ. Đọc câu Ba-na-ba bèn đem người đi, đưa đến các sứ đồ và thuật lại cho biết thể nào dọc đường, quí vị nghĩ gì? Trước hết ông chủ động đến với PL, dẫn ông đến gặp các sứ đồ, là những cột trụ của HT đầu tiên, những người đã chính mắt thấy ĐCJC. Ba-na-ba lại còn mở lời, lấy danh dự, lấy tên tuổi của mình mà làm chứng cho PL, là một người vừa mới được Chúa cứu, vừa tin Chúa. Mấy ai muốn làm điều này với một tín đồ mới? Ba-na-ba có lẽ thấy được điều gì đó đặc biệt trong PL, thấy được điều lớn Chúa làm qua cuộc đời PL.
Vì vậy mà tên Ba-na-ba là con trai yên ủi. Khi mọi người ngờ vực, sợ hãi trước PL thì B. đã can đảm, cảm thông mà chấp nhận PL. Rồi bảo chứng cho người mới tin Chúa này. Có thể nào PL không nhớ về tình cảm đầu tiên này mà B. dành cho ông?
Độ 6 năm sau đó, cũng chính B. đã đi gần 450 miles từ Jerusalem đến một hội thánh phía bắc thuộc thành phố Antioch xứ Syria. Mục đích là để giúp cho hội thánh mới và gồm nhiều thành phần khác nhau. Không sai với tính tình như tên ông là người khích lệ, động viên, yên ủi: Khi người đến nơi và thấy ơn Đức Chúa Trời, bèn vui mừng và khuyên mọi người phải cứ vững lòng theo Chúa; vì Ba-na-ba thật là người lành, đầy dẫy Thánh Linh và đức tin. (11:23-24) Khi B. đến hội thánh Antioch thì có rất đông người tin Chúa.
Thay vì ở đó để làm việc một mình cho nổi danh, KT cho biết Kế đó, Ba-na-ba đi đến thành Tạt-sơ, để tìm Sau-lơ, tìm gặp rồi, bèn đưa đến thành An-ti-ốt. Trọn một năm, hai người cùng nhóm với Hội-thánh và dạy dỗ nhiều người. Ấy là ở thành An-ti-ốt, người ta bắt đầu xưng môn đồ là Cơ-rê-tiên. (11:25-26). Một lần nữa chúng ta thấy lòng rộng rãi của B. Ý thức ông cần sự giúp đở nên đi tìm PL và đem người đến HT Antioch để cùng nhóm và dạy. Tìm PL trong một thành phố gần 1/2 triệu dân không phải là điều dễ.
Chắc B. phải thấy có điều gì đặc biệt ở PL. Có thể B. biết rằng Chúa có thể dùng PL cho những việc rất lớn và khó của Ngài mà chưa ai có thể thực hiện được. Chính vì vậy ông mới bỏ rất nhiều thời gian, công khó để tìm cho được PL và thuyết phục ông về nhóm tại ht Antioch. Một lần nữa cũng chính B. là người đã đưa dẫn PL đến với các lãnh đạo và tín đồ HT Antioch. Và chính tại hội thánh này PL đã khởi xướng 3 cuộc truyền giáo. ĐCT đã dùng B. để đưa PL đến gặp các sứ đồ. Đến nhóm và gây dựng HT Antioch. Và dùng HT này như hội thánh nhà cầu nguyện, động viên, trợ giúp cho PL trong các cuộc truyền giáo.
Lắm khi chúng ta chỉ nhớ đến PL nhưng quên đi những Ba-na-ba, những người ĐCT dùng cách âm thầm nhìn thấy được đức tin, khả năng của một người Chúa dùng trong tương lai cho các việc lớn và khó. B. tượng trưng cho những tín đồ có ân tứ động viên, khích lệ, yên ủi. Những người có mắt nhìn sâu sắc về một người, biết được khả năng tìm tàng Chúa ban cho và khích lệ để họ có thể phát huy khả năng đó. Đây là những người đứng sau hậu trường nhưng quan trọng không kém gì người đứng trước hậu trường. Có thể nói nếu Chúa không dùng B. để tìm gặp PL thì có lẽ lịch sử hội thánh đã không như ngày nay.
Truyền Giáo
Rồi ĐCT gọi cả hai người vào cánh đồng truyền giáo. Chính hội thánh tại thành Antioch đã kiêng ăn, cầu nguyện rồi đặt tay trên hai người gởi cho đi ra truyền giáo. Nhưng chú ý sự kêu gọi, sự biệt riêng đến từ ĐCT: Đương khi môn đồ thờ phượng Chúa và kiêng ăn, thì Đức Thánh Linh phán rằng: hăy để riêng Ba-na-ba và Sau-lơ đặng làm công việc ta đă gọi làm. (13:2).
[4] Trong chuyến truyền giáo này họ đem theo một người trẻ tuổi tên là Giăng Mác (13:5). Vậy, Sau-lơ và Ba-na-ba đã chịu Đức Thánh Linh sai đi, bèn xuống thành Sê-lơ-xi, rồi từ đó đi thuyền đến đảo Chíp-rơ. Đến thành Sa-la-min, hai người giảng đạo Đức Chúa Trời trong các nhà hội của người Giu-đa; cũng có Giăng [Mác] cùng đi để giúp cho. Công Vụ 13:4-5
Nhưng không lâu sau đó Mác rời bỏ họ và trở về quê là thành Jerusalem Phao-lô với đồng bạn mình xuống thuyền tại Ba-phô, sang thành Bẹt-giê trong xứ Bam-phi-ly. Nhưng Giăng lìa hai người, trở về thành Giê-ru-sa-lem. (13:13) . Và Mác chính là nguyên nhân của sự tranh cải dữ dội giữa Ba-na-ba và Phao-lô đến nỗi mỗi người đi một đường.
Ai có thể ngờ được điều này? Chẳng phải cả hai đều đồng ý chọn Giăng Mác hay sao? Chẳng phải Mác, con của một gia đình tin kính Chúa là đối tượng lý tưởng cho cuộc truyền giáo hay sao? Cả hai người Ba-na-ba và PL đều nhằm về người trẻ tuổi này. Mác không chịu nổi sự khó nhọc hay đòi hỏi của công việc Chúa nên bỏ về nhà! Nhưng cám ơn Chúa câu chuyện về Giăng Mác không kết thúc tại đây. Mãi đến cuối đời của PL thì Mác là người hầu việc Chúa trung tín. Chúa cũng đã chọn ông để viết lại sách Phúc âm Mác.
CUỘC TRANH CẢI – MỌI NGƯỜI ĐỀU CÓ CÂU HỎI PHẢI CHI
CV 15:36 cho biết chính PL là người khởi xướng lời đề nghị trở lại các hội thánh đã lập trong cuộc truyền giáo thứ nhất để thăm viếng. Rồi đây là nguyên nhân của cuộc tranh cải: Ba-na-ba muốn đem theo Giăng cũng gọi là Mác. Nhưng Phao-lô không có ư đem Mác đi với, vì người đă lìa hai người trong xứ Bam-phi-ly, chẳng cùng đi làm việc với. [5b] Nhơn đó có sự căi lẫy nhau dữ dội, đến nỗi hai người phân rẽ nhau, và Ba-na-ba đem Mác cùng xuống thuyền vượt qua đảo Chíp-rơ. Còn Phao-lô sau khi đă chọn Si-la, và nhờ anh em giao phó mình cho ân điển Chúa, thì khởi đi. (15:37-40). Mác là cháu của Ba-na-ba (Col 4:10). Mẹ của Mác là chị hay em của Ba-na-ba.
Tại sao hai người tranh cải nhau về Mác? Vấn đề chính ở đây là một người khi đã bỏ công việc Chúa, trách nhiệm quan trọng khi làm việc Chúa thì có thể tin tưởng được cho lần nữa? B. chắc tin rằng cần cho người đó một cơ hội thứ hai. Nhưng PL có sự nghi ngờ và không tin như vậy.
Tính đến lúc này khi hai người tranh cải và lìa nhau thì B. & PL đã quen biết và hầu việc Chúa hơn 12 năm (38-52). Trong hơn 12 năm dài đó họ trải qua biết bao nhiêu tháng ngày hầu việc Chúa. Tại hội thánh Antioch, đem tiền cho các tín hữu nghèo khó tại Jerusalem, dự hội nghị đầu tiên tại Jerusalem, 2 năm trời sát cánh trong chuyến truyền giáo thứ nhất. Bao nhiêu khó nhọc, thử thách họ cùng nhau trải qua. Nay chỉ vì một việc như nhỏ: đem theo Giăng Mác lần nữa trong chuyến này, mà nảy ra việc tranh cải đến nỗi mỗi người đi một đường.
MỘT SỐ LÝ LẼ
Chúng ta thử nghĩ xem một số lý lẽ, biện luận giữa hai người.
Nhắc đến ân điển:
Đối với B., con trai yên ủi thì bởi vì ĐCT đã tha thứ cho chúng ta nên tại sao chúng ta lại không tha thứ cho Giăng Mác. Nếu Chúa đã cho chúng ta cơ hội lần 2, 3 tại sao chúng ta lại không cho anh em cơ hội?
Ba-na-ba: Anh PL, nếu Chúa không cứu anh thì làm sao anh có cơ hội hầu việc hôm nay? Nếu tôi không giới thiệu anh cho các sứ đồ thành Jerusalem và tìm anh ở thành Tạt-sơ rồi đem anh đến hầu việc tại hội thánh Antioch thì sao? Làm sao anh có cơ hội cùng tôi hầu việc Chúa trong cuộc truyền giáo thứ nhất? Vậy tại sao anh lại không cho Giăng Mác cơ hội lần thứ hai?
PL có thể trả lời như sau: Bộ anh không nghĩ tôi không hiểu và cảm tạ ân điển Chúa và sự tương trợ, nâng đở của anh sao? Dĩ nhiên tôi biết ơn Chúa và biết ơn anh. Nhưng đây là công việc của Chúa. Ba-na-ba, anh không nhớ rằng khi thuyền vừa đến xứ Bam-phi-li thì Mác đã bỏ chúng ta về Jerusalem. Nó chưa sẵn sàng cho việc truyền giáo khó nhọc. Mác đã bỏ chúng ta một lần, lý do gì anh nghĩ nó không bỏ chúng ta lần nữa? Chuyến đi lần này còn nhiều khó khăn, nguy hiểm hơn lần rồi, tôi không nghĩ rằng chúng ta nên đem theo Mác, một kẻ đã bỏ cuộc.
Nhắc Đến Tình Bạn:
Ba-na-ba: Tôi là cậu Giăng Mác. Mẹ nó là chị của tôi. Mẹ Mác mong muốn con mình hầu việc Chúa biết bao nhiêu. Tôi cũng muốn điều này nên đã cho Mác một cơ hội. Mác còn trẻ, dễ lỗi lầm. Chúng ta cần cho Mác nhiều cơ hội để em có thể hầu việc Chúa. PL, tôi và anh đã biết nhau và cùng hầu việc Chúa đến nay trên12 năm dài. Anh không nhớ đến lúc anh bị ném đá tưởng như đã chết tại thành Lystra sao? Dân đó tưởng anh chết nên kéo anh ra ngoài thành bỏ xác ngoài đó. Chính tôi là người chăm sóc cho anh. Chẳng phải chúng ta đã từng chia ngọt xẻ bùi, chịu nhiều thử thách, đồng cam cộng khổ hay sao? Chẳng phải tôi đã cùng sát cánh với anh trong những ngày gian khó trên dãy núi vùng Bi-si-đi hay tại đồng bằng xứ Bam-phi-li sao? Bao nhiêu ngày đêm PL tôi và anh đã khẩn thiết cầu nguyện cùng Chúa cho công việc Chúa dùng chúng ta? Chúng ta cùng cười, cùng khóc, cùng chia xẻ với nhau miếng bánh, ca nước. Tại sao anh không nhớ về những ngày tháng đó mà vì tôi mà để Giăng Mác cùng đi với chúng ta?
Phao-lô: Tôi yêu mến và quí trọng anh biết bao Ba-na-ba. Chúa biết. Chính anh cũng biết. Tôi nợ anh một món nợ rất lớn vì đã đem tôi đến với công việc Chúa. Nhưng tôi không tin rằng chúng ta nên đem theo Giăng Mác. Mác sẽ bỏ chúng ta lần nữa. Hãy nghĩ đến hậu quả của việc này. Nếu Mác bỏ việc Chúa lần nữa, các tín đồ, những người cùng hầu việc Chúa, cùng đi với chúng ta sẽ nghĩ sao? Các tín đồ tại các hội thánh địa phương sẽ nghĩ sao? Đức tin của họ sẽ bị ảnh hưởng thế nào? Tôi không nghĩ anh nên dẫn theo Mác chỉ vì nó là cháu anh hay bởi vì mẹ Mác hầu việc Chúa. Mỗi người phải có trách nhiệm cho chính đời mình và cho chính quyết định của mình.
Rồi cuộc đối thoại trở nên cuộc tranh cải, ngày càng dữ dội.
Bực dọc, thất vọng rồi tấn công, buộc tội
Ba-na-ba: Quả thật anh là người khó khăn, không có chút tình cảm gì cả. Nếu anh không cho Giăng Mác cơ hội thứ hai thì làm sao anh có thể làm việc với những người trẻ tuổi. Khi còn trẻ, chẳng phải anh cũng ngông cuồng, bắt bớ đạo Chúa, thậm chí tay anh dính máu của Ê-tiên. Bộ anh không nghĩ rằng tất cả chúng ta đều có lúc yếu đuối, nhẹ dạ, có lúc muốn bỏ cuộc hay sao? Chẳng phải ĐCJC chúng ta cho Phi-e-rơ và các sứ đồ cơ hội thứ hai sau khi anh ấy chối Ngài hay sao? Không phải Chúa dạy chúng ta phải tha thứ cho anh em mình 70 lần 7 hay sao? Anh có đọc qua sách Hô-se mà. Anh biết câu chuyện trong sách về tình yêu thương bao la của Giê-hô-va mà. Tại sao lòng của anh cứng cỏi đến như vậy? Tại sao anh không nghe lời khuyên lơn của ai vậy?
Phao-lô: Chúa chúng ta là Đấng Vô Lượng, Vô Biên. Ngài biết rõ mọi người. Nên Chúa cho Phi-e-rơ và chúng ta cơ hội để thay đổi. Chúng ta là thường nhân không biết rõ lòng người. Chúa đã ủy thác trách nhiệm và bổn phận truyền giáo cho dân ngoại cho anh và tôi. Đây là việc vô cùng hệ trọng và khó khăn. Chúng ta phải lấy làm trọng, không nên xem thường mà thử hết người nầy đến người kia. Thời gian không còn nhiều mà cánh đồng thì quá lớn. Chúng ta cần phải làm việc cách khôn ngoan, hữu hiệu để đạt kết quả cho Chúa. Tôi nghĩ anh để tình cảm với Giăng Mác lấn áp lý trí, suy nghĩ, quyết định của anh rồi Ba-na-ba. Hãy tỉnh trí lại mà nghe tôi: để Giăng Mác lại trong cuộc truyền giáo này. Đừng để con tim, tình cảm làm mù suy nghĩ anh.
Rồi chúng ta đọc câu KT hết sức đáng buồn: Nhơn đó có sự căi lẫy nhau dữ dội, đến nỗi hai người phân rẽ nhau, và Ba-na-ba đem Mác cùng xuống thuyền vượt qua đảo Chíp-rơ. Còn Phao-lô sau khi đã chọn Si-la, và nhờ anh em giao phó mình cho ân điển Chúa, thì khởi đi. (15:39-40). Đây cũng là lần cuối cùng KT nói về cả hai Ba-na-ba và Phao-lô.
Ba-na-ba dẫn Mác đi theo đường biển về quê hương ông là đảo Chíp-rơ. Còn Phao-lô dẫn Si-la đi đường bộ theo phía bắc về quê hương là thành Tạt-sơ.
TẠI SAO CHÚA LẠI ĐỂ VIỆC XẢY RA, AI ĐÚNG AI SAI?
Khi đọc qua câu chuyện này, câu hỏi đầu tiên thường là Tại sao ĐCT lại để việc này xảy ra và Ai đúng, Ai sai? Kinh Thánh không hề cho biết lý do, cũng không hề phân tích hay giải thích ai đúng ai sai.
Chúng ta đều có thể liên hệ được những lý lẽ của hai người nêu trên. Phải chăng cả hai đều được Chúa gọi và chọn để hầu việc Ngài? Đúng vậy. Phải chăng cả hai đều là người gương mẫu, trưởng thành trong Chúa? Dĩ nhiên. Phải chăng cả hai đều biết và hiểu rõ Kinh Thánh? Rõ ràng.
Vậy tại sao họ không thể đồng ý với nhau? Tại sao không thể giải hòa với nhau? Các tín đồ hội thánh thành Antioch suy nghĩ và đánh giá họ thế nào? Hội thánh hỏi sao không thể bỏ qua việc nhỏ này mà cùng tiếp tục hầu việc Chúa?
Quí vị chớ ngạc nhiên khi nghe rằng vâng ngay cả trong vòng tín đồ, ngay cả những người trưởng thành, chính chắn, tận tụy, dâng hiến cả đời cho công việc Chúa, vẫn có sự bất hòa trong nhiều vấn đề khác nhau. Cả vợ chồng, anh chị trong gia đình cũng có sự bất hòa. Trong việc nhỏ như mua xe màu gì, sơn phòng màu gì, thay thảm loại nào. Đến việc lớn như hôn nhân, công việc, nơi thờ phượng.
Nhưng đến nỗi phân rẽ nhau? Trong hôn nhân như cách ly hay ly dị. Trong thương mãi như xé bỏ hợp đồng và mỗi người đi một đường. Trong gia đình, một chia cách mà không có ngày trở lại. Trong tình bạn, một quan hệ tan vỡ không nối lại được: chúng ta mất một người bạn vĩnh viễn. Trong một hội thánh, hai nhóm người tách rời cùng nhau không có thể cùng thờ phượng chung trong cùng một hội thánh.
Ai đúng ai sai? Ai phải ai quấy? Đây là một cách nhìn bình thường của con người chúng ta.
Nhưng có thể có một góc nhìn khác, một dự tính khác của ĐCT mà chúng ta không hiểu hết. Không phải đúng sai, phải quấy nhưng cho công việc lớn và khó của Ngài.
Một học giả TU rất nổi tiếng tên A.T. Roberson viết về sự việc này như sau: Không ai có thể đổ lỗi cách chính đáng cho Ba-na-ba về việc cố cho cháu mình là Giăng Mác một cơ hội thứ hai. Cũng không thể trách Phao-lô về việc không dám dùng Mác lần nữa. Lý trí chúng ta có thể đồng ý với Phao-lô nhưng con tim và tình cảm với Ba-na-ba.
Hai đầy tớ trung tín, từng trải, kinh nghiệm, nhiệt tâm với hai người trẻ tuổi cần được huấn luyện đi hai đường. Họ vẫn tiếp tục trung tín hầu việc Chúa, và làm sáng danh Ngài.
BÀI HỌC – CHỚ ĐỂ QUÁ KHỨ GIAM CẦM HIỆN TẠI
Tôi tin chắc rằng dù sau nhiều năm tháng mỗi khi nghĩ lại cả hai đều cảm thấy bùi ngùi và hối hận. Hai lần sau này PL đề cập đến tên của người bạn thân yêu này trong thư gởi cho hội thánh Cô-rinh-tô và Cô-lô-se (1 Cor 9:6, Col 4:10) Hai thư đó được viết khoảng 6 đến 10 năm sau khi sự chia cách này xảy ra!
Thời gian có thể làm nguôi ngoa nỗi đau đớn, mất mát nhưng không thể xóa đi hết kỷ niệm. Có thể vì sự việc này mà PL được thúc đẩy để viết về tình yêu thương: Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhơn từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ, chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. Tình yêu thương chẳng hề hư mất bao giờ. (1 Cor 13:4-8)
Một số quí vị có thể thiên về phía PL. Một số về phía Ba-na-ba. Một số cho rằng cả hai đều lỗi. Còn tôi, tôi sẽ cho quí vị biết suy nghĩ tôi… khi chúng ta gặp nhau trên thiên đàng (chỉ đùa!) KT không hề có phần phụ chú, ý kiến về việc này. Chúa chọn sự việc này xãy ra và để bác sĩ Lu-ca ghi lại nhưng không hề giải thích hay phân tích thêm. Dù nghĩ thế nào, thì chúng ta đều có thể rút ra vài bài học quan trọng qua câu chuyện này.
Trong rất nhiều vấn đề, trở ngại, bất hòa trong đời sống chúng ta cần xác nhận rõ rằng hiếm khi, nếu có thể nói là không có, những việc này được giải quyết cách hoàn toàn thỏa đáng cho cả hai bên. Lắm khi chúng ta chỉ phải chấp nhận kết quả (hay hậu quả) sau khi đã cố hết sức để giải quyết, chứ không thể như ý mình muốn.
Tuy vậy qua sự bất hòa, chia cách này, Chúa dùng cả hai Phao-lô, Si-la và Ba-ba-na, Giăng Mác cho việc truyền bá Tin Lành. Trong ân điển Chúa sẽ dùng mọi hoàn cảnh, sự việc dù tốt xấu thế nào để hiệp lại làm ít cho những người yêu mến Ngài: Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đă định (Rôma 8:28). Điều kiện chính yếu và quan trọng ở đây là cho người yêu mến Chúa và được gọi theo ý muốn Ngài.
Chúng ta cần cẩn thận trong việc đánh giá, phán xét, chỉ trích, phê bình. E như lời Chúa dạy: Vì các ngươi đoán xét người ta thể nào, thì họ cũng đoán xét lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy. Sao ngươi ḍm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, mà chẳng thấy cây đà trong mắt mình? (Mathiơ 7:2-3). Phải hết sức cẩn thận mà chớ cả quyết về việc đúng sai.
Tôi tin mỗi chúng ta đều có thể đồng cảm cùng cả Phao-lô và Ba-na-ba. Có lúc chúng ta lắng nghe tiếng nhỏ nhẹ, êm dịu của tình cảm, của con tim. Và có lúc chúng ta khăng khăng nhất định giải quyết vấn đề theo lý lẽ.
Có lẽ một bài học là chúng ta cần cả hai, cần sự quân bình của cả con tim và lý trí.
Cũng có thể một bài học nữa là như lời Sô-lô-môn dạy: Phàm sự gì có thì tiết; mọi việc dưới trời có kỳ định. (TĐ 3:1). Có lúc cương cũng có lúc nhu. Có lúc tình cảm cũng có lúc lý trí. Có lúc nắm giữ, có lúc bỏ đi. Có lúc hợp lại nhưng cũng lúc chia tay.
Chúng ta cần chấp nhận sự thật trong đời sống, trong công việc Chúa là không thể hoàn toàn giải quyết mọi vấn đề, mọi khác biệt, mọi bất hòa theo ý nguyện của mình. Vì vậy PL sau này viết: Nếu có thể được, thì hăy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người. (Rô-ma 12:18) Vậy chúng ta hăy tìm cách làm nên hòa thuận và làm gương sáng cho nhau. (Rô-ma 14:19). Chúng ta chỉ có thể làm hết sức mình mà hòa thuận với mọi người. Hết sức mình có nghĩa là mỗi chúng ta đều có trách nhiệm trước Chúa sống hòa thuận. Còn việc người khác đem đến bất hòa là điều lắm khi không tránh được.
Một lời dạy rất ý nghĩa cho bài học này: In essential unity, in non-essential liberty, in all things, charity (Trong việc trọng yếu, hiệp một; trong việc thứ yếu, tự do; trong mọi việc, yêu thương). Chúng ta cần phân biệt điều gì là trọng yếu, điều gì thứ yếu, không quan trọng.
Hành động của người tin Chúa không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân, người chung quanh nhưng còn cả đến những người chưa tin Chúa. Sự bất hòa trong vòng tín hữu có thể đem đến danh xấu cho Chúa, cho hội thánh.
Trong Phi-líp 3:12 PL viết: Ấy không phải tôi đă giựt giải rồi, hay là đă đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đương chạy hầu cho giựt được, vì chính tôi đă được Đức Chúa Jêsus Christ giựt lấy rồi. Hỡi anh em, về phần tôi, tôi không tưởng rằng đă đạt đến mục đích, nhưng tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ.
Chúng ta dâng lời tạ ơn ĐCT vì sự nhân từ, thành tín với HT Ngài, vì vẫn tiếp tục cho phép chúng ta dự phần vào công việc xây dựng HT dù đã vi phạm rất nhiều điều trong đời sống, trong công việc phục vụ. Mọi vinh hiển đều thuộc về Chúa chúng ta.
