Câu Chuyện Về Hai Dòng Dõi
Gia đình là đơn vị nền tảng và quan trọng nhất trong xã hội. Chế thể đầu tiên ĐCT thiết lập là gia đình sau khi tạo dựng A-đam & E-va và kết hợp họ qua hôn nhân. Trước khi các chế thể, chính quyền, hệ thống chính trị được tạo dựng đã có gia đình; trước khi có các tổ chức tôn giáo, hệ phái đã có gia đình. Tất cả các chế thể, chính quyền, hệ thống chính trị, tổ chức xã hội, từ thiện, tôn giáo rồi sẽ mất, nhưng chắc chắn gia đình vẫn còn tồn tại cho đến khi ĐCJC trở lại. Khi gia đình tan rã, xã hội tan rã, chính quyền tan rã, đất nước tan rã.
Sau khi lừa dối E-va làm cho bà nghi ngờ tình yêu thương của ĐCT và làm cho cả 2 sa ngã, phạm tội cùng ĐCT, rồi bị đuổi khỏi vườn E-đen, Sa-tan tấn công gia đình. Câu chuyện quen thuộc giữa Ca-in và A-bên, 2 người con đầu tiên của E-va & A-đam. Ca-in là anh trưởng và A-bên là em kế. Một chiến lược độc hại của ma quỉ để phá hủy, giết hại đời sống tâm linh một người, làm ta rã gia đình, bè bạn, và HT. Chiến lược đó là lòng ghen tức. Vì lòng ghen tức khi biết ĐCT nhận của lễ dâng của em mình nhưng từ chối của mình nên Ca-in căm giận, rồi giết chết em mình: Cớ sao ngươi giận, và cớ sao nét mặt ngươi gằm xuống? 7 Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành, thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó (4:6-7)
Hôm nay gia đình đang bị tấn công đủ mọi bề. Định nghĩa hôn nhân. Chủ nghĩa cá nhân độc lập.
Ma quỉ xúi dục sự ghen tức sinh ra hành động thù ghét, giết người. Nhưng một chiến lược tinh vi hơn, xảo quyệt bao nhiêu lần hơn là đặt sai ưu tiên trong đời sống. Mục đích của bài giảng hôm nay là để giải thích một chiến lược hết sức xảo quyệt của ma quỉ: Ưu tiên trong đời sống. Ma quỉ muốn qv, như Ca-in và dòng dõi, đặt vật chất là ưu tiên hàng đầu trong đời sống. Nó muốn qv sống, suy nghĩ, hành động như dòng dõi Ca-in, thay vì như Sết và dòng dõi ông đặt ĐCT quan trọng hơn hết trong đời sống.
Để cả dòng sông trở nên dơ bẩn, độc hại thì chỉ cần làm đục, làm độc từ nguồn. Khi nguồn của sông đã bị dơ, bị độc thì có khúc sông nào an toàn! Nếu không làm dơ nguồn nước thì ít nhất cũng làm dơ khúc sông nào đó từ trên chảy xuống. A-đam & E-va là tổ phụ của loài người nên khi họ bị ma quỉ cám dỗ rồi phạm tội thì cả loài người đều mang tội tổ tông. Muốn hại con cháu ma quỉ sẽ hại ông bà, cha mẹ. Qv cũng sẽ thấy ma quỉ cũng tiếp tục mưu kế thâm độc này với Ca-in và Sết (chúng ta sẽ nghe về Sết), là hai anh em ruột thịt, con của A-đam & E-va.
Dù cùng chung cha mẹ, chung dòng máu nhưng quyết định, sự lựa chọn trong đời sống của Ca-in và Sết hoàn toàn khác biệt. Qv cũng sẽ thấy vì sự khác biệt đó mà dòng dõi, con cháu, hậu tự của hai người cũng sẽ đi theo hai con đường hoàn toàn khác nhau. Tiếng Anh có một thành ngữ: Trái táo không rớt xa cây (Apples do not fall far from the tree). Chúng ta sẽ đọc lời Chúa trong STK 4 từ câu 17-26. [Đọc STK 4:17-26]
Đoạn KT này nói về hai giòng dõi sau khi Ca-in đã giết em là A-bên và bị Chúa đuổi ra khỏi mặt Ngài. 17-24 về giòng dõi Ca-in và 25-26 về Sết, một người con trai sinh thêm cho A-đam & E-va. Và cả STK 5 viết về con cháu, hậu tự của Sết.
Khi đọc về giòng dõi Ca-in, tôi thường nghe hỏi: Vợ của Ca-in từ đâu ra? Khi Ca-in xây thành, ai, bao nhiêu người ở trong đó? Một nguyên tắc rất quan trọng khi đọc, học KT: KT hết sức chọn lọc và không đề cập đến những chi tiết không quan trọng đến mục đích của sách. Ví dụ như khi đọc 4 sách Phúc Âm. Sách Mác rất ít chi tiết về một câu chuyện; nhưng khi kể lại cùng một câu chuyện Lu-ca lại nhiều chi tiết hơn. Tại sao? Vì mỗi sách có một mục đích dành cho đối tượng khác nhau.
Mục đích của STK 4-5 không phải để cho biết về thân thế, lý lịch, quê quán của các nhân vật được nêu ra. Mục đích là nhằm dạy cho chúng ta những bài học quan trọng hơn về quan hệ với ĐCT, về 2 sự khác biệt về ưu tiên trong đời sống, về quan hệ với ĐCT giữa 2 giòng dõi tượng trưng cho hai nhóm người: ĐCT là ưu tiên hàng đầu trong đời sống hay vật chất là ưu tiên hàng đầu. Ba điều trong bài giảng này: 1) Ưu tiên (những điều quan trọng nhất) của dòng Ca-in; 2) Ưu tiên của dòng Sết; 3) Câu chuyện về hai dòng dõi, hai thành phố.
ƯU TIÊN (NHỮNG ĐIỀU QUAN TRỌNG NHẤT) CỦA DÒNG CA-IN
Sau khi Ca-in giết em mình A-bên vì lòng ghen tức ĐCT nhận lễ dâng của em nhưng lại từ chối của mình, Chúa phạt Ca-in: Bây giờ, ngươi sẽ bị đất rủa sả, là đất đã hả miệng chịu hút máu của em ngươi bởi chính tay ngươi làm đổ ra. Khi ngươi trồng tỉa, đất chẳng sanh hoa lợi cho ngươi nữa [trừng phạt của Adam]; ngươi sẽ lưu lạc và trốn tránh, trên mặt đất. (4:11-12)
Ca-in không hề bày tỏ sự ăn năn, hối hận vì tội ác đã phạm. Trái lại ông ta thán về sự trừng phạt của ĐCT quá nặng cho mình: “Hình phạt nầy quá sức chịu đựng của con. Nhưng trong sự trừng phạt này Chúa ban cho Ca-in cơ hội để ăn năn, thay đổi. ĐCT còn bảo vệ Ca-in bằng một dấu trên người ông. Nếu ai giết hại Ca-in thì họ sẽ bị trừng phạt gấp 7 lần tội ác. Khi đất chẳng sanh hoa lợi, khi phải lưu lạc, trốn tránh, biết đâu Ca-in nghĩ lại về tội ác mình đã phạm mà ăn năn, đến với cha mẹ xin tha thứ, đến với ĐCT xin tha thứ. Tuy nhiên, Ca-in không hề bày tỏ sự ăn năn, hối hận vì tội ác đã phạm, dù 1 lần!
KT viết sau khi ra khỏi mặt ĐCT, Ca-in ở tại xứ Nốt, về phía đông của Ê-đen. Có thể sau một thời gian lưu lạc, trốn tránh nhưng cuối cùng định cư tại xứ Nốt (có nghĩa là lưu lạc, wandering). Dù có thể nơi đây là đất của những kẻ lưu lạc, trốn tránh đến ẩn náo một thời gian rồi đi, nhưng Ca-in không làm như vậy mà lại định cư tại đất này. Đoạn, Ca-in ăn ở cùng vợ mình, nàng thọ thai và sanh được Hê-nóc; Ca-in xây một cái thành đặt tên là Hê-nóc, tùy theo tên con trai mình. (4:17).
Việc Ca-in lấy vợ là ưu tiên là việc dễ hiểu: để có bầu bạn, để sinh con cháu. Nhưng tại sao Ca-in lại xây thành? Chẳng phải ĐCT phạt ông phải lưu lạc và trốn tránh trên mặt đất hay sao? Ngày xưa thành là hình ảnh, biểu tượng của sự bảo vệ, che chở, nơi an ninh. Thành cũng là nơi định cư của bao nhiêu người mệt mỏi vì cuộc sống rày đây mai đó, như Ca-in. Thành là nơi có nhà ở gia đình, bè bạn.
Tôi nghĩ KT viết chi tiết này để tỏ một ý rằng Ca-in theo ý riêng mình, quyết định, hành động để thay đổi sự trừng phạt của ĐCT qua việc làm, công sức của chính mình. Chắc Ca-in mệt mỏi, bực tức, chán ngán với sự trừng phạt phải lưu lạc, trốn tránh trên đất nên quyết định xây thành để được bảo vệ, để định cư. Thay vì tin vào sự bảo vệ của ĐCT qua dấu trên người, Ca-in xây thành để tự bảo vệ mình. Thay vì phải lưu lạc, trốn tránh trên đất như lời phạt của ĐCT, Ca-in xây thành để định cư, không phải trốn tránh nữa. Thay vì cầu khẩn với ĐCT xin tha thứ (không một nơi nào viết về lời thú tội, ăn năn, xin tha thứ của Ca-in!) và xin Chúa giảm sự trừng phạt, thì Ca-in làm theo ý mình, xây thành để thay đổi lời phán của ĐCT. Để tôi liên hệ điều này với xã hội hôm nay để qv có thể hiểu rõ ý này.
Hôm nay loài người hãnh diện, tự hào về khoa học, kỷ thuật, y tế có thể thay thế ĐCT. Đất bị rủa sả, không sinh cây trái thì có máy cày, có thuốc rầy, phân bón. Thay vì phải lưu lạc thì xây các thành phố lớn như Sài Gòn, New York để hàng bao triệu người có thể định cư. Y khoa giải quyết mọi tật bệnh. Đời sống xã hội văn minh hơn nên ai cần đến ĐCT. Nếu ĐCT có trừng phạt thì con người vẫn có thể giải quyết hậu quả của sự trừng phạt đó.
Ưu tiên đầu tiên của Ca-in là lấy vợ, sinh con, rồi lập một thành hay một nơi cố định khác với cuộc sống lưu lạc, trốn tránh khi bị Chúa phạt. Đây là lần đầu tiên KT nói về thành, một nơi ở cố định của loài người. Ưu tiên này có khác gì với ưu tiên của hầu hết mọi người không tin Chúa? Ưu tiên đó là về mình, về gia đình mình. Ưu tiên đó là về việc lập gia đình, sinh con cái, rồi lập thành. Thành là kết quả do chính công sức con người khó nhọc tạo ra. Thành cũng là nơi dân cư sinh sống, làm ăn buôn bán, nơi phát triển văn hóa, công nghệ, kỷ thuật, âm nhạc.
Nếu Ca-in là người đã lập thành thì con cháu của Ca-in là những người phát triển thành. Gia-banh [CON LÊ-MÉC, ĐỜI THỨ 7 TỪ A-ĐAM, CHÁU CA-IN, ĐỜI THỨ 3] là tổ phụ của các dân ở trại và nuôi bầy súc vật. 21 Em người là Giu-banh, tổ phụ của những kẻ đánh đàn và thổi sáo. 22 Còn Si-la cũng sanh Tu-banh-Ca-in là người rèn đủ thứ khí giới bén bằng đồng và bằng sắt. (4:20-22). Trại bảo vệ khỏi nắng mưa, để có đời sống riêng tư cho cá nhân hay gia đình. Súc vật là tài sản để so biết giàu nghèo, thành công, thất bại. Đàn, sáo, âm nhạc đem đến giải trí cho đời sống, làm cho tâm hồn, trí tuệ thư thả. Nơi nào có âm nhạc là nơi mọi người tập hợp để nhảy múa, ca hát, tìm vui, giải trí. Cuộc đời mà thiếu Thúy Nga Paris hay các show như ở Las Vegas thì còn gì gọi là đời sống hưởng thụ cho được! Rồi chế đúc khí giới bằng đồng, bằng sắt để bảo vệ thành, bảo vệ gia đình, chi tộc nhưng cũng để gây chiến cướp thành kẻ khác.
Ca-in chắc hảnh diện, tự hào lắm về những thành quả do chính ông và hậu tự của ông tạo nên. Ca-in là người đầu tiên sáng lập thành phố, một nơi để bao nhiêu người du mục mệt mỏi với cuộc sống lưu lạc, rày đây mai đó, có thể đến định cư sinh sống, làm ăn, buôn bán, để được an ninh. Con cháu Ca-in tạo ra nền kinh tế, thương mãi, văn hóa, âm nhạc, nghệ thuật và cả các dụng cụ bằng đồng, bằng sắt cùng vũ khí cho quân đội. Chẳng phải kinh tế, thương mãi, quân đội, vũ khí, văn học, nghệ thuật, âm nhạc là những điều xã hội loài người từ xưa đến nay đều lấy làm hãnh diện hay sao? Chẳng phải mục đích chính yếu của con người, xã hội, quốc gia là ngày càng phát triển những điều này hay sao?
HK hãnh diện về một quân đội với những vũ khí tối tân nhất thế giới. Việt Nam hãnh diện với truyền thống, lịch sử 4000 năm văn hiến. Âu Châu hãnh diện với nền văn hóa, âm nhạc, nghệ thuật từ xưa đến nay. Trung Quốc hãnh diện với sự phát triển kinh tế vượt bực từ mấy mươi năm nay. Dân chúng từ các vùng thôn quê, thiếu thốn, kém văn minh mong ước được đến thành phố lớn để tìm việc làm, kiếm sống, để mong con cháu sẽ trở nên dân thành thị văn minh, học thức, am tường nghệ thuật.
Tất cả những điều này là ưu tiên trong đời sống hằng ngày, là ưu tiên cho mục đích cuộc đời của hằng bao nhiêu tỉ, tỉ người trên đất: Thịnh vượng về vật chất + An ninh, trật tự + Văn hóa, nghệ thuật phong phú. Có xã hội, quốc gia không muốn tìm kiếm những điều này!
KT cho biết ĐCT ban cho con người ân điển, 2 loại ân điển: ân điển chung cho mọi người; ân điển đặc biệt cho người tin Chúa (sự ban cho ĐTL)!
Tôi muốn giải thích rõ để qv khỏi hiểu lầm: kinh tế, âm nhạc, văn hóa, an ninh, những điều Ca-in và con cháu ông xây dựng, tự nó không có gì là sai quấy, tội lỗi cả. Nhưng việc đặt ưu tiên hàng đầu chạy đuổi theo những điều này cho đời sống mà quên đi ĐCT là điều tội lỗi.
ĐCJC kể một câu chuyện như sau trong Lu-ca 12:16-20: Ruộng của một người giàu kia sinh lợi nhiều lắm, 17 người bèn tự nghĩ rằng: Ta phải làm thể nào? Vì không có đủ chỗ chứa hết sản vật. 18 Lại nói: Nầy, việc ta sẽ làm: ta phá cả kho tàng và cất cái khác lớn hơn, thâu trữ sản vật và gia tài vào đó; 19 rồi sẽ nói với linh hồn ta rằng: Linh hồn ơi, mầy đã được nhiều của để dành dùng lâu năm; thôi, hãy nghỉ, ăn uống, và vui vẻ. 20 Song Đức Chúa Trời phán cùng người rằng: Hỡi kẻ dại! Chính đêm nay linh hồn ngươi sẽ bị đòi lại; vậy những của cải ngươi đã sắm sẵn sẽ thuộc về ai? 21 Hễ ai thâu trữ của cho mình mà không giàu có nơi Đức Chúa Trời thì cũng như vậy.
ĐCJC cũng dạy: Ấy vậy, các ngươi chớ lo lắng mà nói rằng: Chúng ta sẽ ăn gì? uống gì? mặc gì? 32 Vì mọi điều đó, các dân ngoại vẫn thường tìm, và Cha các ngươi ở trên trời vốn biết các ngươi cần dùng những điều đó rồi. 33 Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa. (Ma-thi-ơ 6:31-33)
Ma quỉ sẽ động viên, khích lệ, vui mừng, cổ võ để cả người chưa tin Chúa lẫn người tin Chúa chú tâm 100%, 110% vào những ưu tiên này cho đời sống. Nhưng ưu tiên quan trọng nhất trong đời sống không phải là ưu tiên của dòng Ca-in. Ưu tiên về tiện nghi, vật chất cho chính bản thân mình hay gia đình mình, là ưu tiên hàng đầu của Ca-in và dòng dõi ông. CS Lewis viết: Hướng về Trời và bạn sẽ được đất thêm vào; hướng về đất bạn sẽ không được gì. Jim Elliot: Một người không dại khi cho đi những gì không thể giữ để nhận được những điều không thể mất đi. (He is no fool who gives what he cannot keep to gain what he cannot lose)
Trong số con cháu của Ca-in có một người tên Lê-méc, đời thứ 7 từ A-đam. KT viết về nhân vật này: Lê-méc bèn nói với hai vợ mình rằng: Hỡi A-đa và Si-la! hãy nghe tiếng ta; Nầy, vợ Lê-méc hãy lắng tai nghe lời ta: Ừ! Ta đã giết một người, vì làm thương ta, Và một người trẻ, vì đánh sưng bầm ta. 24 Nếu Ca-in được bảy lần báo thù, Lê-méc sẽ được bảy mươi bảy lần báo oán. (4:23-24)
Đây là lần đầu tiên KT viết về 1 người 2 vợ! Lần tới ai có 2 vợ, qv biết người đó thuộc dòng dõi Ca-in và học từ gương Lê-méc! Một bài học rõ trong STK và cả KT là việc đa thê chỉ đem lại những hậu quả tai hại, cho chỉ cho thế hệ hiện tại nhưng cả đến hậu tự mai sau.
A-đa có nghĩa là đồ trang sức để làm cho đẹp của người phụ nữ; Si-la là bóng che, hay đồ đội che đầu. The names of his wives and daughter show the emphasis in his heart: Adah means, “pleasure, ornament, or beauty.” Zillah means, “shade” probably referring to a luxurious covering of hair. His daughter’s name was Naamah, which means, “loveliness. (yêu kiều)” Lamech’s culture was committed to physical and outward beauty.
Những lời của Lê-méc cùng 2 người vợ ông thật ra là một bài hát. Lê-méc đặt một bài hát về sự trả thù 70 lần 7 của mình với một đứa trẻ đánh ông. Khó có thể tưởng tượng một người hát khoe cùng vợ mình về sự trả thù gấp 70x7 chỉ vì một lỗi phạm nhẹ cùng mình như Lê-méc. ĐCT phán ai giết Ca-in sẽ bị trừng phạt gấp 7 lần nhưng Lê-méc còn hơn 10 lần ĐCT về sự trừng phạt.
Trước đó Ca-in, tổ phụ của Lê-méc không hề nhận tội giết em mình mà chỉ than vãn về sự trừng phạt không mang nổi của ĐCT. Nhưng đến đời thứ 7 của con cháu Ca-in, thì Lê-méc không những không nhận tội nhưng còn xem sự trả thù bội lần, 70 lần 7, như niềm hãnh diện của anh hùng. Hãnh diện đến nỗi hát kể cho vợ nghe về thành tích đó. Lê-méc tuyên án thay cho ĐCT và tăng lên gấp 10 lần!
KT dạy gì về sự trả thù? Người tin Chúa không trả thù, mà để việc đó cho ĐCT. Vài câu KT: Chớ có lòng ghen ghét anh em mình; hãy sửa dạy kẻ lân cận mình, đừng vì cớ họ mà phải mắc tội. 18 Chớ toan báo thù, chớ giữ sự báo thù cùng con cháu dân sự mình; nhưng hãy yêu thương kẻ lân cận ngươi như mình: Ta là Đức Giê-hô-va. (Lê-vi-ký 19:17-18)
Chớ nói: Ta sẽ trả ác. Hãy chờ đợi Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ cứu rỗi con. (CN 20:22)
Các ngươi có nghe lời phán rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. 39 Song ta bảo các ngươi, đừng chống cự kẻ dữ. Trái lại, nếu ai vả má bên hữu ngươi, hãy đưa má bên kia cho họ luôn; 40 nếu ai muốn kiện ngươi đặng lột cái áo vắn, hãy để họ lấy luôn cái áo dài nữa; 41 nếu ai muốn bắt ngươi đi một dặm đường, hãy đi hai dặm với họ. (Ma-thi-ơ 5:38-41)
Nhưng ta phán cùng các ngươi, là người nghe ta: Hãy yêu kẻ thù mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, 28 chúc phước cho kẻ rủa mình, và cầu nguyện cho kẻ sỉ nhục mình. (Lu-ca 6:27-28)
Chớ lấy ác trả ác cho ai; phải chăm tìm điều thiện trước mặt mọi người. 18 Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người. 19 Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi ơi, chính mình chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời; vì có chép lời Chúa phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta, ta sẽ báo ứng. 20 Vậy nếu kẻ thù mình có đói, hãy cho ăn; có khát, hãy cho uống; vì làm như vậy, khác nào mình lấy những than lửa đỏ mà chất trên đầu người. 21 Đừng để điều ác thắng mình, nhưng hãy lấy điều thiện thắng điều ác. (Rô-ma 12:17-21)
Lê-méc giết đứa trẻ đánh mình để trả thù và hứa sẽ trả thù 70x7 ai động đến ông. ĐCJC dạy môn đồ Ngài phải tha thứ 70x7 lỗi lầm anh chị em mình phạm cùng mình và chớ trả thù, dù trong ý tưởng, trong suy nghĩ, hay qua mưu kế, hành động. Phi-e-rơ bèn đến gần Đức Chúa Jêsus mà hỏi rằng: Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng? 22 Ngài đáp rằng: Ta không nói cùng ngươi rằng: đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy. (Matt 18:21-22)
Thành Ca-in dựng nên, xã hội, văn hóa của thành là một xã hội, văn hóa đem đến sự chết. Chết vì bạo lực, bất công, thù ghét, cá lớp nuốt cá bé, người mạnh thắng kẻ yếu, dẵm lên nhau mà đi, mà chạy, ai chết mặt ai miễn tôi và gia đình tôi sống. Chết vì sự mệt mỏi, kiệt sức của cuộc đời chỉ biết chạy đuổi theo vật chất mà không bao giờ thấy đủ. Chết bởi vì con người không hề biết và cũng chẳng màng đến Đấng Tạo Hóa. Ưu tiên hàng đầu của dòng Ca-in là kinh tế, vật chất, là phô trương, hảnh diện về kết quả, thành tích do chính công sức, khôn ngoan của họ làm ra.
Vậy nếu qv không có chổ cho Chúa trong cuộc sống, nếu qv chỉ biết chạy đuổi theo vật chất, qv thuộc dòng dõi Ca-in!
ƯU TIÊN CỦA DÒNG SẾT
Lịch sử HK – Những người tiên phuông đến đất HK năm 1620 để tìm sự tự do thờ phượng; 156 năm sau vào năm 1776 tuyên ngôn độc lập – 250 năm kỷ niệm độc lập
Trái với dòng dõi Ca-in là dòng dõi Sết được viết vắn tắt trong 2 câu 4:25-26: A-đam còn ăn ở với vợ mình; người sanh được một con trai đặt tên là Sết; vì vợ rằng: Đức Chúa Trời đã cho tôi một con trai khác thế cho A-bên mà đã bị Ca-in giết rồi. Sết cũng sanh được một con trai, đặt tên là Ê-nót. Từ đây, người ta bắt đầu cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va.
Khi so sánh giữa 2 câu 17 và 25-26, qv nhận thấy điều gì: Đoạn, Ca-in ăn ở cùng vợ mình, nàng thọ thai và sanh được Hê-nóc; Ca-in xây một cái thành đặt tên là Hê-nóc, tùy theo tên con trai mình và câu 25: A-đam còn (lại) ăn ở với vợ mình; người sanh được một con trai đặt tên là Sết; vì vợ rằng: Đức Chúa Trời đã cho tôi một con trai khác thế cho A-bên mà đã bị Ca-in giết rồi.
Hai câu này có khác biệt quan trọng gì? v17 không hề đề cập đến ĐCT, cả gia phổ của dòng dõi Ca-in không hề đề cập đến ĐCT bởi vì ưu tiên của đời sống họ là vật chất. Nhưng câu 25 E-va xác nhận rõ rằng Sết là món quà quí báu ĐCT ban cho 2 vợ chồng. E-va xác nhận rằng Chúa biết sự mất mát to lớn, biết nỗi đau buồn tan vỡ con tim của E-va khi A-bên bị Ca-in giết nên Ngài bù đắp lại sự mất mát lớn lao, bù đắp lại nỗi khổ của người mẹ mất con.
E-va cảm tạ sự ban cho của ĐCT sau khi trải qua một thử thách lớn. Dù bị ĐCT phạt, đuổi ra khỏi vườn E-đen; dù phải mang nặng đẻ đau (không thuốc tê, thuốc mê, thuốc cầm đau!) một mình. Qv có thể hình dung cảnh A-đam nắm vai E-va lúc đang sanh mà yên ủi! Người VN chúng ta có câu: Đàn ông đi biển có đôi, đàn bà đi biển mồ côi một mình.
Dù đã mất cả hai đứa con trai đầu lòng: A-bên bị giết còn Ca-in bị ĐCT phạt phải lưu lạc, trốn tránh. Dù đời sống khó khăn bội phần so với trước trong vườn địa đàng, phải làm việc cực nhọc hết sức mới có ăn. Dù bao nhiêu lý do có thể khiến E-va cay đắng, chua chát, than thân trách phận, trách Sa-tăn, trách chồng, trách ĐCT, nhưng trái lại E-va chấp nhận hình phạt của ĐCT vì tội mình và bày tỏ rất rõ lòng biết ơn về sự ban cho của ĐCT qua Sết. Sết là món quà từ ĐCT.
KT viết trong câu 26 về dòng dõi Sết: Sết cũng sanh được một con trai, đặt tên là Ê-nót. Từ đây, người ta bắt đầu cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va. Con cháu, hậu tự dòng Sết cầu khẩn danh ĐGHV. Dòng Sết ý thức họ cần ĐCT trong đời sống, cần kêu cầu cùng Chúa cho sự quan phòng, bảo vệ, cho sự phát triển xã hội, văn hóa, kinh tế. ĐCT vô cùng quan trọng cho đời sống, xã hội, thành phố của họ. Đây là lần đầu tiên trong KT viết về con người bắt đầu cầu khẩn danh ĐCT.
Con cháu dòng Sết có những người như Hê-nóc, như Nô-ê, là những người công chính dưới mắt Chúa, kính sợ ĐCT, bước đi với Chúa, sống đẹp lòng Ngài. Ưu tiên của dòng Sết là tin Chúa, biết Chúa, cầu khẩn danh Chúa, sống đẹp lòng Chúa, dạy cho con cháu, hậu tự biết Chúa, nói về Chúa cho những ai chưa nghe, chưa biết Ngài. Vâng họ cũng buôn bán, làm việc, họ cũng chế vũ khí, gia nhập quân đội, họ cũng phát triển văn hóa, nghệ thuật, âm nhạc nhưng luôn luôn ưu tiên đầu tiên và quan trọng nhất vẫn là ĐCT.
Không phải ngẫu nhiên mà KT viết về đời thứ 7 từ A-đam theo dòng dõi của Ca-in và Sết. Đời thứ 7 dòng Ca-in là Lê-méc, người có 2 vợ và hãnh diện làm một bài hát về sự trả thù, và hứa sẽ trả thù gấp 70x7 ai đụng đến hắn. Đời thứ 7 của dòng Sết là ai? Hê-nóc. Cùng một tên với con trai đầu tiên của Ca-in dùng để đặt tên thành. Hê-nóc dòng Sết được KT viết như sau: Sau khi Hê-nóc sanh Mê-tu-sê-la rồi, đồng đi cùng Đức Chúa Trời trong ba trăm năm, sanh con trai con gái. 23 Vậy Hê-nóc hưởng thọ được ban trăm sáu mươi lăm tuổi. 24 Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi. (5:22-23)
Hê-nóc dòng Ca-in có tên tuổi với đời vì thành đầu tiên được đặt theo tên mình: thành Hê-nóc. Hê-nóc dòng Sết được biết như một người đồng đi cùng ĐCT trong suốt cuộc đời mình. Qv có thấy sự khác biệt giữa 2 Hê-nóc, giữa 2 thành của Ca-in và Sết, giữa con cháu, hậu tự từ 2 thành hay không?
22Sau khi sinh Mê-tu-sê-la, Ê-nót đồng đi với Đức Chúa Trời ba trăm năm, sinh con trai con gái. 23Ê-nót sống tất cả được ba trăm sáu mươi lăm tuổi. 24Ê-nót đồng đi với Đức Chúa Trời rồi biệt tăm vì Đức Chúa Trời đã đem ông đi. (STK 5:22-24)f
Tác giả Hê-bơ-rơ gồm trong danh sách những anh hùng, liệt nữ đức tin 2 người thuộc dòng Sết: Hê-nóc và Nô-ê. Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết; người ta không thấy người nữa, vì Đức Chúa Trời đã tiếp người lên. Bởi chưng trước khi được tiếp lên, người đã được chứng rằng mình ở vừa lòng Đức Chúa Trời rồi. 6 Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài. 7 Bởi đức tin, Nô-ê được Chúa mách bảo cho về những việc chưa thấy, và người thành tâm kính sợ, đóng một chiếc tàu để cứu nhà mình; bởi đó người định tội thế gian, và trở nên kẻ kế tự của sự công bình đến từ đức tin vậy. (Hê-bơ-rơ 11:5-7)
Mãi đến hôm nay hằng ngàn năm sau đó, Hê-nóc của dòng Sết vẫn còn được kính phục, ca ngợi như một anh hùng đức tin, một người bước đi với Chúa và được chính ĐCT cất về trời. Nhưng ngày nay chẳng còn di tích gì của thành Hê-nóc dòng Ca-in. Có lẽ thành phố đã bị chôn vùi bởi bao nhiêu lớp đất theo thời gian! Qv muốn là Hê-nóc dòng Sết hay Hê-nóc dòng Ca-in? Khi qv đặt ĐCT là ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống qv là hậu tự của dòng dõi Sết.
Lịch sử HK – Những người tiên phuông đến đất HK năm 1620 để tìm sự tự do thờ phượng; 156 năm sau vào năm 1776 tuyên ngôn độc lập – 250 năm kỷ niệm độc lập
CHUYỆN VỀ HAI DÒNG DÕI, HAI THÀNH PHỐ
[Đọc STK 4:1-17, 4:23-26; Tương phản STK 4:17 và 4:25-26 về sự khác nhau giữa 2 dòng dõi]
Ca-in xây thành, con cháu Ca-in phát triển kinh tế, sáng tạo âm nhạc, nghệ thuật, văn hóa, bảo vệ dân và thành với vũ khí, quân đội. Nhưng tất cả do chính công sức của họ, không hề nhắc đến ĐCT, đến sự ban cho của ĐCT. Sết cũng xây thành, con cháu Sết cũng phát triển kinh tế, sáng tạo âm nhạc, nghệ thuật, văn hóa, bảo vệ dân và thành với vũ khí, quân đội. Nhưng với ý thức rằng ĐCT là chủ của đời sống họ, ĐCT là Đấng bảo vệ, quan phòng nên họ cầu khẩn ĐCT. Đây là sự khác biệt giữa hai dòng dõi, hai thành của Ca-in và Sết, của đời sống, xã hội không cần biết đến ĐCT và dân sự kính sợ, cầu khẩn ĐCT.
Đến đúng đời thứ 7 từ A-đam trong dòng Sết sanh ra một người cũng có tên là Hê-nóc, như con trai đầu lòng của Ca-in. KT viết về Hê-nóc: Sau khi Hê-nóc sanh Mê-tu-sê-la rồi, đồng đi cùng Đức Chúa Trời trong ba trăm năm, sanh con trai con gái. 23 Vậy Hê-nóc hưởng thọ được ban trăm sáu mươi lăm tuổi. 24 Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi. (5:22-23)
Nhưng dòng dõi Ca-in thì không hề được KT nói về việc đồng đi với ĐCT. Vâng họ xây thành, phát triển kinh tế, văn hóa, âm nhạc, phát triển dụng cụ và vũ khí bằng sắt, bằng đồng để sử dụng, nhưng không hề thấy nơi nào họ kêu cầu ĐCT, có quan hệ hay đồng đi với Chúa.
Giu-đe (thư chỉ 1 đoạn trong TU) viết về 2 dòng dõi này: Khốn thay cho họ! Họ đã chọn theo con đường của Ca-in... 12 Họ chè chén không biết xấu nên giống như những vết nhơ trong bữa tiệc thương yêu, chỉ biết lo cho chính mình; họ giống như những áng mây không nước bị gió cuốn trôi; họ giống như những cây không trái cuối thu, bị nhổ tận rễ, chết đến hai lần…14 Cũng vì bọn người này mà Hê-nóc là cháu bảy đời của A-đam đã tiên tri rằng: "Xem kìa, Chúa sẽ đến với muôn ngàn thánh 15 để xét đoán mọi người để định tội hết thảy vì những việc gian ác họ đã làm và tất cả lời dữ từ những kẻ tội lỗi vô đạo đã nói nghịch Ngài." (11-15 - BDM) Chúng ta sẽ trở lại đoạn KT này chi tiết hơn. Rõ ràng là lời của Giu-đe dòng dõi Ca-in tiếp tục sống trong vòng tội lỗi và không hề nhận biết ĐCT mà ăn năn, xin tha tội.
Hê-nóc dòng Ca-in có tên tuổi với đời vì thành đầu tiên được đặt theo tên mình: thành Hê-nóc. Con cháu, hậu tự sống tội lỗi, xa cách ĐCT. Hê-nóc dòng Sết được biết như một người đồng đi cùng ĐCT trong suốt cuộc đời mình. Con cháu nhận biết ĐCT, kêu cầu cùng Ngài và bước đi với Chúa. Qv có thấy sự khác biệt giữa 2 Hê-nóc, giữa con cháu, hậu tự của 2 dòng dõi hay không?
Hằng ngàn năm sau đó, Hê-nóc, Nô-e của dòng Sết vẫn còn được kính phục, ca ngợi như anh hùng đức tin, người đồng đi với ĐCT và được chính ĐCT cất về trời. Ngày nay chẳng còn di tích gì của thành Hê-nóc dòng Ca-in. Có lẽ thành phố đã bị chôn vùi bởi bao nhiêu lớp đất theo thời gian! Qv muốn là Hê-nóc dòng Sết hay Hê-nóc dòng Ca-in? Dù vậy ma quỉ vẫn dụ dỗ người đời và cả tín đồ học làm theo Hê-nóc dòng Ca-in, được nổi danh vì tên được đặt cho con đường, cho trường học, cho thành phố.
Đời thứ 7 dòng Ca-in là ai? La-méc, kẻ khoe mình cùng 2 vợ vì đã giết một cậu bé trai gây tương tích cho hắn. Là kẻ khoe mình với 2 vợ rằng ĐCT bảo ai giết Ca-in sẽ bị phạt 7 lần, nhưng ai làm hắn bị thương thì sẽ bị báo thù 70x7! La-méc tượng trưng cho dòng dõi của bạo lực, của thù hận, của sự chết. Dòng dõi Sết cũng có Lê-méc, là người sinh ra Nô-e. Tôi tin KT chủ ý ghi lại đời thứ 7 từ A-đam theo dòng Sết là Hê-nóc, người đồng đi với ĐCT và được Chúa cất về trời trước khi chết, và Lê-méc dòng Sết là cha của Nô-e, người được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va, một người công bình và trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời. (STK 6:8-9). Con số 7 trong KT tượng trưng cho sự toàn vẹn, con số ĐCT dùng cách đặc biệt. Hê-nóc 7 đời từ A-đam dòng Sết đồng bước đi với ĐCT. Còn Hê-nóc dòng Ca-in thì nổi tiếng vì tên được đặt cho thành phố đầu tiên. Lê-méc, đời thứ 7 từ A-đam dòng Ca-in là kẻ giết người; Lê-méc dòng Sết là cha của Nô-e, một người công chính đồng đi với ĐCT.
Tác giả Hê-bơ-rơ xác nhận việc này khi gồm trong danh sách những anh hùng, liệt nữ đức tin 2 người thuộc dòng Sết: Hê-nóc và Nô-ê. Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết; người ta không thấy người nữa, vì Đức Chúa Trời đã tiếp người lên. Bởi chưng trước khi được tiếp lên, người đã được chứng rằng mình ở vừa lòng Đức Chúa Trời rồi. 6 Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài. 7 Bởi đức tin, Nô-ê được Chúa mách bảo cho về những việc chưa thấy, và người thành tâm kính sợ, đóng một chiếc tàu để cứu nhà mình; bởi đó người định tội thế gian, và trở nên kẻ kế tự của sự công bình đến từ đức tin vậy. (Hê-bơ-rơ 11:5-7
Qv cũng chú ý khi viết về Hê-nóc và Nô-e, STK 5:23, 6:8 dùng chung một từ đồng đi cùng ĐCT. Khi nói 2 người đồng đi với nhau, có nghĩa là gì? Tiên tri A-mốt nêu lên một câu hỏi tưởng như dĩ nhiên: Nếu hai người không đồng ý với nhau, thì há cùng đi chung được sao? (A- mốt 3:3). Để đi chung thì cả hai phải đồng ý với nhau, bằng không sẽ gọi là bị ép buộc, cưỡng bức. Hê-nóc, Nô-e tự nguyện, vui lòng bước đi với ĐCT, trong con đường hẹp như ĐCJC đã dạy trong bài giảng trên núi: Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. 14 Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít. (Ma-thi-ơ 7:13-14)
Đồng đi không phải chỉ là cả 2 cùng đi với nhau, nhưng đi cùng một mục đích, một hướng đi. Như Saint-Exupery viết: Yêu nhau không phải chỉ nhìn nhau nhưng cùng nhìn về một hướng. Làm sao có thể nói Hê-nóc và Nô-e đồng đi cùng Chúa nếu họ không đi cùng một mục đích, một hướng đi với ĐCT? Đồng đi có nghĩa là khi ĐCT bảo đi đâu, đi cách nào thì họ đều vâng lời. Đồng đi với Chúa cũng là an ủi hết sức lớn bởi vì trong mỗi chặng đường của cuộc đời, chúng ta biết chắc chắn rằng Chúa luôn bên cạnh dù trong những chặn đường hanh thông, bằng phẳng hay những chặn đường hiểm nguy, gian khổ, dù khi sức lực mạnh mẽ hay khi cạn mất.
Và cả hai đều đồng đi với ĐCT trong một thời gian rất dài: Hê-nóc trong 300 năm và Nô-e trước cơn đại lụt và 350 năm sau cơn đại lụt. Đây không phải là một cuộc chạy tốc độ, nước rút 50 hay 100m, nhưng là một cuộc chạy đường dài. Một bài học quan trọng: để thật sự biết một người bước đi với Chúa hay không, phải cần thời gian. Bằng chứng rõ nhất không phải là một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn buồn le lói suốt 100 năm! Không phải chỉ bước đi với Chúa trong những lúc hăng hái, nóng bỏng, khi hội thánh đông đảo, khi mọi việc hanh thông, tốt đẹp nhưng ngay cả trong những lúc lòng cảm thấy nguội lạnh, khi chỉ còn vài người cùng đi với mình, khi đường đi gặp bao nhiêu trở ngại, khó khăn. Một câu KT vô cùng ý nghĩa với tôi trong bao nhiêu năm hầu việc Chúa: Phần nhiều người khoe khoang sự nhân từ mình; Nhưng ai sẽ tìm được một người trung thành? (CN 20:6)
Sách Giăng 6 ghi lại câu chuyện ĐCJC nhận mình là bánh hằng sống, ai ăn bánh này sẽ được sự sống đời đời Ai ăn thịt và uống huyết ta thì được sự sống đời đời; nơi ngày sau rốt, ta sẽ khiến người đó sống lại. (6:54) thì nhiều môn đồ bỏ Ngài đi, không theo nữa. KT viết: Đức Chúa Jêsus phán cùng mười hai sứ đồ rằng: Còn các ngươi, cũng muốn lui chăng? 68 Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời; 69 chúng tôi đã tin và nhận biết rằng Chúa là Đấng thánh của Đức Chúa Trời. (6:67-69) Dù cả quyết với lời như vậy nhưng khi Chúa bị bắt cũng chính Phi-e-rơ từ chối Chúa 3 lần, cả 10 người kia cũng bỏ chạy. Sau khi sống lại, ĐCJC lại ban cho Phi-e-rơ và các môn đồ cơ hội mới để tiếp tục đồng đi với Ngài, phục vụ Ngài.
Người trung thành không phải là người toàn thiện, toàn hảo trong mọi bước đường đồng đi với Chúa nhưng chắc cũng có lúc yếu đuối, vấp ngã. Nhưng dù có vấp ngã, dù có phạm tội thì họ ăn năn, xin tha thứ, đứng lên rồi tiếp tục. Qv có nhớ bài hát Đồng Hành: Dẫu có lúc yếu mền, chùng bước trước bóng tối dầy, nghe êm Jesus bên tai: Hành trình còn dài, Ta luôn đi với.
KT TU ghi lại câu chuyện của hai người trẻ tuổi tên Giăng Mác (người viết Phúc Âm Mác) và Đê-ma. Cả hai cùng đi theo Phao-lô giảng Tin Lành cho người ngoại, thành lập hội thánh tại nhiều thành phố khác nhau. Đang khi bắt đầu chuyến truyền giáo thứ 1, Mác bỏ Phao-lô và Ba-na-ba về nhà. Vì vậy trong chuyến truyền giáo thứ 2 PL không muốn đem theo Mác. Đê-ma cũng là một người trẻ tuổi theo PL truyền giảng TL. Tên Đê-ma được viết lại trong 3 thư tín của PL: Cô-lô-se 4:14, Phi-lê-môn 1:24 và 2 Ti-mô-thê 4:10. Trong lá thư cuối đời của PL viết gởi cho Ti-mô-thê, PL viết về Mác và Đê-ma như sau: Hãy cố gắng đến cùng ta cho kíp; 10 vì Đê-ma đã lìa bỏ ta rồi, tại người ham hố đời nầy, và đã đi qua thành Tê-sa-lô-ni-ca.... 11 Chỉ có một mình Lu-ca ở với ta. Hãy đem Mác đến với con, vì người thật có ích cho ta về sự hầu việc lắm. (2 Ti-mô-thê 4:9-11)
Người đồng đi với Chúa có thể như Mác: vi phạm tội lỗi nhưng ăn năn, xin tha thứ và trung tín cho đến cuối, thay vì như Đê-ma, hăng hái, nhiệt tình, nóng bỏng nhưng rồi vì đời sống vật chất này mà nguội lòng, rồi bỏ Chúa.
Trở lại với lời của Giu-đe viết về Hê-nóc: Cũng vì bọn người này mà Hê-nóc là cháu bảy đời của A-đam đã tiên tri rằng: "Xem kìa, Chúa sẽ đến với muôn ngàn thánh 15 để xét đoán mọi người để định tội hết thảy vì những việc gian ác họ đã làm và tất cả lời dữ từ những kẻ tội lỗi vô đạo đã nói nghịch Ngài." (14-15 - BDM) Bản dịch cũ: Ấy cũng vì họ mà Hê-nóc, là tổ bảy đời kể từ A-đam, đã nói tiên tri rằng: 15 Nầy, Chúa ngự đến với muôn vàn thánh, đặng phán xét mọi người, đặng trách hết thảy những người không tin kính về mọi việc không tin kính họ đã phạm [cách không tin kính], cùng mọi lời sỉ hổ mà những kẻ có tội không tin kính đó đã nói nghịch cùng Ngài. (BTT)
Bản dịch cũ rõ hơn về một chi tiết quan trọng: trong câu 15 có 4 lần Giu-đe dùng từ không tin kính (ungodly): trách những kẻ không tin kính, về mọi việc không tin kính, phạm cách không tin kính, kẻ có tội không tin kính. Chắc chắn Giu-đe có dụng ý khi lập đi lập lại 4 lần từ không tin kính. Mục đích là để nói lên sự không tin kính của dân chúng thời Hê-nóc; để cho thấy ý thức rất rõ của Hê-nóc về sự không tin kính của dân chúng thời đó. Chú ý từ lòng không tin Chúa đưa đến việc làm và lời nói phạm thượng cùng ĐCT.
Điều này rõ hơn trong STK 6:5 trong thời Nô-e: Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn. Qv có thấy sự thay đổi kinh khiếp từ sự không tin kính ĐCT từ đời Hê-nóc cho đến 7 đời sau thời Nô-e về sự hung ác và ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn? Bắt đầu từ sự không tin Chúa, lương tâm con người sẽ dần thay đổi. Việc xấu ngày xưa hôm nay là việc bình thường. Hành động, thái độ, cách cư xử ngày xưa là sai quấy, hôm nay là việc tự nhiên. Có ai ngờ chỉ trong vòng ít hơn 20 năm quan điểm của dân chúng HK về hôn nhân hoàn toàn thay đổi: 20 năm trước đây hầu hết dân chúng đồng ý rằng hôn nhân là giữa nam, nữ, hôn nhân là để sống đời với nhau. Hôm nay hôn nhân được tòa án tối cao HK định nghĩa là quan hệ giữa 2 người, dù là đồng tính.
Thẩm phán Kennedy của toàn án tối cao viết trong vụ xử 25 năm trước đây những lời như sau: Tâm điểm của tự do là quyền định nghĩa của một người về sự tồn tại, về ý nghĩa, về vũ trụ, và về sự mầu nhiệm của cuộc sống con người .... người ta có các mối quan hệ thân mật và những chọn lựa để xác định quan điểm của họ về chính họ và vị trí của họ trong xã hội. (At the heart of liberty is the right to define one's own concept of existence, of meaning, of the universe, and of the mystery of human life…. people have organized intimate relationships and made choices that define their views of themselves and their places in society)
Sự tự do hôm nay gồm cả một quyền hạn mà chưa một thế hệ nào trước đó có: quyền định nghĩa của một người về cuộc sống, cách sống, về sự chọn lựa cho cuộc sống. Nếu tôi cho là đúng thì việc đó là đúng với tôi dù có thể khác với anh chị. Nói cách khác chính tôi có toàn quyền tự do để định nghĩa cho mình về đạo đức, đúng sai, phải trái cho đời sống. Thật ra KT cũng đã viết về điều này ngàn năm trước đây trong thời các quan xét: Trong lúc ấy, dân Y-sơ-ra-ên không có vua; ai nấy đều làm theo ý mình cho là phải. (CQX 21:25)
7 đời từ sự không tin kính thời Hê-nóc đổi thành sự hung ác, tư tưởng độc ác thời Nô-e! Khi con người không sợ ĐCT, thì họ còn sợ ai? Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại mà đời sống vật chất đầy đủ, sung túc, phát triển về khoa học, kỷ thuật, y tế, thương mãi lại nhanh chóng đến như vậy. Một bài viết của đài phát thanh Anh Quốc BBC tháng 10, 2016 xác nhận rằng số người tỉ phú tại Trung Quốc hôm nay nhiều hơn tại HK: 594 so với 535 tại HK.
Nhưng cũng chưa có một thế kỷ nào như thế kỷ 20 và đầu 21 này số người bị giết vì chiến tranh, vì nạn đói do chính quyền gây ra cao đến như vậy. Ước tính 123 triệu người chết vì chiến tranh, và 70 triệu người vì nạn đói trong thế kỷ 20 (30 triệu tại TQ từ 1958-61). Cũng chưa bao giờ số người bị bắt làm nô lệ cao như trong thế kỷ 20-21: 20.9 triệu người đem lại lợi tức khoảng 150 tỉ cho các tổ chức phạm phát.
Qv chớ hiểu lầm rằng sự văn minh, tiến bộ của thành phố đồng nghĩa với sự thay đổi tốt đẹp về tính hạnh, đạo đức, niềm tin của con người. Dù thành phố Hê-nóc đầu tiên ngày xưa do Ca-in xây hay thành phố Thượng Hải, New York, Tokyo ngày nay thì tâm linh con người vẫn như nhau. Những nan đề tâm linh của người thời Ca-in hay thời nay cũng đều như nhau. Khi học sách Gia-cơ với thanh niên, tôi cho các em liệt ra những vấn đề Gia-cơ nêu ra trong thư như đức tin không việc làm, kiểm soát môi miệng, lời nói, lòng cay đắng, ghen tị, sự khoe khoang trong đời sống… Qv chắc cũng đồng ý với tôi rằng những vấn đề Gia-cơ nêu ra hơn 2000 năm trước đây cũng là những vấn đề của loài người thời Ca-in, Hê-nóc, Nô-e hay của loài người hôm nay.
Ma quỉ vui mừng, làm tiệc khi lòng dạ, tâm linh con người chai lì trước lời mời gọi tin Chúa. Nó thầm thì trong tai: tin Chúa mất hết niềm vui trong đời; tin Chúa sẽ bị thử thách, khổ hạnh; anh chị còn rất nhiều thời gian để suy nghĩ, quyết định. Dòng dõi Ca-in, Lê-méc cất thành, phát triển xã hội nhưng lòng đầy ghen tức, phạm tội giết người, không hề có ĐCT trong đời sống. Con cháu, hậu tự của dòng dõi Ca-in trong các thế hệ sau sống trong xã hội ngày càng hung bạo, độc ác, người dẫm lên người mà đi, ý nghĩ, tư tưởng của họ toàn những điều xấu xa, ngày càng cứng lòng, xa cách với ĐCT. Qv có muốn con cháu mình như con cháu dòng Ca-in hay con cháu dòng Sết, như Hê-nóc, Nô-ê?
CHUYỆN HAI THÀNH PHỐ
Theo các nhà xã hội học thì trong suốt lịch sử loài người từ Ca-in mãi đến 2006 (tức chỉ 10 năm trước đây) thì hầu hết dân cư đều sinh sống tại những vùng làng quê vì đa số làm nghề canh nông. Hôm nay tại HK chỉ có 2% dân số làm nghề canh nông. Từ 2006 đến nay hầu hết dân số trên thế giới sinh sống tại thành phố. Một trong những hiện tượng chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai không xa là đô thị hóa (urbanization). Đô thị hóa có nghĩa là phần đông dân số tại các nước, gồm cả VN và HK sẽ sinh sống, làm việc tại những thành phố ngày càng lớn, đông dân hơn, megacities.
Hình này cho thấy những thành phố lớn trên khắp thế giới năm 2014 với ít nhất 500K dân. Năm 2014 chỉ có 28 thành phố trên thế giới với dân số 10 triệu hay nhiều hơn. Ước tính đến năm 2030 sẽ có 41 thành phố lớn như vậy! Qv cũng có thể thấy qua biểu đồ này các thành phố lớn với dân số từ 1-5 triệu và từ 5-10 triệu cũng tăng lên rất nhiều.
Thành phố cỗ Babylon nổi tiếng với vườn treo, 1 trong 7 kỳ quan thế giới cổ, thời vua N. là thành phố lớn nhất thế giới thời đó ước tính có khoảng 200 ngàn dân. Albuquerque hơn gấp 2 lần dân số Babylon xưa! Dân số của Sài Gòn là 8.4 triệu người. Hà Nội 7.56 triệu. Đà nẳng 1 triệu. Biên Hòa 1.1 triệu. Cần Thơ 1.2 triệu. Hải Phòng 1.9 triệu. Còn tại HK? LA 3.7 triệu; NY 8.1; Houston 2 triệu; Phoenix 1.2; Dallas 1.2. Qv nghĩ con em chúng ta sẽ sống ở thành phố như Los Lunas, Belen, hay Dallas, LA, Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẳng?
Dù hầu hết dân số ngày xưa cho đến 2006 sinh sống tại các vùng thôn quê, nhưng văn hóa, nghệ thuật, sự phát triển, sự tráng lệ, hào nhoáng của một quốc gia là nơi thành phố. Mọi người đều muốn theo thời trang của Paris, NY, LA, Sài Gòn, Hà Nội chứ đâu ai muốn theo mốt của Alb, hay Mỹ Tho, Châu Đốc! Thời CU có thành Hê-nóc, thành U-rơ (nơi ĐCT gọi Áp-ra-ham ra đi đến đất Ca-nan), thành Sô-đôm, Gô-mê-ra, thành Jerico, thành Ni-nê-va, thành Jerusalem. Thời TU có thành La-mã, thành Cô-rinh-tô, thành An-ti-ốc, thành Alexandria của Ai Cập. Thành phố là niềm hãnh diện của các quốc gia, dân chúng. PL hãnh diện ông là dân của thành Tạc-sơ, một thành phố nổi tiếng với lịch sử nơi nữ hoàng Cleopatra đi thuyền vào thành để gặp tướng Anthony. Dân chúng Y-sơ-ra-ên hàng năm dù ở nơi xa xôi vẫn phải về thành Jerusalem để thờ phượng, dâng của lễ vì đền thờ ĐCT ở tại thành.
Thành phố càng lớn, nan đề càng nhiều. Đi làm bị kẹt xe mất 30-40’ là việc bình thường. Công việc đòi hỏi hơn vì cạnh tranh: tôi không làm thì hàng chục người khác chờ để làm việc tôi đang làm! Thời gian rất hạn chế. Tình cảm giữa người và người tại thành phố lớn khác nhiều lắm: Ra đường đi không ai nhìn ai, lên xe điện mạnh ai làm việc riêng của người ấy, không ai nói với ai. Tôi có đến Shinjuku, Main Station tại thành phố Tokyo của Nhật, dân số 13.6 triệu. Mỗi ngày ước tính khoảng 3.5 triệu người đến đó để đón xe điện đi làm việc, đi đây đi đó. Ai muốn làm quen với ai khi chỉ mong được một chỗ ngồi trong xe điện!
Tại thành phố lớn thú giải trí trăm ngàn lần hơn những thành phố đèo heo hút gió! Tội ác, cám dỗ nhiều hơn. Đủ mọi loại dân, mọi tôn giáo, chủng tộc, văn hóa, tiếng nói. Qv nghĩ làm một người theo Chúa tại thành phố lớn dễ hơn hay khó hơn một tín đồ tại thành phố nhỏ? Ở đâu đức tin dễ tăng trưởng hơn? Khi không có nhiều thời gian, khi có đủ mọi giải trí (lành mạnh lân không lành mạnh), khi có rất nhiều tiếng thu hút của vật chất, xác thịt, khi mọi tôn giáo đều như nhau, qv con em chúng ta trong tương lai sẽ sống thế nào, làm việc thế nào, thờ phượng Chúa thế nào?
Sau khi dân Y-sơ-ra-ên bị vua N. bắt làm phu tù nơi xứ Babylon, các tiên tri giả bảo với dân chúng bị đày họ sẽ trở về trong vòng 2 năm. Nhưng ĐCT dùng tiên tri Giê-rê-mi để nói với dân sự rằng Chúa sẽ đem họ về lại Jerusalem, nhưng không phải trong vòng 2 năm nhưng 70 năm sau đó. Giê-rê-mi viết một lá thư cho dân đày với những lời như sau: Thơ như sau nầy: 4 Đức Giê-hô-va vạn quân, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, phán cùng những kẻ mà ta đã khiến bị bắt làm phu tù từ Giê-ru-sa-lem qua Ba-by-lôn như vầy: 5 Hãy xây nhà và ở; hãy trồng vườn và ăn trái; 6 hãy lấy vợ, đẻ con trai và con gái; hãy lấy vợ cho con trai, gả chồng cho con gái, hầu cho chúng nó đẻ ra con trai và con gái. Số các ngươi khá thêm nhiều ra ở đó và đừng kém đi. 7 Hãy tìm sự bình an cho thành mà ta đã khiến các ngươi bị đày đến làm phu tù, hãy vì nó cầu nguyện Đức Giê-hô-va; vì sự bình an các ngươi nhờ sự bình an của nó. (29:4-7)
Thường thì có hai cách thức để sống tại các thành phố lớn. Thứ nhất là cách ly, không chung đụng, sống riêng biệt, càng xa càng tốt. Cách thứ hai là đồng hóa, ai sao mình vậy; đừng dại mà làm cho chúng ghét! Qv dạy con em mình cách nào? Đa-niên có cách ly khỏi xã hội Babylon không? Không. Không những vậy ông phục vụ trong triều vua N. và vua xứ Phê-sa (Persia) với chức vụ cao trong gần 65 năm trời. Làm sao gọi là cách ly. Đ. và các bạn có ai sao mình vậy không? Dĩ nhiên không. Các bạn ông thà chết còn hơn quì lạy tượng vàng. Đ. thà chết còn hơn thờ phượng vua. Làm sao gọi là đồng hóa. Làm sao chúng ta giúp cho con em mình như Đ., không cách ly, không đồng hóa và vẫn giữ trọn niềm tin trong Chúa trong một xã hội vô thần, hay đa thần?
KT dạy chúng ta khi còn sống trên đất này, dù ở thành phố nào: Hãy tìm sự bình an cho thành mà ta đã khiến các ngươi bị đày đến làm phu tù, hãy vì nó cầu nguyện Đức Giê-hô-va; vì sự bình an các ngươi nhờ sự bình an của nó. Không cách ly, nhưng cũng không đồng hóa. Nhưng như ĐCJC dạy người tin Chúa phải là muối, là ánh sáng. Như lời Chúa dạy trong 1 Pet 2:12: phải ăn ở ngay lành giữa dân ngoại, hầu cho họ là kẻ vẫn gièm chê anh em như người gian ác, đã thấy việc lành anh em, thì đến ngày Chúa thăm viếng, họ ngợi khen Đức Chúa Trời.
Nhưng chúng ta không chỉ là công dân của thành phố nơi đang sống, mà còn là công dân của một thành phố sáng láng, đời đời trên trời. Nơi tuyệt đối an toàn, không còn người dùng bạo lực để hại người, không còn trộm cấp, lừa gạt, giết người. Thành đó được xây bởi chính tay ĐCT. Và dân cư trong thành phố là dòng dõi của Sết, của Áp-ra-ham là những người biết cầu khẩn ĐCT xin được tha tội, vui lòng đón nhận sự cứu chuộc của ĐCJC và ĐTL ban cho.
Vâng theo tiếng gọi của ĐCT, Áp-ra-ham rời khỏi thành phố quê hương, nơi vòng bà con, gia đình sinh sống, lập nghiệp. KT viết Áp-ra-ham đi mà không biết mình đi đây. KT cũng giải thích rằng quê hương, thành phố tốt hơn cho Áp-ra-ham và dòng dõi ông không phải là thành phố xây bởi tay con người, nhưng bởi chính tay ĐCT: Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không biết mình đi đâu. 9 Bởi đức tin, người kiều ngụ trong xứ đã hứa cho mình, như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là kẻ đồng kế tự một lời hứa với người. 10 Vì người chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập. (Hê-bơ-rơ 11:8-10)
KH cũng viết về thành phố sáng láng trên trời dành cho những người kêu cầu danh ĐCJC: Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa. 2 Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình. 3 Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: nầy, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng. 4 Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết ,cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi. 5 Đấng ngự trên ngôi phán rằng: Nầy, ta làm mới lại hết thảy muôn vật. (KH 21:1-5)
Nhưng anh em đã tới gần núi Si-ôn, gần thành của Đức Chúa Trời hằng sống, tức là Giê-ru-sa-lem trên trời, gần muôn vàn thiên sứ nhóm lại, gần Hội thánh của những con trưởng được ghi tên trong các từng trời, gần Đức Chúa Trời, là quan án của mọi người, gần các linh hồn người nghĩa được vẹn lành, gần Đức Chúa Jêsus, là Đấng trung bảo của giao ước mới, và gần huyết rưới ra, huyết đó nói tốt hơn huyết của A-bên vậy. (Hê-bơ-rơ 12:22-24)
