Cảm Tạ Chúa Vì Đồng Vắng
Trong bài giảng tôi dùng từ đồng vắng theo hai nghĩa, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Theo nghĩa đen thì đồng vắng (Từ sa mạc trong BDM cũng chính là từ đồng vắng. BNC dịch là hoang mạc (sa mạc hoang vu!), BD2011 là đồng hoang) là một nơi giống như chính Mô-se miêu tả: sa mạc mênh mông kinh khiếp, khô khan không nước uống, đầy rắn độc và bò cạp (PT 8:15 - BDM) Chúa tìm thấy dân Ngài trong sa mạc, giữa hoang dã với tiếng gào thét quạnh hiu [của các loài chim chỉ chờ ăn xác chết, loài thú dữ]. (PT 32:10 – BDM).
Sống tại thành phố và tiểu bang NM này qv & tôi có thể hiểu được phần nào về đồng vắng. Là nơi mà ngày nóng như lửa đốt không một bóng cây che mát, đêm lạnh thấu xương không nơi trú ngụ, là nơi chỉ có đá các và gai góc, rắn rít. Là nơi không nước, không thức ăn. Nói tóm lại một nơi hoang dã mà con người không thể sống được. Khi đi nghĩ mát người ta tìm đến núi non, rừng rậm hay sông ngòi, biển cả để xem cảnh, hóng gió nhưng tôi chưa biết ai đi nghĩ mát tại đồng vắng cả.
Theo một nghĩa khác thì đồng vắng cũng là tượng trưng của những hoàn cảnh mà chúng ta không thể tự mình có thể giải quyết, những khó khăn, hoạn nạn, mất mát, đau khổ trong đời sống. Về sự cô đơn, hiêu quạnh, lẽ loi, không ai hiểu mình, quan tâm đến mình. Nơi khi gào thét chỉ có các loài thú, các bụi xương rồng gai góc lắng nghe! Chính những cảnh ngộ này buộc chúng ta phải hoàn toàn nương cậy vào ĐCT, vào sự tương trợ của những người quan mình, chứ không thể vào chính khả năng, sức lực, tài năng của mình.
Ba điều trong bài giảng hôm nay: 1) Chúng ta đều sẽ phải qua đồng vắng trong đời sống; 2) Chúng ta cần Chúa trong đồng vắng; 3) Chúng ta chỉ có một hy vọng trong Chúa
CHÚNG TA ĐỀU SẼ PHẢI QUA ĐỒNG VẮNG TRONG ĐỜI SỐNG
Nếu tôi hỏi con cái Chúa tại đây lý do gì dân sự Y lại đi trong đồng vắng sau khi họ được ĐCT cứu ra khỏi xứ Ai-cập sau hơn 400 năm nô lệ thì qv sẽ trả lời thế nào? Chắc chắn câu trả lời phổ thông nhất và quen thuộc nhất là bởi vì họ không vâng lời Chúa nên bị phạt phải đi trong đồng vắng. Câu trả lời này hoàn toàn đúng.
Tuy nhiên qv có biết rằng chính ĐCT đã ra lệnh cho Mô-se khi đến gặp vua Ai-cập để đòi hỏi cho dân sự ra khỏi xứ, thì nêu lên lý do là để dân sự vào đồng vắng mà thờ phượng Chúa. Đúng để dân sự vào đồng vắng thờ phượng Chúa: Ta sẽ rút các ngươi ra khỏi cảnh khổ tại xứ Ê-díp-tô, đặng đem lên xứ của dân Ca-na-an, dân Hê-tít, dân A-mô-rít, dân Phê-rê-sít, dân Hê-vít, và dân Giê-bu-sít, tức là một xứ đượm sữa và mật. 18Dân sự sẽ vâng theo lời ngươi; vậy, ngươi và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên hãy đi yết-kiến vua xứ Ê-díp-tô mà tâu rằng: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ, đã hiện ra cùng chúng tôi. Vậy bây giờ, xin để cho chúng tôi đi đến nơi đồng vắng, cách chừng ba ngày đường đặng dâng của lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi. (Xuất 3:17-18)
Và lần đầu tiên A-rôn và các trưởng lão dân Ỵ gặp Mô-se là tại đồng vắng: Đức Giê-hô-va phán cùng A-rôn rằng: Hãy đi đến đồng vắng, đón rước Môi-se. A-rôn bèn đi, gặp Môi-se tại núi của Đức Chúa Trời, và hôn người. (X. 4:27)
Sau đó khi đến gặp vua Pha-ra-ôn, Mô-se đều lập lại lời dạy này của ĐCT là vua phải để cho dân sự Chúa vào đồng vắng để thờ phượng Chúa (7:16, 8:27): Kế sau, Môi-se và A-rôn đến tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên có phán như vầy: Hãy cho dân ta đi, đặng nó giữ một lễ cho ta tại đồng vắng… Môi-se và A-rôn tâu rằng: Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ đã đến cùng chúng tôi; xin hãy cho phép chúng tôi đi vào nơi đồng vắng, cách chừng ba ngày đường, đặng dâng tế lễ cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng tôi (Xuất 5:1, 3)
Tại sao ĐCT muốn dân sự vào đồng vắng để thờ phượng Ngài? Không có công việc, vật chất, so sánh, tranh cạnh để chi phối dân sự. Nơi dễ lắng nghe, dễ tập trung vì sự tĩnh mịch, im lặng. Nơi dân sự ý thức rằng họ và con cháu họ cần đến ĐCT để có thể sống sót vì không thức ăn, nước uống.
Sau khi ra khỏi xứ Ai-cập KT viết rất rõ là ĐCT chủ ý ra lệnh cho Mô-se dẫn dân sự vào đồng vắng: Khi Pha-ra-ôn để cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi, Đức Chúa Trời không dẫn họ theo con đường đi ngang qua xứ Phi-li-tin, là đường ngắn nhất, vì Đức Chúa Trời phán rằng: "Nếu gặp chiến tranh, chúng có thể đổi ý mà quay trở về Ai-cập." 18 Vì vậy Đức Chúa Trời dẫn dân chúng đi vòng con đường sa mạc, về hướng Biển Đỏ. Khi ra khỏi Ai-cập, dân Y-sơ-ra-ên đã được vũ trang để chiến đấu. (X 13:17-18 - BDM).
Tất cả mọi người đều phải trải qua những đồng vắng trong đời. Chính những hoang vu, đồng vắng về tâm hồn khiến chúng ta ý thức rằng chúng ta không chỉ sống nhờ bánh mà thôi, mà còn nhờ vào ĐCT, mọi lời khuyên dạy từ ĐCT và từ những người chung quanh.
Trong thư Hê-bơ-rơ, tác giả nhắc tín đồ nhớ lại câu chuyện dân sự Chúa đi trong đồng vắng như một bài học về đời sống tâm linh: Cho nên, như Đức Thánh Linh phán rằng: Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài. 8 Thì chớ cứng lòng, như lúc nổi loạn, Là ngày thử Chúa trong đồng vắng, 9 Là nơi tổ phụ các ngươi thấy công việc ta làm trong bốn mươi năm, Mà còn thử để dò xét ta! Hỡi anh em, hãy giữ lấy, kẻo ai trong anh em có lòng dữ và chẳng tin mà trái bỏ Đức Chúa Trời hằng sống chăng. (H 3:7-9, 13)
Đồng vắng khiến chúng ta ý thức rằng nếu không có sự giúp đở từ bên ngoài vào đời sống thì thế giới này không thể nào thỏa mãn những khao khát, ước muốn sâu kín nhất trong tâm hồn. Những nguồn nước trong thế gian này như quan hệ, tình cảm, thành công từ công việc, không sâu đủ để nuôi dưỡng cả thể xác và tâm linh, để thỏa mãn mọi khao khát thể xác và tâm linh. Bởi vì thành công, hạnh phúc trong đời này như nước trong đồng vắng, xa mạc, không đủ, mới có đó nhưng rồi khô cạn nhanh chóng.
Không qua đồng vắng, con người có thể trở nên kiêu ngạo, tự hào về thành công. Thành công không chỉ khiến lòng người kiêu hãnh nhưng còn khiến người ta đặt trọng tâm đời sống hoàn toàn vào thế giới vật chất quyền thế, danh vọng mà quên đi những điều thật sự quan trọng hơn như tình người, sự cảm thông.
Cuộc đời này không phải là vườnn Ê-đen nhưng đầy những đồng vắng hoang vu sau khi tội lỗi tràn lan giữa loài người. Các nhà nhân chũng học cho biết hầu hết các dân tộc từ xưa đều hiểu rằng hạnh phúc không đến tự nhiên trong đời này nhưng trong đời sau. Tuy nhiên khoa học ky thuật trong thế kỷ 19-21 khiến cho người ta nghĩ có thể tạo thiên đàng trên đất. Vì vậy thế hệ trẻ hôm nay hoặc không chấp nhận đồng vắng, hoặc hoàn toàn ngỡ ngàng vì thiếu chuẩn bị.
Hơn nữa đồng vắng ảnh hưởng, thay đổi con người vì hoàn cảnh, môi trường khó khăn, khắc nghiệt so với thành phố
Giúp chúng ta ý thức rõ hơn về giới hạn trong khả năng giải quyết những vấn đề của đời sống, thậm chí bất lực, không thể làm hơn ngoài việc kêu cầu ĐCT. Ý thức được vật chất không phải là tất cả, nhưng trong cuộc sống này còn nhiều điều quí báu ngàn lần hơn như tình cảm, quan hệ gia đình, tình người. Linh hồn có giá trị đời đời. Vì chúng tôi không chú tâm vào những sự vật hữu hình, nhưng vào những sự vật vô hình vì sự vật hữu hình chỉ là tạm thời, còn sự vật vô hình mới là vĩnh cửu. (2 Cô-rinh-tô 4:18)
Nhiều điều trong cuộc đời của tôi và qv chỉ có thể học được khi trải qua cảnh ngộ đó. Sách vở, bài giảng, lời dạy dỗ không thể thay thế cho kinh nghiệm. Biết về cảnh khổ, khó khăn là một chuyện nhưng sống qua rồi mới mang đến sự hiểu biết thật sự.
Đem chúng ta lại gần ĐCT hơn. Lời Chúa trở nên ngọt ngào, ý nghĩa, giá trị hơn. Sự hiện diện của ĐTL trong đời sống hằng ngày rõ hơn, thực hơn. [Đa-vít và 9 TT trong cơn gian truân]
Làm cho chúng ta kiêm nhường hơn, biết nương cậy vào Chúa hơn
Tăng thêm đức tin, nhân từ, cảm thông, mềm mại, yêu thương hơn.
Những người đã qua đồng vắng mới có thể thật sự cảm thông, an ủi, giúp đở người khác. Truyện Thúy Kiều có câu thơ sau đây: Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Hàm ý rằng chỉ khi một người thật sự qua những cây cầu gập ghềnh, bấp bên của đời sống, qua những con sông, khúc biển đầy sóng gió bão bùng, hiểm nguy, gian khó thì mới thật sự hiểu được cho người ngã gục khi qua cầu hay đi trên những khúc sông biển hãi hùng đó. Người thật sự cảm thương là người đã đi qua những chặng đường mất mát, khó khăn trong đời sống.
CHÚNG TA CẦN ĐCT TRONG ĐỒNG VẮNG
Khi đời sống đầy đủ tiện nghi, vật chất, khi mọi sự hanh thông, khi công việc dễ dàng, gia đình thành công, con cái học hành đỗ đạt, một người tưởng mình biết mình, tưởng mình biết quan hệ của mình với ĐCT, với gia đình, với anh chị em trong HT, với công việc Chúa nhưng thực sự không.
Câu chuyện về 2 người tín đồ trong mùa hạn hán khi MS đến thăm. Một người than vãn, trách móc: MS coi ao tôi chỉ còn phân nửa. Một người vui mừng đón tiếp MS và khoe rằng MS coi, Chúa vẫn còn cho tôi phân nửa ao nước! Trong mùa hạn hát hay trong cơn giông bão, chúng ta mới biết rễ cây sâu hay cạn.
Tục ngữ cũng có câu: Thức đêm mới biết đêm dài. Nếu chưa bao giờ thức đêm thì làm sao biết đêm dài ngắn thế này. Người cảm thông thật sự, không phải là người đầy kiến thức, hiểu biết, khôn ngoan, nhưng trước hết phải là người đã sống qua, trải qua hoàn cảnh của người đang trong cuộc. Và kinh nghiệm sống cho dù đọc sách bao nhiêu cũng không bằng chính mình trải qua kinh nghiệm đó. Biết, hiểu khác với tin tưởng và kinh nghiệm.
Nếu lớn lên trong một gia đình giàu có, chưa bao giờ thiếu thốn một điều gì thì làm sao có thể thật sự hiểu cho người phải vất vả để kiếm được hai buổi ăn một ngày. Dù có đọc bao nhiêu sách báo, tài liệu, người độc thân vẫn không thực sự hiểu được quan hệ vợ chồng, cha mẹ, con cái trong hôn nhân!
PT 32:10 là một câu KT hết sức ý nghĩa mà có thể dùng cho cả một loạt bài giảng: Chúa tìm thấy dân Ngài trong sa mạc, giữa hoang dã với tiếng gào thét quạnh hiu. Chúa bao phủ, chăm sóc người, che chở người chẳng khác gì con ngươi mắt Ngài. 11 Như chim phụng hoàng khuấy động tổ mình, bay lượn qua lại quanh con mình, dang rộng cánh ra hứng đỡ, rồi cõng chim con trên hai cánh. 12 Một mình CHÚA hướng dẫn dân Ngài, không có thần nào khác (PT 32:10-12 – BDM).
Từ tìm (matsa') trong câu 10 cũng là từ được dùng trong STK khi ĐCT nhận thấy trong số tất cả các loài sinh động vật Chúa tạo trong vườn Ê-đen không có một vật nào thích hợp và tốt đẹp cho A-đam: nhưng về phần A-đam, thì chẳng tìm được một ai giúp đỡ giống như mình hết (STK 2:20). Hay như khi KT xác nhận rằng Nô-e tìm được ơn dưới mắt Chúa: Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt ĐGHV. (STK 6:8).
Với tôi câu KT này là một an ủi rất lớn bởi vì ĐCT không tìm, không chọn dân Ngài từ những nơi sang trọng, quyền chức nhưng từ những nơi mà loài người ít bao giờ để ý để tìm đến. Đây cũng cùng một ý với lời dạy của sứ đồ PL trong 1 Cô-rinh-tô 1:27-29 Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh; 28 Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, 29 để chẳng ai khoe mình trước một Đức Chúa Trời.
Mô-se giải thích cho dân sự mục đích của đồng vắng trước khi họ chuẩn bị để vào đất hứa: Hãy nhớ trọn con đường nơi đồng vắng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã dẫn ngươi đi trong bốn mươi năm nầy, để hạ ngươi xuống và thử ngươi, đặng biết điều có ở trong lòng ngươi, hoặc ngươi có gìn giữ những điều răn của Ngài hay chăng. 3 Vậy, Ngài có hạ ngươi xuống, làm cho ngươi bị đói, đoạn cho ăn ma-na mà ngươi và tổ phụ ngươi chưa hề biết, để khiến ngươi biết rằng loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra. (PT 8:2-3)
ĐCT dùng đồng vắng để hạ ngươi xuống và thử ngươi. Từ hạ có nghĩa là đem từ nơi cao xuống thấp, thành công trở nên thất bại, làm cho khiêm nhường từ lòng kiêu hảnh. ĐCT hạ và thử dân sự trong đồng vắng vì trong đồng vắng dân sự phải hoàn toàn nương cậy vào ĐCT cho nước uống, bánh ăn, cho sự bảo vệ, che chở. Hình ảnh của đám mây ban ngày và cụm lửa ban đêm cho biết chính ĐCT cũng là Đấng dẫn dắt họ trong mỗi chặng đường trong đồng vắng.
Tại sao dân sự phải vào đồng vắng? Tại sao chúng ta phải trải qua những đồng vắng trong đời sống? Để ĐCT hạ và thử dân Ngài, để ĐCT biết rõ mọi điều trong lòng người, để Chúa dạy cho dân Chúa xưa và chúng ta ngày nay rằng chúng ta không phải chỉ sống nhờ bánh, tức chỉ sống để thỏa mãn thân xác này, chỉ sống cho vật chất nhưng phải cần đến lời Chúa cho tâm linh.
Tôi tin với tất cả tấm lòng rằng KT dạy đồng vắng quan trọng và cần thiết cho cuộc đời người theo ĐCJC và đặc biệt với những ai muốn hầu việc Ngài. Đồng vắng là nơi Chúa dùng để huấn luyện tất cả những nhân vật quan trọng, những anh hùng liệt nữ của đức tin trong KT.
Trong đồng vắng khoảng 2 triệu người nô lệ trở nên một dân tộc với luật pháp mà mãi đến hôm nay các quốc gia Tây Phương vẫn còn tiếp tục dùng để làm nền tảng pháp lý cho đất nước, xã hội. Có bao giờ qv hỏi: tại sao ĐCT lại không dùng Mô-se khi ông còn là hoàng tử Ai-cập mà chỉ dùng Mô-se sau 40 năm trời ông chăn chiên trong đồng vắng? Bởi vì ĐCT dùng đồng vắng để dạy dỗ, thay đổi, huấn luyện Mô-se để ông có thể dẫn dân sự vào đồng vắng mà thờ phượng ĐCT và sau đó lãnh đạo dân sự trong 40 năm khi họ đi trong đồng vắng. Trong đồng vắng ĐCT thay đổi Mô-se từ một hoàng tử Ai-cập tài giỏi, khả năng nhưng thiếu sự khiêm nhường, kiên nhẫn, thiếu sự chịu đựng, để chuẩn bị cho ông trở nên một nhà lãnh đạo tài ba nhất trong suốt lịch sử dân tộc Y.
Trong đồng vắng ĐCT thay đổi Đa-vít từ một người trẻ tuổi thành tột đỉnh trở nên một người hoàn toàn tin cậy vào sự bảo vệ của ĐCT, trưởng thành, già dặn, học biết sự tha thứ, khiêm nhường để có thể làm một vị vua tài giỏi thống nhất đất nước. Còn biết bao nhiêu nhân vật khác mà chúng ta có thể kể đến: Áp-ra-ham phải chờ đợi 25 năm dài để nhận được đứa con Chúa hứa ban cho; Y-sắc & Rê-bê-ca 20 năm mới có Gia-cốp & Ê-sau; Ha-gai gặp ĐCT trong đồng vắng khi tưởng như cả mẹ lẫn con đều phải chết. Tiên tri Ê-li được ĐCT ban cho thức ăn, nước uống trong đồng vắng để đi 40 ngày đến núi Hô-rép. Giăng Báp-tít bắt đầu mục vụ nơi đồng vắng. Theo sách PA Mác thì ngay sau khi ĐCJC đã nhận lễ Báp-tem thì ĐTL đưa Ngài vào đồng vắng để chịu ma quỉ cám dỗ.
Sứ đồ PL là người ĐCT dùng cho công việc khó & lớn: viết 13 thư tín, thiết lập bao nhiêu HT tại các vùng Ga-la-ti, Tiểu Á, Âu Châu, tại các thành phố lớn nhất trong thời đó: Giê-ru-sa-lem, Ê-phê-sô, Cô-rinh-tô, A-thên, Phi-líp. Trước khi Chúa được Chúa dùng, PL cũng phải trải qua vào đồng vắng xứ Ariba một thời gian 3 năm trước khi trở lại thành Giê-ru-sa-lem.
Tôi đã chịu khó nhọc nhiều hơn, tù rạc nhiều hơn, đòn vọt quá chừng. Đòi phen tôi gần phải bị chết; 24 năm lần bị người Giu-đa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; 25 ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm. 26 Lại nhiều lần tôi đi đường, nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối; 27 chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói khát, thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ. 28 Còn chưa kể mọi sự khác, là mỗi ngày tôi phải lo lắng về hết thảy các Hội thánh. 29 Nào có ai yếu đuối mà tôi chẳng yếu đuối ư? Nào có ai vấp ngã mà tôi chẳng như nung như đốt ư? (2 Cô-rinh-tô 11:23-29)
Nhưng tôi nghĩ đồng vắng dài rộng mênh mông hơn hết xảy ra trong lúc cuối đời. PL viết trong thư 2 Tim không chỉ về việc bị A-léc-xan-đơ một người thợ đồng làm hại rất nhiều, nhưng còn về điều này: Khi ta binh vực mình lần thứ nhứt, chẳng có ai giúp đỡ; hết thảy đều lìa bỏ ta. Nguyền xin điều đó đừng đổ tội về họ! 17 Nhưng Chúa đã giúp đỡ ta và thêm sức cho ta (2 Tim 4:16-17) Ai lìa bỏ PL trong lần bị xử đó? HT thành La-mã (các tín đồ HT La-mã), tất cả những người bạn đồng công.
Bình luận về 2 câu KT này, một học giả giải kinh viết: Có một số giai đoạn trước của phiên tòa xét xử Phao-lô, trong lần cầm tù thứ hai của ông [lần cuối cùng], mà chúng ta không có chi tiết nào khác - khi các tín hữu HT La Mã và tất cả bạn bè của ông đã bỏ rơi ông, và do đó ông đã kinh nghiệm những đau khổ của ĐCJC, và nếm trải sự cay đắng của tình bạn bỏ rơi khi cần thiết nhất. Nhưng PL không có chút cay đắng nào còn sót lại trong tinh thần ông, và, giống như Chúa của ông, ông cầu nguyện cho những người đã bỏ rơi ông. Ông bị bỏ lại một mình, nhưng Đấng Christ, là Đấng đã mang gánh nặng của Ngài một mình, đã chết để không một tôi tớ nào của Ngài phải biết sự cô độc thê lương như vậy, và chính sự vắng mặt của những người an ủi khác đã làm cho PL càng có nhiều chỗ hơn cho Ngài.
Tuy nhiên những đồng vắng PL trải qua cũng không thể so sánh với những khổ đau, nhục nhả, cô đơn mà ĐCJC phải trải qua khi chịu chết cho tội chúng ta. Có tiếng kêu than nào buồn thảm hơn tiếng của Chúa trên thập giá: ĐCT tôi ơi, ĐCT tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi.
TRONG ĐỒNG VẮNG CHÚNG TA CHỈ CÓ MỘT HY VỌNG TRONG CHÚA
Khi ĐCT sáng tạo trời đất, các loài sinh động vật trên đất, Chúa tạo nên một khu vường tươi tốt, xinh đẹp, đầy đủ cho mọi tiện nghi, thỏa mãn loài người. Chúa đặt A-đam và E-va trong vườn Ê-đen tươi tốt đó. Đồng vắng, sa mạc, hoang mạc là hậu quả của tội lỗi, sau khi con người phạm tội cùng ĐCT. Chúa hứa Ngài sẽ biến sa mạc hoang vu trở nên nơi cây trái nở hoa, kết quả: Đồng vắng và đất khô hạn sẽ vui vẻ; nơi sa mạc sẽ mừng rỡ, và trổ hoa như bông hường. 2 Nó trổ hoa nhiều và vui mừng, cất tiếng hát hớn hở. (Ê-sai 35:1-2). Nhưng cho đến ngày đó, Chúa sẽ tiếp tục dùng đồng vắng, sa mạc để hạ và thử chúng ta, để chúng ta biết nương cậy vào Chúa, để đời sống chúng ta có thể sinh ra bông trái, dù trong đồng vắng.
Tôi đọc XÊDTK đến chi tiết khi dân Chúa ra khỏi xứ Ai-cập, họ được lòng dân bản xứ nên dân cho vàng, bạc, nữ trang, thì thường tự hỏi: nếu họ đi vào đồng vắng thì cần gì vàng bạc, nữ trang, đá quí? Tôi đố con cái Chúa lần đầu tiên họ dùng vàng bạc, nữ trang này là khi nào và để làm gì? Dân sự thấy Môi-se ở trên núi chậm xuống, bèn nhóm lại chung quanh A-rôn mà nói rằng: Nào! hãy làm các thần để đi trước chúng tôi đi, vì về phần Môi-se nầy, là người đã dẫn chúng tôi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, chúng tôi chẳng biết điều chi đã xảy đến cho người rồi. 2 A-rôn đáp rằng: Hãy lột những vòng vàng đeo nơi tai vợ, con trai và con gái các ngươi đi, rồi đem lại cho ta. 3 Hết thảy đều lột vòng vàng nơi tai mình mà đem lại cho A-rôn; 4 người nhận lấy nơi tay họ, và dùng đục làm thành một bò con đúc. Dân chúng nói rằng: Hỡi Y-sơ-ra-ên! nầy là các thần của ngươi đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô. (XEDTK 32:1-4).
Lần sau đó họ dùng nữ trang, vàng bạc để làm gì? Mọi người có lòng cảm động, và mọi người có lòng thành, đều đem lễ vật đến dâng cho Đức Giê-hô-va, để làm công việc hội mạc, các đồ phụ tùng và bộ áo thánh. 22 Phàm người nam cùng nữ, tức mọi kẻ có lòng thành, đều đến đem những hoa tai, nhẫn, khâu, kiềng, các thứ trang sức bằng vàng và hết thảy đều dâng lễ vật bằng vàng cho Đức Giê-hô-va. 23 Kẻ nào ở nhà mình có chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, vải gai mịn, lông dê, da chiên đực nhuộm đỏ, và da cá nược đều đem đến. 24 Hễ ai có chi làm lễ vật bằng bạc hay bằng đồng, đều đem dâng cho Đức Giê-hô-va, và hễ ai có cây si-tim nơi nhà mình dùng hiệp về các công việc tế lễ, đều đem đến. (Xuất 35:21-24)
Trong đồng vắng, dân sự Chúa ngày xưa học bỏ thần tượng để thật sự thờ phượng ĐCT. “Ai uống nước nầy sẽ khát lại, 14 nhưng ai uống nước Ta cho sẽ không bao giờ khát nữa. Nước Ta cho sẽ thành một mạch nước trong người ấy tuôn ra đến sự sống đời đời.” Giăng 4:13-14 – BD2011
Đồng vắng có thể khiến người ta trở nên mạnh mẽ hơn, trưởng thành hơn. Nhưng đồng vắng cũng có thể khiến người ta trở nên chua chát, cay đắng, trắch người, trách Trời. Có người qua đồng vắng lại sinh nhiều bông trái đẹp đẽ, ngọt ngào hơn. Cũng có người qua đồng vắng trở nên èo uột, cằn cõi, chai đá. Sự khác biệt là điều gì người ta đem vào đồng vắng.
Văn hào Nga Alexandr Solzhenitsyn bị chính quyền cộng sản Nga sô bắt đày đi lao động khổ sai tại trại tù nơi giá lạnh xứ Siberia. Tại đó ông bị ung thư chờ chết nhưng được một bác sĩ trẻ người gốc Do Thái Boris Kornfield giải phẩu. Sau cơn giải phẩu Solzhen bị sốt nằm trên miếng chiếu rách. Người bác sĩ trẻ vẫn ngồi cạnh ông và nói chuyện với ông cả buổi tối đó. Ông viết: Lúc đó không còn ai trong trại. Anh kể cho tôi nghe câu chuyện rất dài về sự thay đổi niềm tin từ Do Thái Giáo sang Cơ Đốc một cách say sưa, nhiệt tình. Tôi hết sức ngạc nhiên vì lòng tin chắc chắn của người tín đồ mới này, về những lời nóng cháy của anh.” Chính trong đêm đó bác sĩ Kornfield bị giết bởi các tù nhân khác. Nhưng bởi lời làm chứng đó mà ông tin nhận Chúa. Cũng như bao nhiêu tướng tá tin Chúa trong tại học tập cải tạo.
Khi viết về những năm tháng tù đày, ông có lời: Tôi nuôi dưỡng tâm hồn tôi tại đó. Và tôi có thể hoàn toàn không do dự rằng: “Tạ ơn ngươi, lao tù, vì đã xãy ra trong cuộc đời tôi” Chính trong lao tù, Solzhen ý thức lần đầu tiên rằng ông là người có tội cần được ĐCT cứu chuộc: Chỉ khi tôi nằm đó trên đống rơm tù mục nát, tôi mới cảm nhận được trong mình những khuấy động đầu tiên của điều tốt. Dần dần nó được tiết lộ cho tôi thấy rằng ranh giới ngăn cách thiện và ác không đi qua các quốc gia, cũng không phải giữa các giai cấp, cũng không phải giữa các đảng phái chính trị, mà xuyên qua mọi trái tim con người, và qua tất cả trái tim con người.
It was only when I lay there on rotting prison straw that I sensed within myself the first stirrings of good. Gradually it was disclosed to me that the line separating good and evil passes not through states, nor between classes, nor between political parties either, but right through every human heart, and through all human hearts.” Rằng mục đích chính yếu của đời sống không là phải sự giàu có như chúng ta thường nghe, nhưng để chúng ta biết Chúa, có quan hệ với Ngài và được trưởng thành trong đời sống tâm linh.
