Bài Học Ân Điển Từ Gia Phổ Chúa Giê-xu: Gốc Tích về Nguồn Sáng Thế Gian
Tại sao MS lại giảng về ân điển và gia phổ ĐCJC trong mùa GS?
Sự giáng sinh của ĐCJC là bằng chứng cụ thể nhất, quí báu nhất về ân điển của ĐCT cho nhân loại. Ân điển là gì? Là món quà quí báu mà người nhận không đáng được nhận. 2 người cùng làm 1 việc như nhau. 1 người làm rất giỏi, người kia làm rất dỡ. Đến khi lên lương, không ai ngạc nhiên khi người giỏi được nhận nhiều. Điều đó chỉ là công bằng. Ân điển là khi người làm rất dỡ mà vẫn được tăng lương cao. [Liên hệ đến ngụ ngôn ĐCJC kể về người làm công trong vườn nho (Ma-thi-ơ 20:1-16). Người được mướn lúc 9am, 12pm, 3pm, 5pm cùng nhận một đồng đơ-ni-ê]
GS là ân điển cụ thể, quí báu nhất ĐCT ban cho loài người. Con Trời hạ thế làm người để cuối cùng hy sinh chịu chết đau đớn, tủi nhục trên thập giá để cứu tội con người. Có món quà nào quí báu hơn?
GS là ứng nghiệm của lời hứa về sự cứu rỗi từ hàng ngàn năm trước đó đã được ghi lại trong KTCU. Sự cứu rỗi sẽ đến từ một Đấng Mê-si, Đấng được xức dầu, được chọn. Đầu tiên là lời hứa với A-đam & E-va ngay sau khi phạm tội trong vườn Ê-đen. Sau đó các lời hứa Đấng Cứu Tinh cùng rất nhiều nhân vật chính yếu trong KTCU trong suốt gần 2000 năm.
Tại sao lại gia phổ? Bởi vì khi tìm hiểu gia phổ ĐCJC chúng ta mới nhận biết rõ về một ân điển lớn lao, quí báu của ĐCT cho loài người. Ân điển đó là sự cứu rỗi không chỉ là món quà ban cho từ ĐCT nhưng còn là món quà cho những người hoàn toàn không đáng nhận lãnh. Đúng như ĐCJC đã phán: Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Không phải người khỏe mạnh cần thầy thuốc, song là người đau ốm. Ta không phải đến gọi kẻ công bình hối cải, song gọi kẻ có tội. (Lu-ca 5:31-32)
THỂ HIỆN CỦA ÂN ĐIỂN QUA GIA PHỔ ĐCJC
Một trong những bày tỏ cụ thể nhất về ân điển của Đấng tràn đầy ân điển và lẽ thật là gia phả ĐCJC theo Ma-thi-ơ 1:1-6, 12-17. Qv có thể vô cùng ngạc nhiên khi tôi nói ân điển và lẽ thật Chúa bày tỏ trong đoạn KT khô khan, và dường như không cần thiết này.
Gia phả hay gia phổ là bản ghi chép lại danh sách của ông bà tổ tiên một người, một dòng họ theo thứ tự thời gian. Thời đó gia phả có thể được xem như lý lịch cá nhân của một người vì khi đọc có thể biết được nguồn gốc, dòng họ của cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Gia phả cho biết về dòng dõi người đó. Cho biết gốc gác, thân thế của ông bà, cha mẹ họ và cho biết về họ.
Đối với dân Ỵ gia phổ còn quan trọng hơn là chi tiết về thân thế một người. Đọc sách Ru-tơ chúng ta biết dựa theo dòng họ mà Bô-ô mới có thể chuộc lại đất cho con trai bà Na-ô-mi. Để có thể chuyển nhượng thẩm quyền của đất đai, mua bán đất đai, người ta phải chứng minh họ là con cháu của chủ đất qua gia phổ. Gia phổ cũng quyết định cho việc kiểm tra dân số như Giô-sép & Ma-ri dù ở làng Na-xa-rét phải đi đến làng Bết-lê-hem cho việc kiểm tra dân số vì thuộc về dòng Đa-vít.
Quan trọng hơn nữa, gia phổ xác nhận một người có thuộc về dòng dõi vua chúa, hoàng tộc, hay thuộc dòng thầy tế lễ hay không. Một câu KT trong sách Ê-xơ-ra giải thích rất rõ điều kiện của một người được chọn làm thầy tế lễ phải chứng minh bằng gia phổ: Những người nầy tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không tìm được nên người ta kể họ là ô uế, và bị truất khỏi chức tế lễ. (Exo 2:62 - BHĐ).
Nhưng mục đích chính Ma-thi-ơ và Lu-ca ghi lại gia phổ ĐCJC là để chứng minh rằng Ngài chính là Đấng Mê-si thuộc dòng vua Đa-vít. Tôi xin dùng vài phút để giải thích vài điểm khác biệt quan trọng giữa 2 gia phổ theo M & L.
Gia phổ theo M. bắt đầu từ Áp-ra-ham cho đến Giô-sép, tức từ quá khứ đến hiện tại. Gia phổ theo L. bắt đầu từ Giô-sép đến A-đam tức từ hiện tại trở ngược thời gian về quá khứ.
L. nêu lên 77 tên trong gia phổ. M 42 tên. Bởi vì gia phổ theo L. trở ngược lại đến A-đam nên có thêm một số tên từ A-đam đến Áp-ra-ham. Giữa Áp-ra-ham đến Đa-vít, cả 2 gia phổ đều có cùng tên. Từ Đa-vít đến Giô-sép/Ma-ri, các tên hoàn toàn khác nhau.
Theo nhiều học giả KT thì M. ghi lại gia phổ theo dòng Giô-sép tức theo dòng họ cha, L. theo dòng Ma-ri, tức theo dòng họ mẹ. Giô-sép thuộc dòng dõi Sô-lô-môn, con trai đầu của Đa-vít & Bát-sê-ba. Ma-ri thuộc dòng Na-than, con trai thứ ba của Đ. & B.
Tuy nhiên cả hai gia phổ xác nhận rằng dù theo dòng họ cha hay mẹ, Jesus chính thật là hậu tự của vua Đa-vít.
Cả hai gia phổ xác nhận sự thụ thai mầu nhiệm của ĐCJC bởi ĐTL. Theo pháp lý ĐCJC là con Giô-sép nhưng về thể xác Ngài là con thụ thai bởi ĐTL. Gia-cốp sanh Giô-sép là chồng Ma-ri; Ma-ri là người sanh Đức Chúa Jêsus, gọi là Christ. (Ma-thi-ơ 1:16) Theo người ta tin thì Ngài là con Giô-sép (Lu-ca 3:23). Một điều đáng chú ý là L. chủ ý ghi lại câu chuyện báp-tem của ĐCJC trước gia phổ. Mục đích là để xác nhận ĐCJC chính là Ngôi Hai ĐCT được chính ĐCCha xác nhận là Ngài là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Cha hoàn toàn. Nhưng ĐCJC cũng chính là hậu tự của Đa-vít như tiên tri CU đã viết. Như lời một bài thánh ca GS viết: dẫu Chúa có hình thể như ta, vẫn chiếu sáng thần thánh như Cha.
Vì gia phả cho biết về dòng dõi người đó, cho biết gốc gác, thân thế của ông bà, cha mẹ họ và cho biết về họ. Vì vậy không ai muốn có một gia phả có vết bẩn, vết dơ, vết xấu cả.
Một người có máu hoàng tộc thì cha mẹ, ông bà, tổ tiên của người đó phải là những người trong hoàng tộc, vua chúa. Như hoàng tử Williams của Anh quốc hay công chúa của xứ Monaco… Nếu trong vòng ông bà, tổ tiên tôi có người làm thủ tướng, bộ trưởng, thống đốc thì chắc tôi sẽ nêu tên những người đó với chữ hoa và đậm để làm nổi bật chi tiết đó. Tôi hãnh diện là con cháu trong dòng dõi đó. Trái lại nếu là con cháu của trùm băng đảng thì thật khổ khi phải làm gia phả mình! Xấu hổ, nhục nhả biết bao! Thử nghĩ phải viết “ông nội tôi là trùm băng đảng Khánh Hội bị bắn chết bởi trùm băng đảng Tôn Đảng!”
Gia đình nổi tiếng lại càng gìn giữ mặt mũi, không muốn bất cứ người ngoài nào biết điều không hay, không tốt về gia đình mình:
Câu chuyện về bà Rosemary Kennedy trong quyển sách mới ra. Bài viết từ báo WSJ có tựa là “The Saddest Story Ever Told”. Cô là người con thứ ba trong gia đình chín anh chị em thuộc một gia đình hết sức nổi tiếng. Cha là triệu phú; anh là tổng thống, thượng nghị sĩ, bộ trưởng tư pháp… Trí tuệ chậm phát triển, trong tuổi thành niên mà suy nghĩ như trẻ em 9 tuổi, nhưng khỏe mạnh, vui vẻ, đầy sức sống. Khi 19 tuổi, cha được bổ nhiệm làm đại sứ HK tại Anh quốc. Năm 22 tuổi trong một lần nghĩ hè cô tỏ sự bạo động, đánh các anh chị em khi giận. Một lần người ta tìm thấy cô lang thang trên đường phố thủ đô DC lúc 2:00am. Để tránh sự xấu hổ cho gia đình nên năm cô 23 tuổi, cha quyết định để bác sĩ làm phẩu thuật lobotomy (cắt một phần não bộ để làm cho người bệnh tâm thần dịu lại!) Cuộc giải phẩu hoàn toàn thất bại, khiến cho cô không nói được và không đi được. Sau một thời gian vật lý trị liệu cô hồi phục việc đi đứng nhưng vẫn còn khuyết tật (đi với chân bẻ ra ngoài) và có thể nói vài chữ. Cô không thể tự chăm sóc mình mà cần người thường xuyên chăm nom. Cô được chuyển vào một tu viện năm cô 30 tuổi và ở đó 56 năm! Người mẹ tên Rose không hề một lần đến thăm con gái mình trong 20 năm. Chỉ một lần khi đến một phi trường gần tu viện, người mẹ gọi các nữ tu đem con gái mình ra phi trường để gặp. Khi bà Rose tiến đến để ôm thì Rosemary gào thét và đấm vào ngực người mẹ đã bỏ mình trong suốt 20 năm dài. Bà Rosemary mất lúc 86 tuổi như một người hoàn toàn tàn phế!
Một nhân vật trong câu chuyện giáng sinh là vua Hê-rốt, người giết các con trẻ sau khi biết các học sĩ Đông Phương không cho biết con trẻ mới sinh tại đâu. Sử gia không hề biết rõ về gia phả của hắn vì hắn thường sửa đổi chi tiết. Mục đích là để dấu đi những điều không tốt trong gia đình, dòng họ và thêm thắt vào những chi tiết làm nổi bật. Điều này cũng không khác mấy với người làm lý lịch xin việc làm hôm nay. Nhưng trong gia phả ĐCJC có ba điều thật lạ lùng, kinh ngạc, không thể ngờ được.
Thứ nhất, gia phả có tên những người phụ nữ. Ngày xưa, gia phả thường không có tên phụ nữ. Tại sao? Rất đơn giản: vì phụ nữ không cùng vai vế với nam giới, thấp hơn nam giới. Khi Trung quốc có chính sách 1 con/1 gia đình, thì hầu hết cha mẹ đều muốn có con trai, dù có khi phải phá thai hay bỏ rơi con gái. Ngay cả một số nước hồi giáo hôm nay vẫn xem phụ nữ chỉ có giá trị 1/2 nam giới!
Thứ hai, gia phả Chúa có tên dân ngoại, gồm giống dân bị xem thường, khinh dễ như người Mô-áp, Ca-na-in. Như Tha-ma (người Ca-na-in), Ra-hab (Ca-na-in), Ru-tơ (Mô-áp). Những dân này cấm không được vào vòng sân thứ nhất của đền thờ, nhưng lại có tên trong gia phả Đấng Mê-si?
Người hoạn, hoặc vì ngoại thận bị dập, hay là bị cắt, sẽ không được phép vào hội của Đức Giê-hô-va. 2 Con ngoại tình không được phép vào hội của Đức Giê-hô-va, dầu đến đời thứ mười cũng chẳng vào được. 3 Dân Am-môn và dân Mô-áp sẽ không được phép vào hội Đức Giê-hô-va, dầu đến đời thứ mười cũng chẳng hề bao giờ vào được (PTLLK 23:1-3)
Thứ ba, gia phả Chúa có tên những người thiếu đạo đức, phẩm hạnh, xấu nết. Ra-háp là người kỵ nữ bán thân. Có thể nào Ma-thi-ơ không biết hay hiểu lầm? Tha-ma có con với cha chồng! Chú ý Ma-thi-ơ nêu tên hai người con của Giu-đa và Tha-ma là Pha-rê và Xa-ra. Lý do? Chủ ý nhắc lại quan hệ loạn luân này! Bát-sê-ba tà dâm cùng Đa-vít và sinh ra Sô-lô-môn. Tổ tiên ĐCJC gồm những người sinh ra bởi những quan hệ tội lỗi, không đạo đức. Qv có muốn trong gia phổ có bà cố, bà sơ là kỹ nữ hay ăn ở với cha chồng, hay phạm tội tà dâm rồi sinh ra ông ngoại không? Dĩ nhiên không, trăm ngàn lần không.
Cũng chú ý ĐCJC thuộc dòng dõi Gia-cốp, là người nắm gót chân anh mình, người thủ đoạn gạt anh và cha để lấy quyền trưởng nam. Và dòng dõi Giu-đa ăn ở cùng con dâu! Thay vì thuộc dòng dõi Giô-sép là người chân chính, đạo đức, thủ tướng xứ Ai-cập, người cứu cả dòng họ, gia đình, cha anh.
Chúa cũng không thuộc dòng hoàng gia như giữa Đa-vít và con gái vua Sau-lơ là Mi-canh nhưng lại là con cháu từ một vụ tà dâm giữa Đa-vít và Bát-sê-ba.
Trong số 19 vị vua cai trị xứ Giu-đa sau khi đất nước chia cắt làm hai vương quốc từ sau vua Sô-lô-môn, gia phổ Ma-thi-ơ ghi lại tên của 13 vua. Trong 13 tên của các vua này, chỉ có 6 được xem là tốt, vâng phục ĐCT, còn 7 tên kia đều là xấu, đặc biệt vua Ma-na-sê dâng chính con mình cho tà thần. Nếu A-háp là vị vua xứ Y-sơ-ra-ên miền Bắc được xem là độc ác và chống nghịch cùng ĐGHV nhất thì Ma-na-sê là vị vua xấu xa, chống nghịch cùng ĐGHV nhất trong số 19 vua xứ Giu-đa. Tại sao Ma-thi-ơ lại liệt tên các vị vua xấu nghịch cùng ĐGHV trong gia phổ ĐCJC? Ân điển. Không ai xứng đáng nếu xét về công đức, về đời sống đạo đức cá nhân. Tất cả chỉ bởi ân điển.
Hãy dừng lại và suy nghĩ. Quả thật đây là những điều hết sức ngạc nhiên, kinh ngạc. No way. Chắc Ma-thi-ơ ghi lộn rồi, hay ma quỉ xúi Ma-thi-ơ ghi lại những nhân vật xấu xa này trong gia phả Chúa? Mỗi nhân vật đã nêu lên theo luật pháp Mô-se đều bị đuổi ra khỏi sự hiện diện của ĐCT, bị xử chết. Loạn luân. Tà dâm. Bán thân. Hãy đọc PTLLK 22, 23, Lê-vi-ký 18 sẽ biết hậu quả của những tội này.
Theo luật pháp Mô-se không một người nào trong số này được vào sân đền thờ, nói chi đến bên trong đền thờ, nói chi đến được gặp ĐCT thánh khiết. Nhưng qua ĐCJC những người này giờ được vào trong nhà Chúa.
Chú ý gia phả khi nói về Sô-lô-môn, Đa-vít bởi vợ của U-ri sanh Sa-lô-môn (1:6). Vợ của U-ri, chớ không phải vợ của Đa-vít. Hai điều: 1) Dù là vua có thể chiếm vợ người, nhưng dưới mắt ĐCT Bát-sê-ba vẫn là vợ của U-ri [kể chuyện U-ri], 2) Sa-lô-môn, vị vua khôn ngoan nhất, giàu có nhất là con của một quan hệ tà dâm (như khi viết về Giu-đa bởi Tha-ma sanh Pha-rê và Xa-ra).
Đa-vít là vị vua nổi bật nhất trong lịch sử Y-sơ-ra-ên. Là người có công thống nhất đất nước. Anh hùng dân tộc từ lúc còn trẻ tuổi. Người được ĐCT gọi là người làm vừa lòng Chúa. Nếu trong dòng dõi gia phả ĐCJC hy vọng lớn nhất để chuộc lại những vết nhơ trước đó từ Tha-ma, Ra-háp chính là Đa-vít. Nhưng ngay cả Đa-vít cũng phạm tội tày trời, và Sa-lô-môn là kết quả của tội tà dâm.
KT qua gia phả ghi lại bởi Ma-thi-ơ cho chúng ta biết một điều vô cùng quan trọng: Trong gia đình của Chúa Jesus không một ai xứng đáng về công đức, nhưng chỉ bởi ân điển. Hãy xem lại gia phả: người gạt gẫm cha anh, người ăn ở cùng cha chồng, phụ nữ, kỵ nữ, người Mô-áp, người Ca-na-in, vua, người phạm tội tà dâm, người có chồng bị giết. Tất cả đều ngồi trong bàn của gia đình ĐCJC. Lý do? Chỉ bởi ân điển. Duy ân điển.
Về tiêu chuẩn, không ai có thể đủ để được nhận vào gia đình Chúa. Nhưng qua ân điển những tội nhân mà xã hội khinh bỉ nhất, xa lánh nhất, tồi tệ nhất sẽ được vào nước Trời. Đây chính là ý nghĩa sâu sắc và yên ủi của mùa Giáng Sinh: qua ĐCJC, mọi người, dù bất cứ giống dân nào, địa vị nào, đạo đức quá khứ thế nào, giòng dõi thế nào vẫn được nhận là con trai, con gái của ĐCT. Qua ĐCJC có nghĩa là gì? Khi Chúa đổ huyết trên thập giá cho tội lỗi nhân loại, huyết đó như một cái áo công chính mà ai được mặc vào sẽ được xưng là công bình. ĐCT nhìn thấy tấm áo công chính của Con Độc Sinh và không còn nhìn thấy tội lỗi chúng ta. Chính vì lý do này, PL viết về sự cứu rỗi là ân điển, một món quà vô giá từ ĐCT qv không xứng đáng được nhận: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình;
ĐẤNG BAN CHO SỰ YÊN NGHĨ (SABATH REST)
Chú ý phần kết của gia phả: Như vậy, từ Áp-ra-ham cho đến Đa-vít, hết thảy có mười bốn đời; từ Đa-vít cho đến khi bị đày qua nước Ba-by-lôn, cũng có mười bốn đời; và từ khi bị đày qua nước Ba-by-lôn cho đến Đấng Christ, lại cũng có mười bốn đời. (1:17) Trong gia phả khi Ma-thi-ơ viết Áp-ra-ham sanh Y-sắc, hay Ra-háp sanh Bô-ô thì không hẵn có nghĩa là người sanh là cha, là mẹ. Từ sanh đây là genea, generation có nghĩa là tổ tông của. Vậy có những nơi trong gia phả khi Ma-thi-ơ viết người này sanh người kia thì ông có thể bỏ qua nhiều đời, nhiều thế hệ.
Vậy tại sao 14, 14, 14? 14+14+14 = 42 cũng có thể viết thế này 7+7+7+7+7+7 = 42. Vậy ĐCJC là thế hệ 7 sau 6 thế hệ, hay thế hệ thứ 7 của 7. Đọc giả của sách Ma-thi-ơ là người Y-sơ-ra-ên hiểu được ý nghĩa của điều này. Trước hết số 7 tượng trưng cho sự trọn vẹn, hoàn hảo. Ngày Sa-bát, ngày nghĩ ngơi là thứ 7 trong tuần. Nhưng thứ 7 của 7 lại có một ý nghĩa khác quan trọng
Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên rằng: Khi các ngươi đã vào xứ ta sẽ ban cho rồi, thì đất phải nghỉ, giữ một lễ sa-bát cho Đức Giê-hô-va. 3 Trong sáu năm, ngươi sẽ gieo ruộng và hớt nho mình, cùng thâu hoạch thổ sản. 4 Nhưng năm thứ bảy sẽ là năm sa-bát, để cho đất nghỉ, tức là một năm sa-bát cho Đức Giê-hô-va; ngươi chẳng nên gieo ruộng mình hay là hớt nho mình; (Lê-vi-ký 25:2-4)
Các ngươi hãy tính bảy thất niên, tức là bảy lần bảy năm, để có một thời kỳ bốn mươi chín năm. 9 Vào ngày mồng mười tháng bảy, tức là ngày lễ chuộc tội, phải thổi kèn vang dội khắp trong nước. 10 Phải biệt riêng năm thứ năm mươi làm năm thánh và công bố tự do khắp nơi cho mọi cư dân trong nước. Đó là năm hoan hỉ cho các ngươi, vì mỗi người sẽ nhận lại tài sản của mình và được trở về với gia đình mình. 11 Vì năm thứ năm mươi là năm hoan hỉ của các ngươi nên đừng gieo trồng cũng đừng gặt hái hoa lợi tự mọc trong đồng ruộng và đừng hái nho trên cây nho các ngươi không tỉa sửa. 12 Đó là năm hoan hỉ và năm thánh cho các ngươi (Lê-vi-ký 25:8-10 - BDM)
Năm 50 là năm hoan hỉ (Jubilee year), dân sự không những nghĩ mà còn được xóa hết nợ. Đất sẽ được trả lại, người nô lệ sẽ được tự do, nợ sẽ được xóa sạch. Đây là cơ hội để làm lại cuộc đời, hoàn toàn bắt đầu lại mới. Qv có thấy dụng ý của Ma-thi-ơ trong gia phả ĐCJC không?
ĐCJC chính là Đấng Hoan Hỉ, Đấng sẽ đem đến năm hoan hỉ. ĐCJC cũng là sự yên nghĩ ngày Sa-bát. Ngài xóa hết tội chúng ta, ban cho một cuộc đời mới. Ngài cũng sẽ đem lại sự yên nghĩ.
Gia phả ĐCJC nói lên hai điều về Tin Lành:
Qv và tôi và tất cả mọi người đều không xứng đáng vào gia đình Chúa. Tội của chúng ta sâu hơn, nặng hơn, đậm hơn, tồi tệ hơn chúng ta nghĩ. Gia đình Chúa gồm tội nhân, ai từ chối sự thật này từ chối gia phả Jesus. Nhưng Tin Lành là ĐCT qua ĐCJC yêu thương chúng ta hơn chúng ta hy vọng. Chúa cứu qv và tôi qua ân điển bởi đức tin, như ĐCT đã nhận Tha-ma, Ra-háp, Ru-tơ, Đa-vít, vợ U-ri vào gia đình dù họ là những người hoàn toàn không xứng đáng. ĐCJC giáng sinh đã phá bỏ mọi ranh giới, hàng rào, bờ tường của chủng tộc, màu da, giới tính, học thức, địa vị, quá khứ, gia phả.
ĐCJC là Đấng Hoan Hỉ, đem lại sự hoan hỉ, sự yên nghĩ, bình an thật sự
Đây là Tin Lành, tin vui mừng của sự Chúa giáng sinh. Phụ nữ ngồi cùng bàn trong gia đình Chúa. Dân ngoại ngồi cùng bàn trong gia đình Chúa với dân tuyển. Vua ngồi cùng với kỹ nữ. Người mắc tội loạn luân ngồi cùng với người mắc tội tà dâm. Người lừa dối cha anh, cướp quyền trưởng nam ngồi cùng bàn với người làm vui lòng ĐCT. Đây là Tin Lành, tin vui mừng của sự Chúa giáng sinh: mọi người, bất kể mọi người đều có thể được dự tiệc chiên Con và nhận được sự yên nghĩ thật sự trong Chúa.
ĐỂ ĐÓN NHẬN ÂN ĐIỂN
Khi nghe nói sự cứu rỗi đến từ ân điển bởi đức tin, là món quà tặng của ĐCT cho con người tội lỗi, nhiều người cười thầm, nghĩ rằng đạo gì mà dễ như vậy. Dễ cho những người khiêm nhường, ý thức mình là người có tội, không thể tự cứu mình. Nhưng rất khó cho những người kiêu ngạo nghĩ rằng tự công sức, đạo đức của họ có thể cứu họ. Cản trở chính để một người đón nhận ân điển là sự kiêu ngạo.
Trước hết tôi muốn phân biệt rõ hai từ: hãnh diện và kiêu ngạo. Theo tự điển VN hãnh diện là cảm thấy hài lòng về điều mình được hay làm và sung sướng để lộ bên ngoài. Hãnh diện là một cảm xúc thật và thông thường khi thực hiện được điều gì tốt đẹp. Như khi một người bà nhìn cháu mình hát cho Chúa thấy lòng thật vui và hãnh diện. Như khi tôi hãnh diện về HT Chúa vì niềm vui khi bước vào nhà Chúa và sự hiệp một trong Chúa trong vòng tín đồ. Một tác giả viết: Sự hãnh diện là niềm tin vào ý tưởng ĐCT đã có khi Ngài tạo ra chúng ta.”
Hãnh diện sẽ biến thành kiêu ngạo khi bắt đầu so sánh kết quả của mình với người và chỉ hài lòng (vui) khi hơn người. Định nghĩa của kiêu hãnh là tỏ ra tự hào với người khác về giá trị của mình, về những cái mình có so với người.
Một người có thể hãnh diện về chiếc xe cũ nhưng chạy rất tốt vì mình đã bỏ công sức bảo trì thường xuyên; nhưng một người kiêu hãnh muốn một chiếc xe mắt tiền hơn, có nhãn hiệu hơn để được hơn người. Một người có thể hãnh diện vì công việc khó nhọc mình làm hết lòng, hết sức như lời Chúa dạy; nhưng một người kiêu ngạo muốn công việc mình làm phải nổi bật hơn người khác, phải được chú ý, tôn trọng. Một người hãnh diện về điều mình có và hài lòng với những điều đó; nhưng một người kiêu hãnh chỉ vui khi những gì họ có hơn người. Satan không chỉ hãnh diện về những gì ĐCT ban cho nó; nhưng trở nên kiêu ngạo khi muốn như ĐCT.
Sự kiêu ngạo là một tội rất lớn trước Chúa. Dưới đây là một vài câu KT về tội kiêu ngạo.
Tuy nhiên Ngài lại ban ân sủng nhiều hơn, vì thế có lời chép rằng, “Ðức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, Nhưng ban ân sủng cho người khiêm nhường. (Gia-cơ 4:6 – BD2011); Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là ghét điều ác; Ta ghét sự kiêu ngạo, xấc xược, con đường ác, và miệng gian tà. (CN 8:13); Khi kiêu ngạo đến, sỉ nhục cũng đến nữa; Nhưng sự khôn ngoan vẫn ở với người khiêm nhượng. (CN 11:2); Mọi tấm lòng tự cao đều ghê tởm đối với CHÚA; Chắc chắn chúng sẽ không tránh khỏi hình phạt. (CN 16:5 - BDM); Hãy để người khác khen con, chứ không phải miệng con; Hãy để người ngoài khen con chứ không phải môi con. (CN 27:3);
Ngươi khá vào nơi vầng đá, ẩn mình trong bụi đất, đặng tránh khỏi sự kinh khiếp Đức Giê-hô-va và sự chói sáng của uy nghiêm Ngài. 11 Con mắt ngó cao của loài người sẽ bị thấp xuống, sự kiêu ngạo của người ta sẽ bị hạ đi; trong ngày đó chỉ Đức Giê-hô-va là tôn trọng. 12 Vì sẽ có một ngày của Đức Giê-hô-va vạn quân đến trên mọi vật kiêu căng, ngạo mạn, tự cao; nó sẽ bị hạ xuống (Ê-sai 2:10-12)
Con người từ chối Đấng đầy ơn và lẽ thật, từ chối ân điển khi họ kiêu ngạo, tự hào rằng tự tôi có thể tạo nên mọi điều tôi đang có trong đời nên không cần gì đến Chúa. Họ tự bảo rằng tôi là chủ của đời tôi; tại sao tôi phải để ĐCT là chủ, là chúa của cuộc đời tôi. Con người từ chối Chúa vì như những dân đã họp lại với nhau để cất cái tháp cao đến tận trời để làm cho rạn danh mình thay vì rạn danh ĐCT. Vì tự hào rằng họ có những cái áo do chính họ tạo ra, không cần đến cái áo do chính ĐCT ban cho như đã ban cho A-đam & E-va: những cái áo của sự thành công, danh vọng, quyền chức, tài của, sắc đẹp, học vấn…
Dĩ nhiên có nhiều dấu hiệu để biết sự kiêu ngạo, tôi chỉ xin nêu ra bốn điều:
Tìm lỗi của người. Sự kiêu ngạo làm cho người ta mù trước lỗi của mình, nhưng cũng mù trước điều tốt của người. Khó cho người kiêu ngạo thật sự khen ngợi ai, hay nhận lấy sự khen ngợi từ những người họ nghĩ hiểu biết ít hơn mình. Khi nghe lời Chúa dạy không nghĩ rằng Chúa dạy tôi, nhưng anh này, chị nọ cần nghe những điều này để biết sai, để thay đổi. John Edwards viết: Người kiêu ngạo về tâm linh bày tỏ qua việc tìm lỗi của anh chị em trong Chúa… Người tin Chúa khiêm nhường là người có nhiều việc nhà phải làm vì thấy quá nhiều tội lỗi của chính mình nên không có thời gian để tìm lỗi của người.
Thái độ khó khăn, khắc nghiệt. Người kiêu ngạo phê bình, khinh khi, lên án, chỉ trích tội người cách khắc nghiệt. Sự kiêu ngạo bày tỏ qua sự khi dễ, coi thường nỗ lực, cố gắng của người, có vậy mà làm không được, mà cũng không hiểu. Không muốn hay tránh làm việc chung với những người xem là kém hơn mình. Nếu ĐCJC phán xét tôi và qv cách khắc khe, nghiệt ngã như chúng ta đối với anh chị mình thì ai trong chúng ta có thể vào thiên đàng?
Mau tự bào chửa, không thấy lỗi mình. Khi người khác làm lỗi thì họ thật là tệ, hay dở, hay ấu trỉ. Nhưng khi tôi làm lỗi thì bởi vì người khác tệ, dở hay ấu trỉ.
Thèm khát sự chú ý, tôn trọng, ca ngợi. Tại sao không ai để ý đến việc tôi làm mà chỉ để ý đến việc người này, người nọ; bộ tôi kém hơn họ hay sao? Họ ăn không ngon, ngủ không yên vì không ai để ý đến tôi, không ai biết quí công ơn của tôi. Tôi thú thật nhiều lúc tôi buồn tức vì chia sẻ điều này điều nọ nhưng không ai để ý nghe, nhưng sau đó họ lại đến nói với tôi: ồ tôi mới học được điều mới này khi nghe bài giảng của mục sư trên mạng!
Làm sao để tránh được những điều này? Để những lời dạy này của Phao-lô nhắc nhở thường xuyên: Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có, 6 Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự. (Phi-líp 2:5-8)
Người kiêm nhường là người đón nhận cái áo công chính từ ĐCJC. Cũng chính vì lý do này trong gia đình Chúa, không ai khoe mình. Khi vào nhà Chúa, hãy để mọi bằng cấp, mọi tài của, mọi chức vị bên ngoài và đến với Chúa, với anh chị em trong Chúa với con người thật, tội lỗi, xấu xa, nhưng được che phủ bởi áo công chính của ĐCJC. Nếu chúng ta đã nhận ân điển thì cũng phải học đối xử với người cách nhân hậu. Ân điển dạy chúng ta hai điều:
1) Qv và tôi và tất cả mọi người đều không xứng đáng vào gia đình Chúa. Tội của chúng ta sâu hơn, nặng hơn, đậm hơn, tồi tệ hơn chúng ta nghĩ. Gia đình Chúa gồm tội nhân, ai từ chối sự thật này từ chối gia phả Jesus. Nhưng Tin Lành là ĐCT qua ĐCJC yêu thương chúng ta hơn chúng ta hy vọng. Chúa cứu qv và tôi qua ân điển bởi đức tin, như ĐCT đã nhận Tha-ma, Ra-háp, Ru-tơ, Đa-vít, vợ U-ri vào gia đình dù họ là những người hoàn toàn không xứng đáng. ĐCJC giáng sinh đã phá bỏ mọi ranh giới, hàng rào, bờ tường của chủng tộc, màu da, giới tính, học thức, địa vị, quá khứ, gia phả.
2) ĐCJC là đường đi, lẽ thật, sự sống, nhưng cũng là Đấng đầy ân điển. Chúa là Đấng sẽ phán xét tội nhân trong ngày cuối nhưng cũng là Đấng đã chết cho người có tội. Chúa buộc tội nhưng cũng tha tội cho những ai thật sự ăn năn. Vậy là người theo Chúa chúng ta cần học biết và thực hành cả hai: lẽ thật và ân điển.
Đây là Tin Lành, tin vui mừng khi Đấng đầy ơn và lẽ thật giáng sinh. Phụ nữ ngồi cùng bàn trong gia đình Chúa. Dân ngoại ngồi cùng bàn trong gia đình Chúa với dân tuyển. Vua ngồi cùng với kỹ nữ. Người mắc tội loạn luân ngồi cùng với người mắc tội tà dâm. Người lừa dối cha anh, cướp quyền trưởng nam ngồi cùng bàn với người làm vui lòng ĐCT. Mọi người, bất kể mọi người đều có thể được dự tiệc chiên Con và nhận được sự tha thứ và ân điển từ Chúa.
Một ví dụ là về 2 gia đình từ 2 nhân vật trong lịch sử HK đã được nghiên cứu rất nhiều là Jonathan Edwards và Max Jukes.
Jonathan Edwards là một mục sư, một nhà thần học lỗi lạc của HK, sống trong thế kỷ 18. Ông lập gia đình với một phụ nữ hết sức tin kính Chúa như chính ông. Trên 900 con cháu, hậu tự của hai vợ chồng Edwards được ghi nhận trong cuộc nghiên cứu. Trong số đó có 430 mục sư, truyền giáo, giáo sư trường thần học, 13 viện trưởng các trường đại học, 86 giáo sự đại học, 314 phục vụ trong quân đội, 75 tác giả, 100 luật sư, 30 thẩm phán, 66 bác sĩ, 80 người giữ các chức vụ trong chính quyền gồm 3 thượng nghị sĩ, 7 hạ nghị sĩ, 3 thị trưởng thành phố, 3 thống đốc tiểu bang, 1 phó tổng thống.
Max Jukes sanh vào khoảng 1720, là một người vô thần, chủ trương một cuộc sống phóng khoáng ngoài đạo lý, luật pháp. Ông nhậu nhẹt, say sưa, lười biếng trước việc nặng nhọc; lấy một người đàn bà cũng có tính tình giống như vậy. Người nghiên cứu tìm được trên 1000 con cháu, hậu tự của Max Junes. Trong số đó có 310 người xin ăn, 440 nghiện ngập rượu hay thuốc cấm, 7 kẻ giết người, 130 người bị tù mỗi người trung bình 13 năm, 60 người ăn cướp, 190 làm gái bán thân. Trong số 20 người có nghề nghiệp, 10 người học nghề từ trong tù. Ước tính 1,200 người con cháu đó của Max Junes tốn tiểu bang 1.5 triệu và họ không cống hiến bất cứ gì cho xã hội.
