Ân Điển của Chiên Con (2): Bóng về Con Chiên và Hình trong Chiên Con Đức Chúa Trời
Trong mùa TK và PS năm nay tôi muốn chia sẻ với HT Chúa 2 đoạn KT/2 câu chuyện trong KTCU viết về con chiên. Hai câu chuyện này về con chiên là bóng mà hình là Chiên Con ĐCT, là ĐCJC. Trong nhiều bài giảng trước đây tôi đã giải thích rằng KTCU là bóng mà hình ở trong KTTU. Có thể nói không có CU người tin Chúa không quí TU, nhưng không có TU thì người tin Chúa sẽ không thể nào hiểu rõ được CU. Từ ước trong CU, TU có nghĩa là giao ước, hay lời hứa. CU là lời giao ước của ĐCT với dân sự của Ngài là dân Ỵ rằng chính từ dân này sẽ sinh ra một Đấng Cứu Tội cho cả nhân loại. TU là ứng nghiệm của giao ước đó khi ĐCJC xuống thế gian chịu chết để cứu tội thế gian.
Khi nhìn thấy ĐCJC, một tiên tri ĐCT tên Giăng gọi Ngài là Chiên Con của ĐCT. Để hiểu tên gọi này, chúng ta cần trở lại KTCU. 2 câu chuyện về con chiên được ghi lại trong STK 22 và XEDTK 12. Đây là 2 câu chuyện quen thuộc với một số tín hữu: STK 22 về chuyện ĐCT bảo Áp-ra-ham dâng con trai đầu lòng Y-sắc, và XE 12 về tai họa thứ 10 giải thoát dân sự ĐCT từ đất nô lệ Ai-cập.
Trong bài giảng tuần lễ rồi, tôi đã giải thích về ý nghĩa của câu chuyện trong XE 12 khi ĐCT giáng tai họa cuối cùng trên vua dân Ai-cập: Trong đêm Ngài sẽ giết các con trai đầu lòng trong mỗi nhà. Nhưng ĐCT dặn bảo dân sự Ỵ giết một con chiên không tì vết để ăn thịt, nhưng quan trọng hơn hết là dùng huyết của con chiên đó mà bôi vào cửa ra vào. Khi thiên sứ của ĐCT đi ngang qua nhà thấy dấu máu thì cả nhà sẽ được bình an, nhưng nếu nhà nào không có dấu máu trên cửa thì con trai đầu lòng sẽ bị giết, dù là người Ai-cập hay Ỵ Họ được cứu không phải vì công đức, đức tin mạnh hay yếu, nhưng bởi sự bảo vệ, che chở của huyết con chiên. Câu chuyện này là bóng mà hình là Chiên Con ĐCT, ĐCJC đã đổ huyết của chính Ngài trên thập giá để cứu chuộc nhân loại.
Tôi cũng giải thích rằng hình ảnh con chiên trong XE 12, dù là lần đầu tiên trong sách XE, nhưng không phải đầu tiên trong KT. Đoạn KT trong STK 22 mà chúng ta sẽ đọc sáng nay là lần đầu tiên KT đề cập đến con chiên. Đoạn KT này cũng là bóng mà hình là Chiên Con ĐCT. Như lời PL viết: Vả, mọi sự đã chép từ xưa đều để dạy dỗ chúng ta, hầu cho bởi sự nhịn nhục [nhẫn nại] và sự yên ủi của Kinh Thánh dạy mà chúng ta được sự trông cậy. (Rô-ma 15:4)
Rô-ma 15:4
LỜI GỌI CỦA ĐCT
KT CU có rất nhiều câu chuyện mà người đọc hôm nay không hiểu được, cho là vô nghĩa hay xem như là bằng chứng về sự độc ác của ĐCT, hay cho thấy rõ rằng có 2 ĐCT. STK 22 là 1 trong những câu chuyện thường bị hiểu lầm đó. Người đọc chuyện hôm nay có thể nghĩ, phê phán thậm lý lên án ĐCT về sự độc ác. Một số, ngay cả tín đồ, cũng nghĩ ĐCT trong CU là Đấng mau trừng phạt, độc ác, hay trả thù, nhưng ĐCT trong TU là Đấng yêu thương, tha thứ tội nhân. KT xác nhận rõ rằng ĐCT của ngày hôm qua, hôm nay và cho đến đời đời vẫn là một ĐCT. Dù là CU hay TU thì ĐCT ghi lại trong KT chỉ là một. Tôi xin được đọc STK 22:1-18 theo BTT.
Mọi người đều thích nghe hay kể chuyện. Chuyện kể là một thể loại phổ thông nhất trong văn chương. Chuyện kể giúp người nghe dễ nhớ, nhưng khó quên. Câu chuyện trong STK 22 vừa đọc là một trong những kiệt tác văn chương dù người đọc thuộc bất cứ quốc gia, dân tộc hay ở trong thời đại nào, dù ngàn năm trước đây hay như những người hiện đại như chúng ta trong thế kỷ 21. Chuyện thu hút, khơi dậy nhiều tình cảm, xúc động khác nhau, lúc cảm phục, lúc hoang mang, lúc hồi hộp, lúc tức giận, lúc vui mừng. Từ xưa mãi cho đến vài trăm năm trước đây, người đọc, người nghe đều kính trọng, thán phục không chỉ vì giá trị văn chương nhưng còn về ý nghĩa sâu sắc. Chỉ trong vòng vài trăm năm nay, từ thế kỷ 19, người đọc bắt đầu chỉ trích, lên án chuyện kể về một ĐCT sắc máu, độc ác ra lệnh cho cha phải giết con mình làm của tế lễ. Trước hết tôi muốn giải thích rõ rằng ĐCT hoàn toàn trái lại với lời phê bình, chỉ trích này.
Lời Chúa viết trong sách Giê-rê-mi 19:4-5: chúng nó, cùng tổ phụ chúng, và các vua Giu-đa đã lìa bỏ Ta, biến nơi này thành xa lạ, dâng sinh tế cho các thần khác mà chúng chưa hề biết, làm cho nơi này đầy dẫy máu vô tội. 5 Chúng tiếp tục xây miếu cúng thần Ba-anh, thiêu con cái chúng trong lửa để dâng tế lễ toàn thiêu cho Ba-anh. Đó là điều Ta chẳng hề truyền dạy hay phán bảo, cũng chẳng hề nghĩ đến. (BDM) Cùng một sách đoạn 32:35: chúng xây miếu thờ Ba-anh trong thung lũng Ben Hin-nôm, để dâng con trai con gái chúng cho Mô-léc. Đó là điều Ta chẳng hề truyền dạy. Ta cũng chẳng hề nghĩ chúng có thể làm việc gớm ghiếc dường ấy để gây cho dân Giu-đa phạm tội.
ĐCT lên án dân sự Ỵ rằng họ đã theo các thần trong xứ mà dâng chính con trai, con gái làm của lễ. [Câu chuyện về giết các trẻ em cúng thần cho được mưa trong National Geography]. Họ làm điều mà Chúa không hề dạy cũng không hề nghĩ đến! Trong các sách luật pháp, Mô-se căn dặn dân sự trước khi vào đất hứa là không được cúng tế con mình cho các dân như dân trong xứ đó. Nhất thiết không ai được đem con trai con gái mình thiêu sống để tế thần, không ai được làm nghề thầy bói, thầy pháp, giải điềm, áp dụng ma thuật, 11 không được bùa ngãi, đồng bóng, thông linh, hay chiêu hồn người chết. 12 Tất cả những người làm các việc này đều đáng ghê tởm trước mặt CHÚA. (PT 18:11-12-BDM) Đừng dâng con gái mình làm sinh tế cho thần Mô-lóc vì các ngươi không được làm ô danh Đức Chúa Trời các ngươi. Ta là CHÚA. (Lê-vi-ký 18:21)
Cả CU, ĐCT ra lệnh dân sự Ngài phải dùng huyết của các con chiên, cừu, dê, chim để chuộc lấy tội lỗi mà họ đã phạm chứ không phải giết con mình lấy máu để chuộc tội. Rồi TU cho biết chính Con Độc Sanh của ĐCT đổ huyết chính Ngài để chuộc lấy tội của qv và tôi.
Đức Chúa Trời thử Áp-ra-ham; Ngài phán rằng: Hỡi Áp-ra-ham! Người thưa rằng: Có tôi đây. 2 Đức Chúa Trời phán rằng: Hãy bắt đứa con một ngươi yêu dấu, là Y-sác, và đi đến xứ Mô-ri-a, nơi đó dâng đứa con làm của lễ thiêu ở trên một hòn núi kia mà ta sẽ chỉ cho. (1-2). Lời gọi này nhắc chúng ta nhớ đến lời ĐCT gọi Ạ lần đầu tiên ra khỏi quê hương, vòng bà con để đến xứ mà ĐCT sẽ chỉ cho. Chúa nói cùng Ạ hãy làm theo lời Ta rồi Ta sẽ chỉ cho bước tới. Ạ tin lời rời xứ ra đi. Chúa hứa Ta sẽ ban cho ngươi hậu tự đông như sau trên trời, như cát dưới biển. Mãi đến 25 năm sau đó lời hứa mới được ứng nghiệp. Ysac là con của lời hứa. Hậu tự của Ạ mà ĐCT hứa là từ người con trai theo lời hứa này.
Ạ có một con trai là Ỵ theo lời Chúa hứa. Đây là đứa con mà ĐCT nói cùng ông: đứa con một ngươi yêu dấu. Đúng hơn câu này phải được như BD2011 hay BHĐ: con trai ngươi, tức I-sác con một ngươi, đứa con ngươi yêu quý. Y-sắc không chỉ là con trai của lời hứa, nhưng là con trai một, không chỉ là con trai một nhưng là con trai một Ạ yêu quý. Có nghĩa Ys là trung tâm điểm tình cảm của Ạ. Mất Ys thì con tim của Ạ cũng sẽ tan vỡ, mất Ys thì cũng sẽ mất đi người mình yêu thương, quý báu nhất trong đời sống.
Mọi người đều có thể cho đi những gì dư thừa, không quan trọng, không cần thiết mà không hề nuối tiếc hay cảm thấy mất mát. Nhưng cho đi những gì mình yêu mến nhất, gần gũi nhất, thân thiết nhất lại là điều khác. ĐCT bảo Ạ dâng người con quí báu nhất, thương mến nhất. Giải thích về câu KT này, mục sư Trung Hoa tên Watchman Nee viết như sau: Ys tượng trưng cho những món quà ban cho bởi ân điển Chúa. Trước khi Chúa ban những món quà này, tay chúng ta trống không. Sau đó được nhận đầy. Lắm khi ĐCT đưa chính tay Ngài ra để nắm lấy tay chúng ta trong sự thông công. Khi đó, chúng ta cần mở tay ra để có thể được Chúa nắm tay. Nhưng khi đã nhận các món quà từ ĐCT và nâng niu, trân trọng các món đó, tay chúng ta nắm chặt, đầy ấp. Nên khi ĐCT đưa tay Ngài ra để nắm tay chúng ta, chúng ta không còn bàn tay không nào cho Ngài
Sự kêu gọi của ĐCT cùng Ạ, dù đặc biệt nhưng không phải là ngoại lệ. Không phải Ạ là người duy nhất ĐCT gọi để rời quê hương đến nơi Chúa sẽ chỉ cho, là người duy nhất ĐCT gọi hy sinh điều quí báu nhất trong đời. Bao nhiêu người tin Chúa, người hầu việc Chúa từ HT đầu tiên đến nay cũng đã nghe tiếng gọi ĐCT và đã hy sinh cả đời cho công việc Chúa.
Mỗi người tin Chúa là người đã được ĐCT chọn và gọi, như PL viết: những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển. (Rô-ma 8:30) Làm sao biết Chúa gọi? Làm sao để nghe tiếng Chúa gọi? Qv biết Chúa gọi, qv nghe tiếng Chúa khi Ngài là nền tảng, là tảng đá gốc nhà của nhà qv. Theo thời gian qv biết Chúa gọi là khi mở tay ra để Chúa nắm tay, qv không còn sợ đánh mất những món quà quí báu mình đang nắm giữ. Như lời của một bài thánh ca: Dầu ai ai tranh giàu sang thế gian; có Jêsus phần tôi thỏa rồi; cuộc vinh hoa như phù vân chóng tan, đức yêu thương còn đến đời đời... Phần tôi lãnh duy một Jêsus thôi; khiến tâm linh được an ủi hoài; Dầu chung quanh ba đào vây phủ tôi, vẫn xướng ca vì ở trong Ngài. (Có Jesus phần tôi thỏa rồi)
Một mục sư người Anh rất nổi tiếng tên Martyn Lloyd-Jones kể câu chuyện sau đây: Khi ông còn là bác sĩ thực tập cho một bệnh viện nổi tiếng nhất Luân Đôn ,và cho một bác sĩ nổi tiếng nhất cả nước, mọi việc đều xảy ra như ông mơ ước. Ông nghĩ chắc mơ ước trở nên một bác sĩ nổi tiếng sẽ trở nên sự thật không lâu sau đó. Một ngày nọ, một bác sĩ trưởng của bệnh viện bước vào phòng của ông. Bác sĩ này là người là mọi người kính nể, có tất cả những điều mà bác sĩ Lloyd-Jones và bao nhiêu người đều mơ ước. Khi vào phòng, người bác sĩ trưởng này như mất hồn vì người bạn gái mà ông định sẽ cưới chết một cách bất ngờ. Bác sĩ trưởng nói với Lloyd-Jones: xin cho tôi ngồi cạnh lò sưởi của anh. Rồi trong 2 tiếng đồng hồ, không nói gì chỉ chăm nhìn vào ngọn lửa cháy trong lò. Lloyd-Jones nói cảnh tượng này như khiến ông bàng hoàng, như thức tỉnh lại từ giấc ngủ. Không phải vì thái độ lạ lùng của người bác sĩ trưởng đó, nhưng vì ý thức về sự phù du của mọi thành công trong đời sống.
ĐCT đã dùng sự việc này để giúp ông thấy rằng mọi nền tảng xây trên thành công của đời này rồi cũng sẽ mất đi. Chỉ có những gì xây trên nền ĐCJC là sẽ còn lại đời đời. Nhưng mấy ai trong chúng ta ý thức được điều này? Tay của chúng ta vẫn còn giữ chặt vật chất, vinh hoa, danh vọng thế gian này thì làm sao ĐCT có thể nắm tay chúng ta?
Khi viết về đức tin của Ạ, tác giả sách Hê-bơ-rơ viết: Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không biết mình đi đâu. 9 Bởi đức tin, người kiều ngụ trong xứ đã hứa cho mình, như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là kẻ đồng kế tự một lời hứa với người. 10 Vì người chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập. (11:8-10) Qv nghe tiếng Chúa gọi, biết Chúa gọi khi như Ạ chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập.
SỰ THỬ THÁCH ĐỨC TIN
Câu chuyện này cũng được viết trong kinh Koran của hồi giáo. Người hồi giáo giải thích ý nghĩa và bài học của câu chuyện này là người tin Chúa phải vâng phục tuyệt đối làm theo bất cứ điều gì ĐCT dạy bảo. Một số hội thánh cũng dạy như vậy. Vâng phục ĐCT tuyệt đối, bất kỳ mạng lệnh gì dù như vô tâm, vô nhân đạo, vô nghĩa. Trước hết tôi muốn nói với qv rằng tôi tin vào sự vâng phục tuyệt đối vào ĐCT. Nền tảng của sự vâng phục đó là bởi những phẩm tính của ĐCT: toàn thiện, toàn mỹ; rằng ĐCT sẽ không bao giờ và không thể ra lệnh cho dân sự Chúa làm những việc trái lại với những phẩm tính đó.
Vấn đề là khi chúng ta chỉ đọc câu chuyện này đơn thuần theo ý nghĩ đó. Giả sử một người trong số qv đọc đoạn KT này, nghe lời giảng rằng câu chuyện dạy phải tuyệt đối vâng phục ĐCT, rồi người đó về nhà giết con trai đầu lòng. Dĩ nhiên mọi người trong hội thánh, cả ông mục sư sẽ bảo người đó quá điên rồ, làm chuyện tàn nhẫn, bất nhân. Cha nào lại nỡ giết con mình? Người cha đó đáng bị trừng phạt. Nhưng nếu vậy thì Ạ có khác gì?
Nếu cha giết con là bất nhân thì lý gì khi chúng ta tin ĐCT là Cha công bình, nhân từ lại ra lệnh cho một người giết con mình. Vì lý do đơn giản này mà ngàn năm nay người đọc hiểu câu chuyện không chỉ đơn thuần dạy về sự vâng phục tuyệt đối, thậm chí phải giết cả con mình.
Phần đầu của câu 1 cho biết lý do của lời Chúa cùng Ạ đem Ys làm của lễ dâng: ĐCT thử Ạ Người ta lại bảo thử gì mà độc ác vậy? Lại ra lệnh giết con. Tôi xin qv cùng đọc lại câu 2: Đức Chúa Trời phán rằng: Hãy bắt đứa con một ngươi yêu dấu, là Y-sác, và đi đến xứ Mô-ri-a, nơi đó dâng đứa con làm của lễ thiêu ở trên một hòn núi kia mà ta sẽ chỉ cho. Chúa không bảo Ạ giết Ys nhưng dâng con đó làm của lễ thiêu. Qv nói mục sư muốn chẻ tóc (splitting hair) hay sao? Dâng làm của lễ với giết có khác gì? Giết là khi ĐCT ra lệnh cho Ạ cầm giao đâm chết Ys. Dâng làm của lễ là một hành động tự nguyện. Trong một quyển sách viết về STK của một giáo sư người Do Thái trường đại học Chicago tên Leon Kass, giải thích câu này như sau: ĐCT không thật sự ra lệnh cho Ạ dâng Y. Ngài yêu cầu Ạ, như Robert Sacks chỉ ra rằng ĐCT nói “xin hãy làm (please)” (Hầu hết tất cả người dịch đều không dịch từ na trước từ lấy con, đem con) Vậy thật sự Ạ có sự tự do để từ chối.
Phần giải thích về lời của ĐCT cùng Ạ đem dâng con trai một làm lễ thiêu sau đây dựa theo một bài giảng của MS Tim Keller. Một giáo sư trường đại học Havard người DT tên Jon Levenson, nhiều năm trước đây có viết một quyển sách tựa là Sự Chết và Sự Sống Lại của Con Yêu Dấu. Trong sách giáo sư Levenson giải thích về ý nghĩa của người con trưởng nam trong gia đình.
Cũng như các xứ Á Châu, người DT ngày xưa coi trọng, đặt nặng gia đình trên cá nhân. Danh dự gia đình, lợi ích gia đình, phúc lợi gia đình trên cá nhân. Chứ không như xã hội HK ngày nay xem quyền lợi cá nhân là đầu. Trong gia đình, con trai trưởng là hy vọng chính yếu. Việc nối dõi tông đường là từ con trai trưởng, việc đem lại vinh quang cho gia đình là ở người con trai trưởng. Người con trai trưởng đại diện cho gia đình, là người đứng mủi chịu sào. Ngày đó đất là vàng. Ai có đất nhiều là người giàu có. Nhưng nếu đất chia năm sẻ bảy cho mỗi người trong gia đình thì làm sao có thể giữ đất trọn cho mai sau. Vì vậy khi chia đất, chia gia tài, người trai trưởng là người hưởng nhiều hơn, thậm chí hưởng tất cả. Nhưng khi gia đình phạm tội thì người con trai trưởng sẽ bị xử đầu tiên vì đại diện, vì là hy vọng của gia đình.
Nhưng trong STK, ĐCT như xem nhẹ hay phá bỏ ý tưởng này. Chúa chọn A-bên thay vì Ca-in, chọn
Ishmael, Gia-cốp thay vì Ê-sau. KT không hề cổ võ, ủng hộ cho luật con trưởng nam như các dân tộc xưa. Tuy nhiên giáo sư Levenson chỉ ra một điều quan trọng trong KTCU là con đầu lòng thuộc về ĐCT, dù là súc vật hay con người, dù là cây trái hay thóc lúa. Vì hết thảy con đầu lòng đều thuộc về ta; ngày xưa khi ta hành hại các con đầu lòng trong xứ Ê-díp-tô, ta đã biệt riêng ra thánh cho ta hết thảy con đầu lòng trong Y-sơ-ra-ên, bất luận loài người hay thú vật; chúng nó đều sẽ thuộc về ta. Ta là Đức Giê-hô-va. (Dân Số Ký 3:13). Nhưng trong câu 12 đoạn KT có một ý rất quan trọng là hết thảy con đầu lòng thuộc về Chúa có thể chuộc lại: Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng: 12 Nầy, từ giữa dân Y-sơ-ra-ên ta chọn lấy người Lê-vi thế cho hết thảy con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên; vậy, người Lê-vi sẽ thuộc về ta. Cũng trong DSK 18: 15-16 Mọi con đầu lòng của các xác thịt, hoặc ngươi, hoặc vật mà dân Y-sơ-ra-ên dâng cho Đức Giê-hô-va, đều sẽ thuộc về ngươi; nhưng ngươi phải chuộc lại con đầu lòng của loài người, và cũng phải chuộc lại con đầu lòng của thú vật ô uế. 16 Về sự chuộc lại, ngươi phải chuộc lại những con từ một tháng trở đi, theo giá định của ngươi, là năm siếc-lơ bạc
Vậy khi ĐCT bảo Ạ dâng Y như của lễ dâng, Ạ hiểu rằng vì gia đình ông phạm tội cùng ĐCT nên nay Chúa đòi phải trả, Ạ cũng hiểu rằng mạng sống, cuộc đời của Ỵ thuộc về ĐCT, nay Chúa đòi lại thì đó là điều công bình, điều phải lẽ. Như vậy câu hỏi, sự dằn vặt, nỗi đau khổ của Ạ trong 3 ngày khi đi cùng Ỵ đến vùng núi Mô-rai không phải là tại sao ĐCT lại tàn nhẫn, bất công như vầy? Trong suy nghĩ của Ạ ĐCT có quyền lấy mạng sống của Ỵ. Đây là điều hợp lý. Nhưng hợp lý không đồng nghĩa với sự yên ủi của con tim. Ạ hiểu, đồng ý, chấp nhận theo lý trí nhưng chắc con tim ông như không hiểu, không chấp nhận, không đồng ý. Tôi không nói về tình cảm của Ạ vì chỉ có thể đoán, nhưng nói về suy nghĩ của Ạ
Câu hỏi dằn vặt Ạ, ngoài tiếng của con tim, là phải chăng ĐCT, dù là Đấng Thánh Khiết, Công Bình nhưng lẽ nào chẳng phải là Đấng Nhân Từ, Thương Xót như bao nhiêu lần Ngài tỏ cùng Ạ (như qua câu chuyện 2 thành S. & G. và gia đình Lót). Nếu ĐCT thánh khiết thì tội của ông và gia đình phải trả qua Ỵ là hợp lý; nhưng Chúa cũng là Đấng nhân từ. Giữa thánh khiết, công bình với nhân từ, thương xót, làm sao ĐCT có thể làm cả hai điều này?
Câu hỏi dằn vặt Ạ, khủng hoảng của ông là phải chăng ĐCT là Đấng giữ trọn lời hứa. Thậm chí như trong STK 15 khi ĐCT có lời hứa vô điều kiện rằng dù Ạ và hậu tự không giữ lời hứa thì chính Chúa sẽ chết cho họ! ĐCT đã hứa ban cho Ạ hậu tự qua Ỵ, nhưng nay lại bảo dâng Ỵ làm của tế lễ. Chính ĐCT đã hứa cùng Ạ trước khi Ys sinh ra: Đức Chúa Trời bèn phán rằng: Thật vậy, Sa-ra vợ ngươi, sẽ sanh một con trai, rồi ngươi đặt tên là Y-sác (STK 17:19) Giữa lời hứa hôm qua và lời bảo hôm nay thật mâu thuẫn, làm sao ĐCT có thể thực hiện cả hai?
HỠI CON, CHÍNH ĐCT SẼ BAN CHIÊN LÀM CỦA LỄ THIÊU
Ạ đã kinh nghiệm được sự công chính, thánh khiết đòi hỏi sự trừng phạt qua 2 thành phố S. & G, nhưng cũng kinh nghiệm được lòng nhân từ, yêu thương khi ông thương lượng với Chúa về dân sự trong thành, khi Chúa cứu gia đình Lót. Ạ kinh nghiệm sự nhân từ của Chúa khi ĐCT lập giao ước vô điều kiện cùng ông dù khi hai lần ông nói dối vì sợ hãi. Ạ kinh nghiệm được sự chắc chắn của lời Chúa hứa khi 2 vợ chồng dù tuổi cao, không còn hy vọng có con thì Ỵ được sinh ra.
Nhưng qua lời ĐCT bảo ông dâng Ỵ, người con của lời hứa, người con từ lòng nhân từ của ĐCT thì làm sao Chúa giữ trọn lời hứa là hậu tự ông qua Ỵ sẽ đông như sao trên trời, như cát dưới biển. Ông biết Chúa có quyền lấy mạng Ỵ vì con trai trưởng thuộc về Chúa, nhưng ông cũng đã biết ĐCT là Đấng Nhân Từ, giàu lòng thương xót. Hai điều này quả thật như mâu thuẫn với nhau. Đây là nan đề như không thể giải quyết.
Về lý trí Ạ không thể giải thích được, nhưng đức tin của ông cho biết ĐCT sẽ có phương cách để giải quyết. Ông tin ĐCT sẽ thực hiện một phép lạ nào đó. KT định nghĩa đức tin như sau: Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đang trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy. (Hê-bơ-rơ 11:1) Biết chắc, thực chất của điều đang hy vọng? Bằng chứng của điều không thấy?
Qua đến ngày thứ ba, Áp-ra-ham nhướng mắt lên thấy nơi đó ở lối đằng xa, 5 thì nói cùng hai kẻ đầy tớ rằng: Hãy ở lại đây với con lừa; ta cùng đứa trẻ sẽ đi đến chốn kia đặng thờ phượng, rồi sẽ trở lại với hai ngươi. 6 Áp-ra-ham lấy củi về của lễ thiêu, chất trên Y-sác, con mình; rồi người cầm lửa và dao trong tay, và cả hai cha con đồng đi. 7 Y-sác bèn nói cùng Áp-ra-ham, cha mình rằng: Hỡi Cha! Người đáp: Con ơi! cha đây. Y-sác nói: Củi đây, lửa đây, nhưng chiên con đâu có đặng làm của lễ thiêu?
Đây là lần dạy nhất KT ghi lại lời đối thoại, trò chuyện giữa A và Ys. Trong 3 ngày đường đó Ạ nghĩ gì? Tôi không biết. Nhưng tôi tin rằng Ạ có hy vọng, có niềm tin rằng dù sau thì ĐCT cũng sẽ có cách giải quyết. Đây chính là đức tin của người tin Chúa. Không phải vào cảm xúc, hiểu biết chắc chắn nhưng vào Đấng Thành Tín và Toàn Năng.
Khi nghe Ỵ hỏi Củi đây, lửa đây, nhưng chiên con đâu có đặng làm của lễ thiêu? Ạ lập tức trả lời: Áp-ra-ham rằng: Con ơi! chính Đức Chúa Trời sẽ sắm sẵn lấy chiên con đặng dùng làm của lễ thiêu. Đây là hy vọng rằng chính ĐCT sẽ sắm sẵn lấy chiên con giúp Ạ đi cùng Ys trong 3 ngày đường và nhất là khi hai cha con đi lên núi để dâng lễ. Đây là hy vọng khiến Ạ nói với 2 người đầy tớ đi cùng: Hãy ở lại đây với con lừa; ta cùng đứa trẻ sẽ đi đến chốn kia đặng thờ phượng, rồi sẽ trở lại với hai ngươi.
Sách Hê-bơ-rơ giải thích rằng hy vọng đến từ niềm tin rằng ĐCT sẽ thực hiện phép lạ khiến cho Ys sống lại: Bởi đức tin, Áp-ra-ham dâng hiến Y-sác làm sinh tế khi bị Chúa thử nghiệm. Ông sẵn sàng dâng hiến con một của mình, dù đứa con đó chính là lới hứa ông đã nhận. Vì Đức Chúa Trời 18 đã phán bảo ông: "Từ Y-sác, con sẽ có một dòng dõi mang tên con." 19 Vì kể rằng Đức Chúa Trời có khả năng khiến kẻ chết sống lại, nên theo nghĩa bóng Áp-ra-ham đã nhận lại con mình từ cõi chết. (11:17-19 – BDM)
Sách 2 Sử Ký 3:1 cho chúng ta biết rằng thành Jerusalem là nơi núi Mô-rai: Vua Sa-lô-môn bắt đầu xây đền thờ CHÚA tại Giê-ru-sa-lem, trên núi Mô-ri-a. Trên núi Mô-ri-a ĐCT cứu con trai duy nhất của Ạ và ban cho con chiên để làm của lễ dâng. Con chiên ĐCT ban cho Ạ thế chỗ cho Ỵ là bóng mà hình là Chiên Con ĐCT. Khi Ạ cầm dao, giơ tay cao định giết Ỵ thì 2 lần ĐCT bảo ông dừng lại.
Nhưng ngàn năm sau đó, cũng trên núi Mô-ri-a, trên ngọn đồi Sọ ngoài thành Jerusalem, khi chính Con Độc Sinh của Ngài kêu trên thập giá ĐCT tôi ơi, ĐCT tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi, thì không có tiếng nói nào từ trời cả. Không có con chiên nào để thế chỗ cho Chiên Con ĐCT cả. PL viết: Đấng thật đã không tiếc chính Con Ngài nhưng đã phó Con ấy vì tất cả chúng ta thì làm sao mà Ngài chẳng ban mọi sự luôn với Con đó cho chúng ta? 33 Ai sẽ kiện cáo những người được lựa chọn của Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời là Đấng xưng công chính. 34 Ai là người sẽ kết án? Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng đã chết, nhưng cũng đã sống lại, đang ngự bên phải của Đức Chúa Trời, cầu khẩn thay cho chúng ta. 35 Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Chúa Cứu Thế? Phải chăng là hoạn nạn, cực khổ, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm hay gươm giáo? (Rô-ma 8:32-35)
Ân điển ĐCT tỏ cùng Ạ qua sự ban cho con chiên để thay Ỵ. Nhưng ân điển ĐCT bày tỏ cho tôi và qv qua sự ban cho chính Chiên Con là Con Độc Sinh của Ngài. Ai nói hết được lòng nhân từ và tình yêu thương ĐCT dành cho chúng ta. Quả thật đây là một ân điển lạ lùng!
