Ai Bảo Một Ngày Như Mọi Ngày?
Cuộc sống chúng ta mới nghĩ đến thì ngỡ rằng mỗi ngày cũng đều đặn, quen thuộc, bình thường như mọi ngày khác. Mỗi ngày đều giống như mọi ngày, sáng thức dậy đi làm, chiều về nhà, ăn tối với gia đình, rồi đi ngủ. Nếu có khác là ngày Chúa nhật chúng ta đi nhà thờ thay vì đi làm. Nhưng khi nghiệm kỷ lại thì tôi tin chắc rằng tất cả chúng ta, mỗi qv đây đều có một ngày đặc biệt, quan trọng, ngày chúng ta không bao giờ quên được, ngày cuộc đời chúng ta thay đổi: như ngày vượt biên, ngày bị bắt lại, ngày lập gia đình, sinh đứa con đầu lòng, ngày người thân yêu nhất qua đời, ngày tin nhận Chúa…
Những lời đầu tiên trong sách Nê-hê-mi bắt đầu với một ngày tháng và địa điểm rất rõ ràng, cụ thể: Vào tháng Kít-lêu (11-12) năm thứ hai mươi, khi tôi đang ở tại kinh thành Su-sơ. Năm thứ 20 không phải là năm thứ 20 trước công nguyên (trước khi ĐCJC giáng sinh) nhưng là năm thứ 20 trong đời một vị vua của xứ Phe-rơ-sơ (Persian – Ba Tư) mà Nê-hê-mi giải thích rõ hơn trong 2:1 Đương năm thứ hai mươi đời vua Ạt-ta-xét-xe.
Thời Nê-hê-mi sinh sống và trong suốt cả CU niên lịch căn cứ theo sự lên ngôi hay hạ ngôi của một vị vua. Chúng ta cũng thấy rõ điều này trong lời mở đầu của sách Ê-xơ-ra (1 sách trước Nê-hê-mi): Năm thứ nhất đời Si-ru, vua nước Phe-rơ-sơ trị vì. Vậy lịch sử nhân loại trước khi ĐCJC giáng sinh căn cứ vào đời của một vị vua, đại đế trong thế gian. Nhưng sau khi ĐCJC giáng sinh, lịch hiện đại dựa vào năm Chúa giáng sinh. BC: Before Christ; AD: Anno Domini (tiếng La-tin có nghĩa là trong năm của Chúa (in the year of the Lord).
Trở lại lời mở đầu sách Nê-hê-mi, một ngày vào năm thứ 20 đời vua Ạt-ta-xét-xe của xứ Phe-rơ-sơ tức năm 445BC nhằm tháng Kít-lơ tức tháng 11-12 khi Nê-hê-mi đang ở kinh đô Su-sơ là nơi vua ngự mùa đông, một sự việc tưởng như hết sức bình thường xảy ra với ông. Sự việc gì? có một người trong anh em tôi tên là Ha-na-ni với vài người từ Giu-đa đến. Một anh em của Nê-hê-mi tên Ha-na-ni và một số người Giu-đa đến gặp (có thể chỉ đến thăm viếng) ông vào một ngày trong tháng 12 năm 445 BC. Người Giu-đa đây dĩ nhiên là người DT, nhưng còn có nghĩa là những người sinh sống tại vùng Giu-đa. Đây là những người bị lưu đày sang xứ Ba-by-lôn sau khi vua Nê-bu tàn phá thành Giê, đền thờ và cả bức tường thành.
Tôi tin rằng trước khi gặp Ha-na-ni và những người từ xứ Giu-đa, Nê-hê-mi có thể chỉ nghĩ rằng lần gặp gỡ này cũng như những lần thăm viếng trước đó. Nhưng ông và mọi người đến thăm ông không ngờ rằng cuộc gặp gỡ này lại thay đổi cuộc đời Nê-hê-mi, Ha-na-ni và những người Giu-đa, và thay đổi cả lịch sử của dân sự ĐCT là dân DT. Tại sao?
Sau khi hỏi thăm và nghe về tình trạng dân cư và bức tường thành tại Giê, Nê đau buồn, than khóc rồi cầu nguyện cùng ĐCT. Nê là quan tửu chánh trong thời vua Ạt của xứ Phe-rơ-sơ. Sau 4 tháng suy nghĩ, cầu nguyện, cuối cùng Nê quyết định xin vua về Giê để xây lại bức tường thành đã đổ nát sau 140 năm dài. Tôi xin được tóm tắt về bối cảnh lịch sử
TÓM TẮT BỐI CẢNH LỊCH SỬ
Giải thích trước công nguyên và sau công nguyên. Sau công nguyên năm 1990 trước năm 2024, nhưng trước công nguyên năm 445 xảy ra trước năm 425.
Sách viết năm: Sự kiện lịch sử viết trong Nê khi dân sự DT xây lại bức tường chung quanh thành Giê-ru-sa-lem xảy ra vào năm 444-445 BC, nhưng sách được viết gần 20 năm sau đó vào năm 425BC.
Tác giả: Trong sách rất nhiều đoạn như tự thuật khi tôi đang ở tại kinh thành Su-sơ (1:1). Chỉ trong đoạn 1 có ít nhất 10 lần đại từ tôi được dùng. Vì lý do này nhiều học giả KT cho rằng tác giả sách chính là Nê. Tuy nhiên cũng có một số học giả khác tin rằng tác giả là Ê-xơ-ra. Tại sao? Vì 2 lý do: 1) trong KT của người DT hôm nay (chỉ có phần CU) thì 2 sách Ê-xơ-ra và Nê là một. 2) Ez không chỉ là thầy tế lễ nhưng còn là một người ghi chép lại những sự kiện lịch sử.
Nội dung chính: Vào năm thứ 20 đời vua tên Ạt-ta-xẹt-xơ, Nê là một vị quan tửu chánh (dâng rượu cho vua) tại thủ đô Su-sơ. Khi nghe tin dân sự tại thành Giê-ru-sa-lem lâm vào tình trạng bi đát, khốn khó, nhục nhã và bức tường thành Giê vẫn còn bị đỗ nát, thì ông xin phép vua trở về Giê để khởi công xây lại tường thành. Khi khởi công xây và khi đang xây lại đền thờ, thì Nê và dân sự gặp rất nhiều sự chống đối, nhạo cười, diễu cợt, khinh dễ, thậm chí phá hoại từ nhiều dân ở các phía: Sa-ma-ri, Am-môn, Á-rập, Phi-lit-tin. Tuy vậy dân sự dưới sự lãnh đạo của Nê hoàn tất bức tường thành trong vòng 52 ngày! Không chỉ là người lãnh đạo xây lại tường thành, Nê còn là tổng trấn tại vùng Giu-đê trong 12 năm. Ông tìm cách để đem dân sự trở về. Ông ra lịnh xóa bỏ các món nợ xưa để dân sư nghèo khó có thể bắt đầu làm lại cuộc đời. Ông dùng tiên tri Ê-xơ-ra giúp dân sự sống làm theo luật pháp Mô-se, đặc biệt chớ lấy dân ngoại (5 sách đầu KT, Ngũ Kinh: STK, Xuất, DSK, Phục truyền, Lê-vi).
Sau 12 năm làm thống đốc, Nê trở về lại thủ đô Su-sơ để hầu việc vua Phê-rơ-se. Một thời gian sau, Nê lại trở lại thành Giê. Ông thấy dân sự trở lại con đường tội lỗi như xưa, làm trái lại luật pháp Mô-se. Dân ngoại được phép làm ăn, buôn bán trong ngày nghĩ Sa-bát và có các phòng trong đền thờ. Nê rất giận ông thanh tẩy đền thờ, các thầy tế lễ và người Lê-vi và ấn định dân sự sống theo luật Mô-se.
AI BẢO MỘT NGÀY NHƯ MỌI NGÀY
Tất cả cánh cửa dù lớn đến mấy cũng xoay mở với những bản lề nhỏ. Như có người nhận xét nhận xét sâu sắc hơn: Lịch sử nhân loại xoay quanh bản lề của cửa chuồng chiên nơi ĐCJC hạ sinh. Cuộc đời của chúng ta có thể hoàn toàn thay đổi bởi một vài bản lề, một vài ngày đặc biệt, một ngày khác với mọi ngày.
Hơn 4000 năm trước đây, một ngày tưởng như mọi ngày khi Áp-ra-ham, 75 tuổi, đang ở trong một thành phố lớn và văn minh nhất trong thời đó, ông nghe tiếng ĐCT kêu gọi: Ngươi hãy ra khỏi quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Và kèm theo lời kêu gọi đó, ĐCT còn hứa với ông: 2 Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. 3 Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước. (STK 12:1-3)
Giao ước đầu tiên và quan trọng này gồm lời hứa về dân cư và đất đai: Hậu tự của Áp-ra-ham sẽ trở nên một dân tộc lớn, và sẽ thiết lập một quốc gia tại vùng đất Đức Chúa Trời hứa sẽ ban cho họ. Hơn thế nữa giao ước còn có lời hứa rằng Áp-ra-ham và hậu tự của ông sẽ trở nên một nguồn ơn phước cho mọi dân trên đất. Lịch sử dân tộc Do Thái là ứng nghiệm của giao ước và các lời hứa này.
ĐCT còn cho Áp biết về tương lai của dân này: Đức Giê-hô-va phán cùng Áp-ram rằng: Phải biết rằng, dòng dõi ngươi sẽ ngụ trong một xứ chẳng thuộc về chúng nó, làm tôi mọi cho dân xứ đó và bị họ hà hiếp bốn trăm năm. (STK 15:13). Đúng như lời ĐCT, trong 400 năm dân sự làm nô lệ trong xứ Ê-díp-tô (Ai-cập)
24 năm sau lời hứa đó, Áp-ra-ham đã 99 tuổi và vợ Sa-ra đã 74 nhưng vẫn chưa có con như lời ĐCT hứa. Rồi một ngày như mọi ngày, giữa buổi trưa hè oi ả, nóng bức, Áp ngồi ngoài lều ở dưới bóng mắt của cây. Thình lình có 3 vị khách đến. Trước khi ra đi, một vị khách nhắc lại lời hứa về hậu tự và bảo chính trong năm tới, tức khi Áp 100 tuổi và Sa-ra 75 sẽ có một con trai. Đúng như lời phán đó, Áp và Sa-ra sinh Y-sắc, con trai của lời hứa.
Y-sắc và vợ Rê-be-ca chờ 20 năm mới có được con. Không phải chỉ 1 nhưng là 2, cặp sinh đôi: Ê-sau là anh, Gia-cốp là em. Rồi một ngày bình thường cũng như mọi ngày khác, Ê-sau đi săn bắn, Gia-cốp ở nhà với mẹ và nấu nướng. Thình lình Ê-sau trở về và xin em một bát canh đang nấu. Gia-cốp lại muốn anh bán quyền trưởng nam để đổi lấy bát canh. Đó là ngày thay đổi cả tương lai của anh em và cả cha mẹ mình. [Bỏ chạy trốn, xa nhà đến 20 năm dài. Khi trở về thì mẹ đã qua đời. Đêm vật lộn với ĐCT và được Chúa đổi tên. Đến hôm nay dân sự và quốc gia Ỵ vẫn còn tồn tại.]
Giô-sép bị các anh bán đi làm nô lệ. Pha-ra-ôn có một giấc mơ mà không thuật sĩ, chuyên gia nào trong cả nước có thể giải nghĩa được, ngoại trừ Giô-sép. Ngày Giô-sép đứng trước vua Pha-ra-ôn là ngày thay đổi hoàn toàn không chỉ cuộc đời của ông mà còn cả gia đình của Gia-cốp…]
Một ngày bình thường như bao nhiêu ngày khác khi Mô-se, 80 tuổi, đang chăn giữ bầy chiên trong đồng vắng thình lình ông thấy một bụi cây cháy hoài không tắt. Tò mò ông đến gần để xem thì nghe tiếng gọi từ giữa bụi gai: Hỡi Môi-se, hỡi Môi-se! Người thưa rằng: Có tôi đây! (Xuất 3:4). Đó là ngày ĐCT kêu gọi Mô-se trong tuổi 80 trở lại Ai-cập để giải thoát dân sự ra khỏi vòng nô lệ và dẫn họ vào vùng đất hứa mà ĐCT đã hứa cùng Áp-ra-ham gần 650 năm trước đó.
Gần 700-800 năm sau đó, cũng một ngày tưởng như mọi ngày, một cậu bé tên Sa-mu-ên đang nằm ngũ trong đền thờ thì thình lình nghe tiếng ĐCT gọi: Hỡi Sa-mu-ên! Rồi cậu bé được thầy tế lễ chính thời bấy giờ là Hê-li dạy: Hãy đi ngủ đi, và nếu có ai gọi con, con hãy nói: Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy phán, kẻ tôi tớ Ngài đương nghe! (1 Sam 3:9). Rồi Sa làm theo lời dạy. Khi ĐCT gọi cậu bé lần nữa, cậu trả lời: Hỡi Sa-mu-ên! Hỡi Sa-mu-ên! Sa-mu-ên thưa: Xin hãy phán, kẻ tôi tớ Ngài đương nghe! Rồi ĐCT bày tỏ ý chỉ là sẽ chọn Sa làm thầy tế lễ đầu tiên cho đất nước và quốc gia Ỵ và cũng là người xức dầu cho Sau-lơ, vị vua đầu tiên của dân Ỵ
Không lâu sau khi vua Sau-lơ bị ĐCT quở trách, cũng một ngày tưởng như mọi ngày, một thanh niên trẻ tuổi tên Đa-vít, con trai út trong gia đình đang chăn chiên ngoài đồng thì có tiếng gọi về nhà ngay lập tức. Khi trở về nhà, Đa-vít vô cùng ngạc nhiên và bất ngờ khi được tiên tri Sa-mu-ên xức dầu để chọn ông làm vua thứ hai của dân sự Ỵ. Chính Đa-vít là vị vua thống nhất đất nước, đánh thắng các kẻ thù của Ỵ, củng cố lãnh thổ, đất đai, chọn thành Giê-ru-sa-lem là thủ đô đầu tiên của quốc gia Y. Gần 3000 năm sau khi Đ. chọn Giê làm thủ đô, thì mãi đến hôm nay Giê vẫn là thủ đô của quốc gia Ỵ mà ĐCT đã tụ họp các dân từ bốn phương trời để đem họ trở về lại vùng đất đã hứa cùng Áp 4000 năm trước đó.
Cũng một ngày tưởng như mọi ngày, vua Đa-vít thức giấc sau giấc ngũ chiều và đi dạo trên cung điện thì nhìn thấy một người phụ nữ rất xinh đẹp tên Bết-sê-ba. Rồi vua Đa-vít phạm tội tà dâm cùng Bết và cả tội giết chồng bà, một người tướng vô cùng trung thành với vua. Chính bởi hành động của vua trong một ngày tưởng như mọi ngày đó mà gia đình vua tan nát và dù Đa-vít có ước nguyện xây cho ĐGHV một đền thờ uy nga, lộng lẫy tại Giê, nhưng ĐCT lại dùng con Đa là Sô-lô-môn mà xây cất đền thờ đầu tiên của dân Ỵ tại Giê vào năm 957
Đến cuối đời Sô-lô-môn lại lìa bỏ ĐGHV, phạm tội cùng Ngài vì nghe theo lời của nhiều người vợ và thê thiếp (700 vợ, 300 thê thiếp) mà thờ lạy các tà thần. Vì vậy ĐCT phán: Đức Giê-hô-va phán với Sa-lô-môn rằng: Bởi vì ngươi đã làm điều nầy, không giữ giao ước và luật pháp ta truyền cho ngươi, nên ta chắc sẽ đoạt lấy nước khỏi ngươi, cho kẻ tôi tớ ngươi. 12 Song vì cớ Đa-vít, cha ngươi, ta sẽ chẳng làm điều đó trong đời ngươi. Ta sẽ đoạt lấy nước khỏi tay con trai ngươi. 13 Lại ta chẳng đoạt lấy cả nước khỏi nó; song vì cớ Đa-vít, đầy tớ ta, và vì cớ Giê-ru-sa-lem mà ta đã chọn, ta sẽ để lại một chi phái cho con trai ngươi. (1 Các Vua 11:11-13)
Dù S. là một vị vua thông minh, khôn ngoan tuyệt đỉnh nhưng con ông Rô-bô-am lên làm vua lại ngu ngốc, khờ dại bấy nhiêu khiến cho dân sự nổi loạn, đất nước chia cắt làm hai… Ỵ miền bắc; Giu-đa miền nam. Trong số tất cả 19 vua của Ỵ không một người nào theo đường lối ĐGHV; trái lại thờ tà thần, thậm chí cúng tế sống con mình cho tà thần. Nổi tiếng nhất là A-háp và vợ là Giết-sa-bên. ĐCT sai tiên tri để cảnh giác, dạy dỗ nhưng cả vua, quan, và dân đều không nghe. Cuối cùng vào năm 722 ĐCT dùng giặc A-sa-ri để tiêu diệt Sa-ma-ri, bắt dân sự về xứ xa. ĐCT cho dân Ỵ gần 210 năm để ăn năn!
Trong số 20 vị vua của Giu-đa vẫn có một vài vua kính sợ vâng theo đường lối ĐCT nên Chúa còn gia hạn cho xứ thêm gần 150 năm sau khi Ỵ không còn để ăn năn nhưng họ cũng không nghe. 40 năm cuối của xứ Giu-đa, ĐCT dùng tiên tri Giê-rê-mi để cảnh cáo, khuyên bảo, khiển trách nếu không ăn năn ĐCT sẽ dùng Ba-by-lôn (Canh đê) để tàn phá thành, bắt giải sang xứ xa, nhưng vua, quan, dân vẫn không nghe.
Cuối cùng lời tiên tri ứng nghiệm. Vào năm 586 ĐCT dùng vua Nê-bu-cát-nê-xa của xứ Ba-by-lôn tiêu diệt đền thờ và cả thành, hủy diệt cả tường thành và bắt dân sự giải về xứ Ba-by-lôn. ĐCT cho dân Giu-đa gần 345 năm để ăn năn!
8 Ngày mồng bảy tháng năm, năm thứ mười chín đời trị vì của Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, quan chỉ huy vệ binh Nê-bu-xa-ra-đan, thuộc hạ của vua Ba-by-lôn, đến Giê-ru-sa-lem. 9Ông thiêu hủy đền thờ Đức Giê-hô-va, cung vua, và tất cả nhà cửa trong thành Giê-ru-sa-lem; đốt luôn nhà của những người quyền quý. (2 Sử Ký 25:8-9 - BHD)
15Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ vì thương xót dân Ngài và nơi ngự của Ngài nên vẫn thường sai sứ giả đến với họ. 16Nhưng họ nhạo báng sứ giả của Đức Chúa Trời, xem thường lời Chúa và chế nhạo các nhà tiên tri của Ngài, cho đến khi cơn thịnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân Ngài, vô phương cứu chữa. 17Vì vậy, Đức Giê-hô-va khiến vua Canh-đê lên tấn công họ, dùng gươm giết các thanh niên ngay tại đền thánh của họ, chẳng chút xót thương, bất kể thanh niên thiếu nữ, người già cả hay là kẻ yếu sức. Ngài phó tất cả vào tay vua Canh-đê. 18Toàn bộ các vật dụng lớn nhỏ của đền thờ Đức Chúa Trời, các kho báu của đền thờ Đức Giê-hô-va, của vua và các quan chức, tất cả đều bị đem qua Ba-by-lôn. 19Chúng đốt đền thờ Đức Chúa Trời, triệt hạ tường thành Giê-ru-sa-lem, lấy lửa đốt các cung điện và phá hủy các vật dụng quý giá trong thành. 20Những ai còn sót lại không bị giết bằng gươm đều bị bắt đày sang Ba-by-lôn, và họ trở thành nô lệ cho vua và con cháu của vua, cho đến thời vương quốc Ba Tư cai trị.
Tiên tri Giê chứng kiến thảm cảnh này và viết lại trong sách Ca thương (Ai ca). Tuy nhiên ông tiên tri rằng 70 năm sau đó dân sự sẽ trở về lại xứ và xây lại đền thờ Giê.
21 Thế là ứng nghiệm lời của Đức Giê-hô-va đã phán qua miệng Giê-rê-mi rằng, đất được hưởng bù các năm sa-bát của nó. Suốt thời gian bị bỏ hoang, đất được nghỉ ngơi cho đến khi trọn bảy mươi năm. (2 Sử Ký 36:15-21 – BHĐ)
Kỳ diệu thay như lời tiên tri Giê, đúng 70 năm dân sự từ xứ xa trở về hoàn tất đền thờ (thứ II) vào năm 515 (516).
Năm 538 trước Công nguyên, Xa-ru-ba-bên, thủ lĩnh chi tộc Giu-đa, là một phần của làn sóng tù nhân Do Thái đầu tiên trở về Giê-ru-sa-lem (Ê-xơ-ra 1:1-2). Vua Phe-rơ-sơ (Persian - Ba Tư) bổ nhiệm Xa-ru-ba-bên làm thống đốc Giu-đa (A-ghê 1:1), và ngay lập tức Xê-ru-ba-bên bắt đầu xây dựng lại đền thờ với sự giúp đỡ của Giô-suê, thầy tế lễ thượng phẩm (Ê-xơ-ra 3:2-3, 8). Đền thờ đầu tiên, được xây dựng bởi vua Solomon, đã bị phá hủy bởi người Ba-by-lôn vào năm 586 trước Công nguyên (2 Các vua 25: 8-10).
Xa-ru-ba-bên phải mất hai năm để xây dựng lại nền móng của đền thờ. Sau đó, việc xây dựng đã bị trì hoãn bởi những người định cư Sa-ma-ri mà những lời đề nghị thân thiện của họ che giấu sự thù địch tiềm ẩn (Ê-xơ-ra 4: 1-5). Do sự phản đối việc xây dựng đền thờ, vua Phe-rơ-sơđã rút lại sự ủng hộ cho dự án, và trong 17 năm, đền thờ vẫn chưa hoàn thành (Ê-xơ-ra 4:21).
Cuối cùng, Đức Chúa Trời sai các tiên tri A-ghê và Xa-cha-ri đến khích lệ và hỗ trợ Xa-ru-ba-bên (Ê-xơ-ra 5:1-2), và công việc xây dựng đền thờ thứ hai được tiếp tục. Bốn năm sau, vào năm 516 trước Công nguyên, đền thờ được hoàn thành và làm lễ cung hiến với sự phô trương lớn (Ê-xơ-ra 6:16). Người Do Thái cũng giữ Lễ Vượt Qua (Ê-xơ-ra 6:19). Điều đặc biệt là Xa-ru-ba-bên không bao giờ được nhắc đến liên quan đến các nghi lễ cung hiến, tên của ông cũng không được nhắc đến một lần nữa sau Ê-xơ-ra 5:1. Vì lý do này, đền thờ của Xa-ru-ba-bên thường được gọi đơn giản là "đền thờ thứ hai".
Sau này trong thời ĐCJC, vua Hê-rốt xây cất lại rất vĩ đại, lộng lây. Nhưng cuối cùng đúng như lời ĐCJC tiên tri, vào năm 70 sau công nguyên đền thờ và thành Giê lại một lần nữa bị tàn phá bởi đế quốc La-mã. Tuy đền thờ đã được xây lại nhưng 70 năm sau đó bức tường thành chung quanh Giê vẫn còn đỗ nát. Tức 140 năm từ ngày thành phố, đền thờ và bước tường thành bị tàn phá, đổ nát.
Đây là bắt đầu câu chuyện trong Nê 1 xảy ra vào tháng 11-12 năm 445. Xin vua trở về Giê để xây lại bức tường. Nê-hê-mi lãnh đạo dân sự hoàn tất tường thành gồm 10 cổng, 42 khoảng tường thành bởi 18 tên và 42 nhóm (Nê 3) trong vòng 52 ngày!
Cũng chỉ là một ngày bình thường như mọi ngày tại vùng biển Ga-li-lê khi Phi-e-rơ, Giăng, Gia-cơ và Andrew đang chuẩn bị lưới và thuyền để đi đánh cá thì Jesus gọi họ từ nay sẽ đáng lưới người. Cũng chỉ là một ngày bình thường như mọi ngày khi Ma-thi-ơ đang ngồi thu thuế thì ĐCJC gọi ông để trở nên môn đồ Ngài.
Cũng chỉ là một ngày bình thường như mọi ngày khi PL có trong mình lệnh đi bắt những người theo đạo mới của Jesus Christ đi từ thành Giê đến thành Đa-mách. Thình lình một ánh sáng từ trời khiến PL phải mù mắt và một tiếng nói từ trời: Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, sao ngươi bắt bớ Ta. Từ đó cuộc đời PL hoàn toàn thay đổi từ ngày tưởng như bình thường đó. Lịch sử nhân loại cũng thay đổi từ ngày đó. 3 cuộc truyền giáo đem TL đến các nơi vùng Tiểu Á, Âu Châu, Mỹ Châu… Và đến hôm nay trên toàn thế giới có trên 2 tỉ người tin Chúa.
Cũng 1 ngày mùa hè nóng nực, ôi ả, nhàm chán, đều đặn như những ngày khác khi một thanh niên đang làm việc tại một cây xăng thì thình lình có một người đàn ông dừng lại đổ xăng. Ông cũng hoàn toàn bình thường như biết bao nhiêu người đàn ông đã dừng lại tại trạm xăng này. Nhưng chính qua cuộc gặp gỡ rất bình thường đó, người thanh niên sau này trở nên người tin Chúa và hầu việc Ngài.
Ai trong qv đây có thể cả quyết rằng một ngày trong tuần tới, tháng tới rồi cũng sẽ chắc chắn đều đặn như mọi ngày khác? Là người tin Chúa, chúng ta tin rằng chỉ có ĐCT mới biết quá khứ, hiện tại, tương lai để dùng một ngày tưởng như bình thường mà thay đổi cuộc đời của tôi và qv và hàng bao nhiêu con cái Chúa. Biết biến cố, sự kiện gì trong cuộc sống đều đặn bình thường nhưng lại là ngày Chúa đã chọn để thực hành ý chỉ và mạng lệnh Ngài. Chúng ta, những người tin Chúa, chỉ biết như lời Chúa dạy mỗi ngày đều là ngày thánh mọi sự hiệp lại làm ích cho những kẻ yêu mến Chúa.
Và trong sách Nê-hê-mi ĐCT dùng một ngày, một sự kiện rất quen thuộc, đều đặn như cuộc viếng thăm của anh em Nê-hê-mi là Ha-na-ni để dựng lại bức tường đã đổ nát 140 năm qua. Một học giả giải kinh nổi tiếng tên Warren Wiersbe kể lại câu chuyện sau đây: một đêm rất bình thường khi ông 19 tuổi đang đi dự một buổi tiệc sinh nhật của 1 người bạn. Trong buổi tiệc sinh nhật đó, người bạn đó chia sẻ với ông một lời ngắn ngủi trong đêm vui đó khiến cả đêm hôm đó, ông suy nghĩ và quyết định trở lại với Chúa và hầu việc Ngài.
Ai có thể bảo một ngày như mọi ngày? Không ai cả. Chính vì vậy chúng ta cần sống như lời PL dạy: Hãy cư xử một cách khôn ngoan với những người ngoại, và tận dụng thì giờ (Cô-lô-se 4:5) hay Vậy, hãy xem xét cẩn thận về cách sống của anh em, đừng sống như người dại dột, nhưng sống như người khôn ngoan. 16Hãy tận dụng thì giờ, vì những ngày là xấu. (Ê-phê-sô 5:15-16)
Vì không biết ngày hôm nay hay ngày mai nên chúng ta cần mở lòng mở trí để lắng nghe, nhận biết ý chỉ của ĐCT cho đời sống mình. Dù không biết ngày nào ĐCJC sẽ trở lại nhưng KT cho biết chắc chắn Chúa sẽ trở lại cách bất ngờ khi mọi người đều lầm tưởng và tiếp tục sống như mọi ngày. Qv đừng mắc lỗi đó. Vì chính hôm nay có thể là một ngày thay đổi cuộc đời qv.
