A-ga và Đấng Thấy Hết Mọi Sự
Chúng ta tiếp tục loạt bài giảng về những cuộc gặp gỡ của một số nhân vật trong KT với ĐCT. STK 16 ghi lại câu chuyện của A-ga, một nô lệ, một đầy tớ gái bị bạc đãi bởi chủ phải bỏ trốn và được ĐCT hiện đến cùng. Tuy nhiên qv sẽ thấy STK 16 không chỉ cho chúng ta biết về A-ga, về cuộc gặp gỡ mầu nhiệm của bà với ĐCT, nhưng còn cho thấy hậu quả không lường khi con người làm theo ý định, dự tính của mình thay vì kiên nhẫn chờ Chúa trả lời. Mãi đến hôm nay hậu tự của con trai A-ga là Ích-ma-ên là người A-rập và hậu tự của con trai Sa-ra là Y-sắc, người Do Thái vẫn còn tiếp tục xung đột, chiến tranh. Sứ đồ PL cũng giải thích trong thư Ga-la-ti 4 về A-ga và Sa-ra là bóng về hai giao ước của ĐCT: giao ước về luật pháp và giao ước về ân điển.
Bấy giờ, Sa-rai, vợ của Áp-ram, vẫn không sinh con. Bà có một đầy tớ gái người Ai Cập, tên là A-ga. 2Sa-rai bàn với Áp-ram: “Nầy, Đức Giê-hô-va đã không cho tôi sinh con. Vậy, ông hãy ăn ở với đầy tớ gái của tôi, có lẽ nhờ nó mà tôi được có con cái chăng.” Áp-ram nghe theo lời Sa-rai. 3Sau khi Áp-ram cư trú mười năm trong đất Ca-na-an, Sa-rai, vợ Áp-ram, đem người đầy tớ gái Ai Cập của mình là A-ga đưa cho chồng làm hầu thiếp. 4Ông đi lại với A-ga, và nàng mang thai. (STK 16:1-4)
Câu 3 cho biết sau 10 năm sinh sống trong xứ Ca-na-an, 10 sau khi nhận được lời kêu gọi của ĐGHV cùng Ạ ra khỏi vòng gia đình, quê hương đi đến xứ Ca-na-an và lời hứa về hậu tự, về đất đai, Ạ và S. vẫn không con. 10 năm dài mỏi mòn chờ đợi nhưng hai vợ chồng vẫn không con, Sa-rai vẫn son sẻ. Nên bà có ý định để “giúp” lời hứa của ĐCT sớm thành sự thật. Bằng cách nào? Bà có một đầy tớ gái người Ai Cập, tên là A-ga. 2Sa-rai bàn với Áp-ram: “Nầy, Đức Giê-hô-va đã không cho tôi sinh con. Vậy, ông hãy ăn ở với đầy tớ gái của tôi, có lẽ nhờ nó mà tôi được có con cái chăng.”
Tuy nhiên chính qua ý định, kế hoạch của Sa-rai và Ạ để làm cho lời hứa của ĐCT sớm thành tựu mà bản tính tội lỗi, những tì vết của cả 3 nhân vật chính trong câu chuyện lộ rõ hơn ra. Đồng thời ân điển cùng lòng thương xót của ĐCT càng tỏ rõ hơn. Danh xưng của ĐCT trong đoạn KT này là Đấng Thấy Hết, Thấy Rõ Mọi Sự: Ngài thấy rõ những tội lỗi trong cuộc đời của mỗi người, nhưng bởi ân điển, Chúa tha thứ, hồi phục và tiếp tục sử dụng những cuộc đời hèn mọn, nhơ nhớp.
Trước hết KT cho biết trước đoạn 16, trong 10 năm dài chờ đợi đứa con của lời hứa, KT cho biết có ít nhất 2 lần ĐGHV lập lại lời hứa và giao ước về hậu tự, đất đai cùng Ạ: STK 13 sau khi Ạ giải cứu Lót, và STK 15 ĐCT lập giao ước không điều kiện cùng Ạ. 1Sau các việc đó [giải cứu Lót], lời của Đức Giê-hô-va đến với Áp-ram qua một khải tượng: “Hỡi Áp-ram, đừng sợ! Ta là cái thuẫn cho con; phần thưởng của con sẽ rất lớn.” 2Nhưng Áp-ram thưa: “Lạy Chúa là Đức Giê-hô-va, Chúa sẽ cho con điều gì? Con vẫn không có con cái, và người thừa kế gia sản của con là Ê-li-ê-se, người Đa-mách.” 3Áp-ram còn nói: “Nầy, Chúa làm cho con tuyệt tự, và người nô lệ sinh ra trong nhà con sẽ là người thừa kế của con.” 4Đức Giê-hô-va phán với Áp-ram: “Đó không phải là người thừa kế của con đâu, nhưng người từ gan ruột con mà ra mới là người thừa kế của con.” 5Ngài dẫn ông ra ngoài và bảo: “Hãy nhìn lên bầu trời và nếu con đếm được các ngôi sao, thì hãy đếm đi.” Rồi Ngài lại nói với ông: “Dòng dõi con cũng sẽ như thế.” 6Áp-ram tin Đức Giê-hô-va, nên Ngài kể ông là người công chính. (STK 15:1-6)
Nếu có một nơi nào trong cuộc đời Ạ dạy cho chúng ta về ân điển, lòng nhân từ, sự tha thứ của ĐCT cho cả người được kể là công bình, đó là câu chuyện về A-ga và Ích-ma-ên trong STK 16: Dù tin vào lời hứa của ĐGHV, dù đã được Ngài kể Ạ là người công chính, Ạ vẫn thiếu đức tin, chọn làm theo ý mình khi bị áp lực bởi người thân, bởi hoàn cảnh và gây ra một thảm cảnh, hậu quả mà 4000 năm sau đó, hậu tự của Ích-ma-ên và Y-sắc vẫn còn gánh chịu.
MS James Boice bình luận về Ạ trong đoạn KT này như sau: Nhưng người của đức tin trở nên (trong STK 16) người thiếu đức tin. Thụt lùi khỏi bước đi trong đức tin, Ạ bắt đầu bước đi theo mắt nhìn và sa vào nhiều phiền toái trong quá trình (Genesis Vol. 2, p 569).
Đoạn KT này còn cho thấy rõ bản tính tội lỗi của con người, dù là người chủ hay tớ, dù là nam hay nữ, dù là người được ĐCT xưng công bình hay chưa. Tên Sa-rai có nghĩa là công chúa, nhưng bà vẫn mặc cảm tự tin vì không con, vẫn ghen tức với A-ga người tớ khi bà thụ thai. A-ga, nô lệ, đầy tớ vẫn trở nên tự phụ, kiêu ngạo, khinh thường chủ mình. Ạ, anh hùng đức tin, người được ĐCT nhiều lần hiện đến để ban cho lời hứa to lớn, có 1 không 2 vẫn bị áp lực của hoàn cảnh, phạm tội, lại còn muốn phủi tay khỏi trách nhiệm.
Đúng như sứ đồ Giăng dạy: Ví bằng chúng ta nói mình không có tội chi hết, ấy là chính chúng ta lừa dối mình, và lẽ thật không ở trong chúng ta. 9 Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác. 10 Nhược bằng chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội, ấy là chúng ta cho Ngài là kẻ nói dối, lời Ngài không ở trong chúng ta. (1 Giăng 1:8-10)
Phước thay cho người nào được tha sự vi phạm mình, được khỏa lấp tội lỗi mình! 2 Phước thay cho người nào Đức Giê-hô-va không kể gian ác cho, và trong lòng không có sự giả dối! (TT 32:1-2)
Tôi muốn giải thích rõ điều này: Không nơi nào trong KT động viên, khích lệ chế thể đa thê, một chồng nhiều vợ. Tất cả những nhân vật trong KTCU, tất cả những câu chuyện đa thê như STK 16 đều đem lại những thảm họa, những hậu quả vô cùng tai hại. Như trong câu chuyện này: 1) Cay đắng, ghen tị, thù ghét giữa 2 người phụ nữ, Sa-rai và A-ga. 16 năm sau câu chuyện này khi Sa-ra sinh Y-sắc, sự cay đắng, ghen tị, thù ghét này vẫn có đó. STK 21 cho biết sau đó Sa-ra buộc Ạ phải đuổi A-ga và Ích-ma-ên ra khỏi trại vào đồng vắng; 2) Trong câu 12, ĐCT nói về Ích như một con lừa rừng, nghịch với tất cả anh em mình. Tại sao? Vì từ khi lớn lên Ích dù là con trưởng nhưng là con của một đầy tớ, một nô lệ; anh chỉ là hạng thứ, Y-sắc mới thật là con của lời hứa.
Một số người đọc đoạn KT này cũng như STK 3 khi E-va nghe lời cám dỗ của Sa-tan ăn trái cấm mà kết luận rằng phụ nữ thường nhẹ dạ nên dễ có những quyết định sai lầm. Tôi nhớ lời khuyên dạy của mẹ tôi: bộ người ta bảo con nhảy cầu con cũng nhảy hay sao?
Sau khi nghe lời bàn của Sa-rai “Nầy, Đức Giê-hô-va đã không cho tôi sinh con. Vậy, ông hãy ăn ở với đầy tớ gái của tôi, có lẽ nhờ nó mà tôi được có con cái chăng.” Ạ có thể từ chối lời khuyên này. Như Gióp trước lời khuyên của vợ ông hãy rủa sả ĐCT rồi chết, Bà nói như một người đàn bà ngu muội. Tại sao phước hạnh từ tay Đức Chúa Trời ban cho thì chúng ta đón nhận, còn tai họa từ tay Ngài giáng xuống thì chúng ta lại không nhận? (Gióp 2:10).
Tuy nhiên chúng ta cũng cần đọc lại lời của Sa-rai cùng Ạ Nầy, Đức Giê-hô-va đã không cho tôi sinh con. (Nầy, Đức Giê-hô-va đã làm cho tôi son sẻ - BHĐ). Đây là lời của một người phụ nữ trong cơn đau khổ trầm trọng, nặng nề. Tại sao? Bởi vì trong thời đó giá trị của người phụ nữ, người vợ là sinh con cho chồng. Một người vợ son sẻ là một người được xem như bị ĐCT rủa sả, người mất hết ơn phước lớn nhất, quan trọng nhất trong đời. Sa-rai đã trông đợi 10 năm dài, nhưng vẫn không con. Tuổi bà ngày càng cao, đến nay đã trên 70 (74) thì có hy vọng gì trong thời gian tới có được con. Tôi tin Ạ và Sa-rai cầu nguyện thường xuyên và khẩn thiết cùng ĐCT, nhắc lại lời hứa của ĐGHV cùng Ạ. Trước khi trách S. chúng ta cũng nên nhớ đến nỗi đau khổ vô cùng sâu đậm này của bà.
Khi đọc câu chuyện này, nhiều người trong số qv có thể chê trách xã hội ngày xưa lúc bà Sa-rai sinh sống khi giá trị người phụ nữ gắn liền với việc sinh con đẻ cái. Tôi chỉ muốn nhắc một điều: xã hội, chi bộ thời đó nếu không có con thì sớm muộn cũng sẽ bị diệt: không con, không dân, không con, không có người làm ruộng, đánh giặc. Ngày nay phụ nữ tự do hơn, có thể chọn cho mình lúc nào lập gia đình, và với ai không như xưa. Tuy nhiên áp lực của xã hội vẫn ở đó: thay vì gia đình, có thể là sắc đẹp, học vấn, công việc. Ngày xưa người phụ nữ không con bị xã hội xem như thường, ngày nay nếu có
Qv nhớ đến câu chuyện của bà Hannah son sẻ, không con và nỗi sầu khổ của bà về điều này: Tâm hồn An-ne sầu khổ, bà vừa cầu khẩn Đức Giê-hô-va, vừa tuôn tràn nước mắt. 11Bà khấn nguyện: “Lạy Đức Giê-hô-va vạn quân, nếu Ngài đoái xem nỗi sầu khổ của tớ gái Ngài, nhớ lại con và không quên ban cho tớ gái Ngài một con trai, thì con sẽ hiến dâng nó cho Đức Giê-hô-va trọn đời, và dao cạo sẽ không chạm đến đầu nó. (1 Sam 1:10-11)
Áp-ram nghe theo lời Sa-rai thay vì nghe theo lời hứa của ĐCT mà tiếp tục chờ đợi. Chúng ta cũng thấy đúng như PL đã viết: nơi nào tội lỗi gia tăng thì ân điển lại càng dư dật hơn (Rô-ma 5:20). ĐCT với lòng nhân từ, thương xót, tiếp tục bày tỏ ân điển, tiếp tục dùng 3 nhân vật đầy tì vết, phạm nhiều tội lỗi như Sa-rai, A-ga và Ạ
Khi biết mình mang thai, A-ga coi thường bà chủ mình. 5 Sa-rai nói với Áp-ram: “Ông phải chịu trách nhiệm về nỗi sỉ nhục của tôi. Tôi đã giao đầy tớ gái tôi vào lòng ông, và khi biết mình mang thai, nó lại coi thường tôi. Cầu xin Đức Giê-hô-va phân xử giữa tôi và ông!” 6 Áp-ram nói với Sa-rai: “Kìa, đứa tớ gái đó ở trong tay bà, bà muốn xử thế nào tùy ý.” Sa-rai hành hạ A-ga khiến nàng phải trốn khỏi bà.
Trước A-ga là đầy tớ, nô lệ, sở hữu chủ của Sa-rai. Khi biết mình mang thai cùng Ạ, A-ga thay đổi. Từ coi thường có nghĩa là nhỏ dưới mắt. Có nghĩa là bà chủ không còn là bà chủ như trước. Đứa con trong bụng với Ạ thay đổi hoàn toàn quan hệ giữa 2 người phụ nữ. S. dù vẫn còn là chủ nhưng lại không có điều lòng bà ao ước: đứa con như A-ga. A-ga giờ xem thường, khinh dễ Sa-rai. Quan hệ giữa hai người hoàn toàn thay đổi dựa theo điều có hay không có, điều người ta xem là quan trọng. Thay vào đứa con có thể là sắc đẹp, thông minh, tiền của, thành công.
Trước Sa-rai đau buồn vì ĐCT không ban cho bà điều lòng bà mong muốn. Nay bà đau buồn vì người ta xem thường bà vì điều bà không có. Lời của S. cùng Ạ nói lên noi cay đắng, buồn tủi này: Ông phải chịu trách nhiệm về nỗi sỉ nhục của tôi. Tôi đã giao đầy tớ gái tôi vào lòng ông, và khi biết mình mang thai, nó lại coi thường tôi. Cầu xin Đức Giê-hô-va phân xử giữa tôi và ông! Câu giao đầy tớ tôi vào lòng ông thật là đặt giữa chân ông. Ngôn ngữ của S. nói lên nỗi đau khổ, cay đắng, tủi nhục, tức giận của bà.
Chú ý lời thật nhẫn tâm, chai đá đến độ tàn nhẫn của Ạ Kìa, đứa tớ gái đó ở trong tay bà, bà muốn xử thế nào tùy ý. Ạ muốn phủi tay khỏi mọi trách nhiệm. Như A-đam đỗ lỗi cho E-va và ĐCT sau khi phạm tội vì ăn trái cấm.
Sa-rai hành hạ A-ga khiến nàng phải trốn khỏi bà. Qv có biết từ hành hạ đây có nghĩa gì không? Đây cũng chính là từ dùng trong Xuất khi người Ê-díp-tô đánh đập, hành hạ, đày đọa người nô lệ DT với mục đích khiến cuộc đời họ thêm đắng cay với bao công việc nặng nề (Xuất 1:14). S. muốn cuộc đời của A cay đắng, đau khổ như chính bà cay đắng, đau khổ vì không con. Chẳng phải đây cũng là điều mỗi chúng ta cũng đã từng làm cho người khác: để họ nếm được vị đắng như tôi đang nếm! S. chắc đánh đập A-ga. Ạ, anh hùng đức tin, nghe, thấy nhưng làm ngơ như không thấy, không nghe, không biết: bà muốn xử thế nào tùy ý! Càng đọc về các anh hùng, liệt nữ đức tin, chúng ta sẽ thấy mỗi người đều có tì vết, sai lầm, tội lỗi. Đúng như lời PL viết: Chẳng có một ai công chính cả, dù một người cũng không. (Rom3:10).
Một số qv có thể đang giận trong lòng: tại sao MS lại đem những điều không đúng, không phải, không hay về S., về Ạ ra giảng, làm lung lạc đức tin tín đồ? Tôi mong qv chú ý lắng nghe vì đây là mấu chốt của Tin Lành, của ân điển.
Đa số người chưa tin Chúa và cả một số tín đồ nghĩ về KT thế này: KT là một quyển sách dạy về đạo đức, những tấm gương đạo đức để chúng ta có thể học hỏi, bắt chước làm theo. Trái lại cho đến bây giờ qua STK 16 MS nêu ra nào là nô lệ, đầy tớ, ăn ở với đầy tớ để có con, A-ga khinh dễ Sa-rai, Sa-rai hành hạ, nghịch đãi A-ga đến nỗi bà phải bỏ trốn. Ạ thiếu đức tin nghe lời vợ thay vì vâng lời Chúa ăn ở với A-ga; rồi phủi tay làm ngơ, nhẫn tâm để Sa-rai hành hạ người tớ gái.
Chính vì qv nghĩ rằng KT là một sách dạy về đạo đức, những tấm gương đạo đức nên qv mới bực tức khi đọc những tì vết, tội lỗi của Sa-rai, A-ga và hơn hết của Ạ. STK 16 và rất nhiều đoạn KT khác trong CU và TU chứng minh rằng KT không phải là một sách dạy về đạo đức, những tấm gương đạo đức để người đọc có thể học làm theo. Không, KT ghi chép lại lịch sử về sự tha thứ, về ân điển, về sự cứu chuộc ban cho bởi Đức Chúa Trời vào cuộc sống của những người không xứng đáng, những người không tìm kiếm Ngài, những người liên tục chống lại Ngài, và những người thậm chí không biết quí trọng ân điển sau khi họ đã được cứu bởi nó. Nhìn. Điều này đang dạy chúng ta điều gì? Điều này đang dạy chúng ta rằng những con người tốt nhất trong lịch sử thế giới là những thất bại về đạo đức và tinh thần.
Tất cả các nhân vật trong KT dù là những nhân vật chúng ta thán phục nhất – các thánh đồ, anh hùng, liệt nữ đức tin - cũng không vượt trỗi trên phong tục, tập quán, những luật lệ sai lầm, thậm chí độc ác của xã hội họ sống; không vượt trên khỏi những ích kỷ, thù hận, cay đắng, ghen tị nhỏ nhen của chính con tim họ; không tránh khỏi những hành động, đối xử nghiệt ngã, tàn nhẫn với người mình không thích, thù ghét. Dù vậy ĐCT vẫn tiếp tục hiện ra cùng họ như 3 lần ĐCT đã hiện ra cùng Ạ nhắc lại lời hứa. Chúa vẫn tiếp tục giải cứu họ, tiếp tục dùng cuộc đời bất toàn, tội lỗi của họ.
Vậy nếu qv cảm thấy bất bình, bực dọc, tổn thương vì STK 16, vì các nhân vật qv thường nâng cao lên đài danh vọng nay như sụp đổ, có thể qv đã hiểu sai lời KT dạy hay không? Qv nghĩ rằng KT dạy về đời sống đạo đức của người tin Chúa nhưng có thể qv đã hiểu sai sứ điệp chính yếu của lời Chúa cho con người hay không?
You may think the message of the Bible is give God a righteous life, and then God will bless. So, hey. Where’s the righteous life? What’s the moral of the story? The message of the Bible is not you give God a righteous life and then he owes you but that God comes to you (all of us) always by sheer grace and then we owe him.
In other words, is the Bible mainly about you and what you should be doing or is it mainly about him and what he has done? Which is it? If it’s mainly about him and what he has done, if it’s mainly a gospel, if it’s mainly a record of how God continually puts his grace into the lives of people who don’t seek it, don’t deserve it, continually resist it, and don’t appreciate it even after they’ve been saved by it, then there’s nothing surprising about this, is there?
7Thiên sứ của Đức Giê-hô-va gặp nàng bên một suối nước trong hoang mạc, cạnh con đường đi về Su-rơ, 8và hỏi: “Nầy A-ga, tớ gái của Sa-rai, ngươi từ đâu đến, và định sẽ đi đâu?” Nàng thưa: “Tôi trốn khỏi Sa-rai, bà chủ tôi.” 9Thiên sứ của Đức Giê-hô-va bảo nàng: “Ngươi hãy trở về với chủ ngươi, và chịu lụy dưới tay bà ấy.” 10Thiên sứ của Đức Giê-hô-va còn nói: “Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi tăng gấp bội, đông đến nỗi không thể đếm được.” 11Thiên sứ lại nói:
“Nầy, ngươi đang mang thai và sẽ sinh một trai,
Hãy đặt tên nó là Ích-ma-ên,
Vì Đức Giê-hô-va đã lắng nghe tiếng kêu than của ngươi.
12Đứa trẻ đó sẽ như một con lừa rừng,
Tay nó sẽ chống lại mọi người,
Và tay mọi người chống lại nó.
Nó sẽ ở trong thế đối nghịch với tất cả anh em mình.” (STK 16:7-12)
Đây là lần đầu tiên trong cả KT thiên sứ của ĐGHV xuất hiện đến một người, một phụ nữ, một nô lệ, một người ngoại quốc, một người thuộc tầng lớp bần cùng, thấp hèn nhất trong xã hội. Không phải Sa-rai nhưng A-ga! Thiên sứ hiện đến cùng A-ga khi bà đang trên đường trốn về lại xứ Ai-cập cạnh con đường đi về Su-rơ.
Tại sao thiên sứ ĐGHV hiện ra cùng A-ga? Vì ĐGHV đã lắng nghe tiếng kêu than của ngươi. Khi Sa-rai hành hạ A-ga, A-ga kêu than, ĐCT lắng nghe lời kêu than của người tớ gái này.
Ai là Thiên sứ ĐGHV? Chính là ĐCJC trước khi Ngài hạ thế làm người. Làm sao chúng ta biết? Bởi vì chính thiên sứ hứa Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi đông đến nỗi không thể đếm. Và chính A-ga xác nhận điều này khi bà gọi thiên sứ là: Đức Giê-hô-va, Đấng đã phán với mình, là “Đức Chúa Trời đoái xem (13). ĐCT đoái xem thật là ĐCT thấy tôi, và đặt tên giếng là La-cha Roi, có nghĩa là giếng của Đấng Hằng Sống đã thấy tôi.
Thiên sứ hỏi, thay vì phán! Nầy A-ga, tớ gái của Sa-rai, ngươi từ đâu đến, và định sẽ đi đâu? A-ga trả lời: Tôi trốn khỏi Sa-rai, bà chủ tôi. 9Thiên sứ của Đức Giê-hô-va bảo nàng: “Ngươi hãy trở về với chủ ngươi, và chịu lụy dưới tay bà ấy.” 10Thiên sứ của Đức Giê-hô-va còn nói: “Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi tăng gấp bội, đông đến nỗi không thể đếm được.
Trở về và chịu lụy dưới Sa-rai, người đã hành hạ A-ga? A-ga có ý trở về Ai-cập. Bà đang mang thai. Chuyến đường về Ai-cập đầy những khó khăn, nguy hiểm, không chắc A-ga trở về lại Ai-cập bình an. Nhưng rồi tại đó bà sẽ sống thế nào? Một phụ nữ không chồng, mang thai, ai sẽ chấp nhận? Một nô lệ bỏ trốn sẽ sinh sống thế nào? ĐCT khuyên bà trở về hoàn cảnh cũ với một lời hứa: Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi tăng gấp bội, đông đến nỗi không thể đếm được. Với lời hứa này, A-ga có thể chấp nhận hoàn cảnh nghiệt ngã, chấp nhận sự ngược đãi của Sa-rai. Tại sao? Bởi vì A-ga đã gặp ĐCT.
At the very best, she is never going to settle down. She is always going to be looking over her shoulder. At the very worst, she is going to be caught, destroyed, maybe killed. Here’s what he says. “I’m going to give you the freedom you want, but you have to go back.” See, we actually know as the readers that she goes back. God says, “I’ll protect you there.” She has Ishmael. When Sarai’s jealousy in chapter 21 reasserts itself, Sarai says to Abram, “Cast out the bondwoman and her son.” Abram very unwillingly (but he does it) sends her out.
That’s what you have at the last part of the text. Abram now sends her out. This time she and Ishmael are physically on the verge of death, but God comes through, shows them a well, and saves them again. Now she is free. She is really free! Here’s the point. God sometimes calls us to do things that are extremely difficult, yet they’re on the way to some greater blessing. But at the moment, we cannot see the whole picture. We have no idea why.
Can you live with a God like that? In other words, God will give you what you would have asked for if you knew everything he knows, but you don’t. God says to her, “I want you to go back into a situation of extreme difficulty, and this is the way I’m going to get you to the blessing.” She can’t see that, but she goes. Can you live with a God like that? If he is God, if he is God, of course that would be the way he’d be. Do you live that way? Are you willing to see the extremely difficult situations God very often keeps you in are ways to blessing, but you can’t see them? Are you able to trust him?
PL giải thích trong Ga-la-ti 4 về một ý nghĩa khác của STK 16: hai người nữ đó là hai giao ước. Một là giao ước tại núi Si-na-i, sinh con ra để làm nô lệ, đó là A-ga. 25A-ga là núi Si-na-i trong miền Ả-rập, tương ứng với Giê-ru-sa-lem bây giờ, vì thành nầy cùng với con dân nó đều làm nô lệ. 26Nhưng Giê-ru-sa-lem thiên thượng là tự do; đó là mẹ chúng ta. (Ga-la-ti 4:24-26) Ạ
