Ý Nghĩa Thập Giá
Đức Chúa Jêsus vác thập tự giá mình, đi đến ngoài thành, tại nơi gọi là cái Sọ, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Gô-gô-tha. (Giăng 19:17)
Đêm nay chúng ta kỷ niệm đêm ĐCJC chịu thương khó và suy nghiệm về ý nghĩa của thập tự giá chính Jêsus đã mang lên đồi Gô-gô-tha và chịu chết trên cây gỗ đó.
Nói đến thập tự giá thì chắc rằng có nhiều hình ảnh sẽ đến trong trí mỗi quí vị. Có thể là hình ảnh của cây thập tự giá trên ngôi thánh đường nào đó lần đầu tiên nhìn thấy, hay cây thập tự trong một sảnh đường nào đó. Và nếu hỏi về ý nghĩa gì quí vị nghĩ về thập giá thì chắc cũng có nhiều câu trả lời khác nhau: cứu chuộc, hy sinh, yêu thương… Tựu chung có 3 điều gói ghém ý nghĩa chính yếu của thập tự giá: 1) Tha thứ, 2) Yêu thương, 3) Hy vọng.
Trước khi chia xẻ về 3 ý nghĩa quan trọng và chính yếu này của thập giá, tôi muốn được ôn lại vài chi tiết về buổi tối cuối cùng trong cuộc đời ĐCJC cho đến thứ Sáu khi Ngài bị đóng đinh:
KT cho biết vào tối thứ Năm trong tuần lễ cuối cùng của đời Chúa, Ngài dự buổi ăn theo lễ Vượt Qua cùng 12 môn đồ trên một phòng cao. Trong bửa ăn cuối đó, Chúa rửa chân cho các môn đồ gồm cả Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người phản bội, bán thầy mình với giá 30 miếng bạc, cả Phi-e-rơ, người chối Ngài ba lần trước khi trời sáng, và cả 10 môn đồ, những người bỏ chạy khi Jêsus bị bắt. Cũng trong bửa cuối này Chúa thiết lập tiệc thánh. Sau bửa ăn Ngài cùng các môn đồ đến vườn Gết-sê-ma-nê để cầu nguyện. Tại đó Chúa bị phản bội, bị bắt. Rồi trong đêm thứ Năm và đến sáng thứ Sáu Chúa bị xử qua 6 phiên toà. Đến phiên xử cuối cùng, tổng trấn Phi-lát vì áp lực của các thầy thông giáo và dân chúng nên phải ra lệnh xử tử Jêsus trên thập tự giá. Gần giữa trưa thứ Sáu họ đóng đinh Jêsus giữa hai tên trộm cướp. Độ 3 giờ chiều hôm nay Ngài trút hơi thở cuối cùng trên thập tự giá.
Vài trăm năm trước khi ĐCJC giáng sinh thì cách xử tử tội nhân trên thập tự giá đã có rồi. Lịch sử cho biết sau khi đại đế Alexander the Great chiếm được thành Tyre thì ra lệnh xử tử 2,000 người bằng cách treo họ lên cây gỗ trên bờ biển Đại Trung Hải. Tuy nhiên đế quốc La-mã đã biến cách tử hình này trở nên dã man, tàn nhẩn hơn bao giờ hết. Hình ảnh thập tự giá tượng trưng cho sự trừng phạt đau đớn nhất, đáng kinh khiếp nhất, nhục nhả nhất. Ý nghĩ về thập tự giá làm cho người ta rùng mình sợ hãi, nếu không nói kinh sợ. Một triết gia La-mã tên Seneca tuyên bố rằng thà tự tử còn hơn là chết trên thập giá. Sử gia Do Thái Josephus gọi hình phạt đóng đinh trên thập giá là cách chết dã man nhất trong mọi cái chết. Nhà hùng biện Cicero nói Ý nghĩ về thập giá không nên bao giờ đến với công dân La-mã, không bao giờ đến trong ý nghĩ, mắt nhìn, tai nghe. Công dân La-mã dù tội nặn đến mấy cũng sẽ bị chém đầu chứ không bao giờ bị đóng đinh trên thập giá cả. Các sử gia cho biết rằng hình phạt tử hình khủng khiếp này kéo dài khoảng 800 năm cho đến khi đại đế La-mã Constantine sau khi tin Chúa bải bỏ cách trừng phạt này vào thế kỷ thứ 4 sau công nguyên.
Bởi vì ĐCJC nên thập tự giá hôm nay không còn là biểu tượng của sự tra tấn man dã nhất, đau đớn nhất, cũng không còn là hình ảnh của sự trừng phạt tàn nhẫn nhất. Thập giá được xem là biểu tượng của sự nhân từ như các hội đoàn từ thiện như hội hồng thập tự, Salvation Army; biểu tượng của quyền năng bảo vệ, che chở khi những cây thánh giá người ta trên mình. Sự chết của ĐCJC trên thập tự giá thay đổi tất cả và mang lại ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ về thập giá.
THA THỨ
Thập tự giá nói lên sự tha thứ của ĐCT cho tội nhân. Sự tha thứ này dành cho mọi người không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, học vấn, màu da, chủng tộc, kinh nghiệm sống. Khi bị treo trên cây gỗ ĐCJC gánh lấy hết mọi tội lỗi của nhân loại, quá khứ, hiện tại và tương lai lên vai Ngài. Huyết Chúa đổ ra làm làm sạch sự nhơ nhớp của tội lỗi cho những ai tin nhận Ngài là Cứu Chúa đời sống họ.
Nhưng nếu thập tự giá mang ý nghĩa tha thứ của ĐCT cho tội nhân, thì nó cũng nói lên sự độc ác, tàn nhẫn của con người. ĐCT ban cho loài người khả năng sáng tạo vô cùng phong phú: nhìn xem bao nhiêu điều xã hội hôm nay kiến tạo nhưng cũng hãy xem biết bao nhiêu chiến tranh, bao nhiêu cuộc tàn sát, bao nhiêu xương máu, nước mắt đã đổ ra và hiện vẫn còn đang đổ ra trong mỗi ngày của đời sống này. Khi nhìn vào thập tự chúng ta nhìn vào tội lỗi độc ác của con người!
Một lần tôi có nói chuyện với một thanh niên mới sang HK về Chúa. Tôi giải thích cho cậu về sự tha thứ và cứu chuộc của ĐCJC cho tội của chúng ta thế này. Giả sử khi còn ở Việt Nam em phạm một tội và phải bị bỏ tù nên có tiền án trong lý lịch. Sau khi ra tù em quyết định làm giấy phép xin di cư sang HK. Sở di trú HK xem lại hồ sơ lý lịch và biết rằng trong quá khứ em phạm tội và hiện vẫn mang tiền án nên không cấp giấy nhập cảnh. Trong trường hợp đó làm sao em có thể sang HK? Chỉ có khi một nhân vật có thẩm quyền trong chính phủ HK như tổng thống hay bộ trưởng ngoại giao viết một lá thư hay gọi điện thoại đến sở di trú để đảm bảo cho lý lịch của em. Bằng không dù đã ở hết án tù tại VN, dù đã cố thay đổi tính tình, thì vẫn không thể được HK chấp nhận. Tại sao? Bởi vì việc cho vào hay không tùy thuộc hoàn toàn vào luật pháp HK và người thực hiện luật pháp đó. Tôi và mỗi quý vị đây được tha thứ bởi vì chính ĐCJC biện hộ cho chúng ta với ĐCT rằng chính Ngài đã trả hết tội cho chúng ta trên thập tự giá và bảo đảm cho chúng ta trước ĐCT hoàn toàn thánh khiết.
Tuy nhiên không phải chỉ vì thập tự giá nên mọi người tự động được tha thứ, được cứu chuộc. Điều kiện của sự tha thứ gồm có: 1) Nhận mình là tội nhân không tự cứu mình được bằng công đức, việc làm tốt, 2) Thật sự ăn năn, hối cải về tội lỗi của mình, 3) Tin vào sự cứu rỗi và sự tha thứ tội của ĐCJC trên thập giá và mời Chúa làm Chúa, làm Chủ đời sống. Vậy thập tự giá tạo cơ hội để chúng ta được tha thứ chứ không tự động cho mọi người. Chỉ khi chúng ta tiếp nhận cơ hội đó thì mới được cứu chuộc, tha thứ.
Điều này thể hiện rõ nhất qua cuộc đời của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt và Phi-e-rơ. Cả hai đều phạm trọng tội. Cả hai đều theo Chúa trong suốt 3 năm trời, thấy phép lạ, nghe lời dạy, chứng kiến sự thay đổi đời sống mà ĐCJC mang lại cho bao nhiêu người trong đoàn dân theo Ngài. Sau khi phạm tội, cả hai đều hối hận, ăn năn. Nhưng Giu-đa thà tự lấy mạng sống mình bằng cách tự tử còn hơn trở lại với ĐCJC để xin được tha thứ. Còn Phi-e-rơ nhìn nhận tội lỗi của mình và trở lại cùng Chúa và hầu việc Ngài đến suốt cuộc đời. Không phải tội ai lớn hơn ai hay Chúa yêu ai nhiều hơn. Điều duy nhất khác nhau là một người nhận lấy sự cứu chuộc, tha thứ của ĐCJC còn người kia không làm điều đó.
Nếu không có sự tha thứ thì quan hệ của mỗi người với ĐCT như bị chận lại bởi một bức tường, một hàng rào dầy đặc. Hàng rào đó, bức tường đó là tội lỗi chúng ta. Mỗi viên gạch trong bức tường đó là tội chúng ta đã phạm trong mỗi ngày, mỗi giờ của đời sống. Không phải Chúa xây bức tường đó nhưng chính tội lỗi của chúng ta đã dựng lên nó. Khi được Chúa tha thứ cho chúng ta thì bức tường đó sẽ không còn vì chính Jêsus đã lấy đi mỗi viên gạch.
Hình ảnh này cũng thường thấy trong quan hệ trong đời sống này giữa vợ và chồng, cha mẹ và con cái, tín đồ và mục sư, tín đồ và tín đồ. Mỗi lỗi lầm người khác làm như một viên gạch cứ hàng ngày thêm lên. [Nêu lên một vài ví dụ cụ thể] Nhưng khi tôi nhìn tôi chỉ thấy bức tường do người ta xây mà không thấy bức tường do chính tôi xây.
Chính vì trên thập tự giá ĐCJC đã ban cho mọi người cơ hội đến để nhận lấy sự cứu chuộc, sự tha thứ nên những ai đã nhận được sự tha thứ thì cũng phải học để tha thứ cho người. Bởi chính lời ĐCJC nhắc dạy: Vả, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi. (Ma-thi-ơ 6:14-15)
YÊU THƯƠNG
Thập tự giá thể hiện tình yêu thương cụ thể nhất của ĐCT cho loài người.
KT viết: Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình (Giăng 15:13). Vâng có người dám hy sinh cho bạn hữu mình. Vài ngày trước đây tin tức cho biết một binh sĩ HK tên Dennis Weichel tại Afghanistan đã hy sinh chính mạng sống mình để cứu một em bé gái. Một số em nhỏ lượm vỏ đạn trên đường để bán khi đoàn công voa đi qua. Những người lính xuống xe để đuổi các em ra khỏi đường. Thình lình một em bé gái nhảy ra đường để lượm cho được một vỏ đạn. Bấy giờ một xe chống mìn chạy tới. Ông Dennis chạy ra trước đầu xe chụp lấy em khi em gần bị cán bởi một xe quân đội và quăn em bé vào lề khi chính ông bị xe cán đến chết. Mọi người cảm động và ngưỡng mộ sự can đảm và tình yêu thương của người lính anh hùng này đã chết cho một đứa bé hoàn toàn xa lạ.
Nhưng ĐCJC không chỉ chết cho người tin Ngài, người ngưỡng mộ, kính trọng Ngài, cho con trẻ ngây thơ, hồn nhiên, dễ thương mà còn cho cả những kẻ từ chối, mắng nhiếc, tra tấn Ngài. Chúa chết cho tội nhân vì Ngài yêu thương cả thế gian này. Cho cả Giu-đa phản Ngài, cho cả những người thông giáo tìm cách giết Ngài, cho đoàn dân đông thay đổi lòng dạ như gió đổi chiều, cho cả Phi-lát và Hê-rốt. Phao-lô giải thích về tình yêu vô hạn đó: Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành. Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết (Rô-ma 5:7-8)
Qua thập tự giá ĐCT bày tỏ tình yêu thương vô hạn cho loài người, dù khi đang mang tội. Qua thập tự giá tình yêu thương của ĐCT cho con người không còn trừu tượng, mơ hồ nhưng vô cùng cụ thể. Thập giá cụ thể hoá tình yêu bao la của ĐCT qua ĐCJC cho loài người.
Người Việt chúng ta có câu: Thức đêm mới biết đêm dài. Truyện Thúy Kiều cũng có câu: Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Qua thập tự giá ĐCJC đã cùng thức đêm với những người thức đêm dài, và trải qua đọan trường chính con người trải qua. Chúa đã vác chính thập tự Ngài như Giăng đã viết: Đức Chúa Jêsus vác thập tự giá mình, đi đến ngoài thành, tại nơi gọi là cái Sọ, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Gô-gô-tha. (Giăng 19:17). Tác giả sách Hê-bơ-rơ viết rõ hơn về điều này:
* Nhơn đó, Ngài phải chịu làm giống như anh em mình trong mọi sự, hầu cho đối với Đức Chúa Trời, trở nên thầy tế lễ thượng phẩm, hay thương xót và trung tín, đặng đền tội cho chúng dân. (Hê-bơ-rơ 2:17)
* Dĩ nhiên Ngài không giúp đỡ các thiên sứ nhưng giúp đỡ dòng dõi Áp-ra-ham. Vì lý do đó, Ngài phải trở nên giống như anh em Ngài trong mọi mặt để làm vị thượng tế, đầy lòng thương xót và thành tín trước mặt Đức Chúa Trời để đền tội cho dân chúng. (BDM)
* Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. (Hê-bơ-rơ 4:15)
Tình yêu của ĐCT thể hiện qua thập tự giá thủy chung, bền vững, chắc chắn, không có gì có thể xoay chuyển, thay đổi. Khác với tình yêu thương loài người đổi thay theo chiều gió: nay giận mai thương, nay hứa nguyện mai bội phản.
Chính Phao-lô đã viết rằng tình yêu thương là con đường tốt lành hơn, món quà ân tứ cao cả hơn hết trong mọi ân tứ. Nên bây giờ còn có ba điều nầy: đức tin, sự trông cậy, tình yêu thương; nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương.(1 Cô-rinh-tô 13:13). Sứ đồ Giăng viết Chúng ta đă biết và tin sự yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Đức Chúa Trời tức là sự yêu thương, ai ở trong sự yêu thương, là ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy… Chúng ta yêu, vì Chúa đă yêu chúng ta trước. (1 Giăng 4:16,19).
HY VỌNG
Không ai trong đời lại không một lần than vãn Trời ơi, Chúa ơi, tại sao? Than vãn bởi vì những đau khổ, tai nạn xảy ra bất ngờ. Có ai lại không một lần khi nhìn thấy những cảnh ngộ đau thương cùng cực như những nạn nhân chiến tranh, như người bệnh đau đớn triền miên mà không tự hỏi: Tại sao con người lại phải gánh chịu khổ đau trong đời sống? Câu trả lời không phải đơn giản bởi vì họ có tội!
Từ ngàn năm nay biết bao nhiêu người thông thái, bao nhiêu triết gia, tu sĩ cố tìm cách giải thích, tìm câu trả lời cho câu hỏi này nhưng vẫn không tìm được. Nhưng qua thập tự giá Chúa mang người tin Chúa có câu cả trả lời: đó là hy vọng. Qua thập giá Chúa biến một cảnh ngộ tang thương nhất sang một hy vọng lớn nhất trong lịch sử loài người: từ sự chết đau đớn trên thập giá sang đến sự sống lại vinh hiển 3 ngày sau đó.
Bài học là dù khi đi qua những cảnh ngộ đau thương nhất, khi nhìn vào thập giá Chúa mang, chúng ta vẫn có thể có hy vọng vì biết rằng nếu ĐCT đã biến sự chết trên cây gỗ nên sự cứu chuộc tội lỗi con người, biến sự chết sang sự sống lại vinh hiển vài ngày sau đó. Vì vậy Chúa chắc chắn cũng sẽ thay đổi hoàn cảnh khó khăn, đau thương hiện tại ra một tương lai ý nghĩa với ơn phước Ngài ban.
HAI SỰ CHỌN LỰA
Khi ĐCJC bị đóng đinh trên đồi Sọ, có lẽ để nhạo báng hay làm nhục nên họ đóng đinh Chúa giữa hai tên trộm cướp. Cả hai đều bị đóng đinh như Jêsus. Nhưng khác với Jêsus Christ là cả hai đều có tội. Và chính vì tội của họ mà họ bị đóng đinh. Jêsus chết cho tội của mọi người, cho cả hai người tử tội này. Một người thì mắng nhiếc Chúa: Vả, một tên trộm cướp bị đóng đinh cũng mắng nhiếc Ngài rằng: Người không phải là Đấng Christ sao? Hăy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa! (Lu-ca 23:39). Còn người kia thì ý thức rõ về hậu quả hắn mang bởi vì tội lỗi: Nhưng tên kia trách nó rằng: Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy, còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao? Về phần chúng ta, chỉ là sự công bình, vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng ngươi nầy không hề làm một điều gì ác. (23:40-41). Chú ý lời hắn nói. Trước hết hắn đồng ý rằng hình phạt đang mang xứng với tội đã phạm. Còn Jêsus thì không hề làm một điều gì ác cả: Chúa hoàn toàn vô tội. Sau đó hắn làm thêm một việc nữa: Đoạn lại nói rằng: Hỡi Jêsus, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi! (23:42). Người ấy xin Jêsus cứu lấy.
Phải chăng hình ảnh của hai tử tội trên thập giá đối với Jêsus tượng trưng cho hai lựa chọn rõ nhất mà mỗi chúng ta đối diện. Hai thái độ, hành động và chọn lựa của hai tử tội quyết định vận mệnh của họ. ĐCJC cả quyết cùng người đã xin Chúa nhớ đến ông: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi. (23:43)
Bởi vì lời giảng về thập tự giá, thì những người hư mất cho là điên dại; song về phần chúng ta, là kẻ được cứu chuộc, thì cho là quyền phép của Đức Chúa Trời. Cũng có lời chép rằng: Ta sẽ hủy phá sự khôn ngoan của người khôn ngoan, Tiêu trừ sự thạo biết của người thạo biết. Người khôn ngoan ở đâu? Thầy thông giáo ở đâu? Người biện luận đời nay ở đâu? Có phải Đức Chúa Trời đă làm cho sự khôn ngoan của thế gian ra dồ dại không?... Vả, đương khi người Giu-đa đ̣i phép lạ, người Gờ-réc tìm sự khôn ngoan, thì chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập tự, là sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là dồ dại; song le, về những người được gọi, bất luận người Giu-đa hay người Gờ-réc, thì Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. (1 Cô-rinh-tô 1: 18-24)
