Một tác giả viết: Nếu TT 23 được nhiều người biết đến nhất, TT 103 nói lên sự vui mừng lớn nhất, TT 119 gồm những lời dạy về lời Chúa sâu sắc nhất, TT 51 bày tỏ lòng ăn năn, thống hối nhất, thì TT 84 là một trong những bài thi thiên ngọt ngào nhất về sự bình an.”
TT 84 cũng như TT 63 đã đọc tuần qua là một thi thiên nói lên tấm lòng khao khát của người tin cậy Chúa được ở trong nhà Chúa, được gần Chúa và nương cậy nơi Ngài. Theo lời đề tựa thì TT được viết bởi con cháu Cô-rê. Khi tìm hiểu về con cháu Cô-rê là ai, tôi có đọc một câu chuyện có thật liên quan vừa vui vừa ý nghĩa.
Mục sư Donald Grey Barnhouse là một trong những vị mục sư tài giỏi và nổi tiếng nhất tại HK cho đến giữa thế kỷ 20 qua. Ông không những quản nhiệm một HT trưởng lão nổi tiếng nhất tại thành phố Philadelphia trong suốt 37 năm cho đến khi qua đời, mà còn là một nhà thần học. Khi còn trong trường thần học, ông có một buổi cầu nguyện chung với các sinh viên. Trước khi cầu nguyện mỗi sinh viên đều chia sẻ một đoạn KT ý nghĩa với mình. Đến phiên một người sinh viên, anh đọc 1 SK 26:18: Tại Bạt-ba về phía tây cũng có kẻ canh giữ: trên con đường có bốn người, và tại chính Bạt-ba có hai người. Rồi anh thách thức mọi người xem ý nghĩa gì với câu KT này. Sau này người sinh viên này bỏ trường thần học!
Nhiều năm sau đó khi MS Barnhouse soạn bài giảng và đọc lại 1 SK 26. Ông nhớ đến câu chuyện xưa và nhất quyết tìm hiểu ý nghĩa của 1 SK 26:18. 1 SK 26 ghi lại phần phân công việc giữ cửa đền thờ của con cháu thuộc nhánh thứ ba của dòng Lê-vi, gọi là dòng Cô-rê. Trách nhiệm chính của con cháu dòng Cô-rê là giữ cửa đền thờ của ĐCT. Đoạn 26 nói về phần công việc của họ: có người giữ cửa phía bắc, phía nam, phía đông, phía tây. 1SK26:18 có nghĩa gì? BD2011 dịch như sau: cổng hướng tây là nơi có sân đền thánh, bốn người canh ở đầu đường dẫn vào đền thánh, và hai người canh ở cổng nơi sân đền thánh. Từ bạt-ba là tên của cổng hướng tây của đền thờ. Cả đoạn KT này ghi lại tên và công việc của những người phục vụ như người giữ cửa đền thờ ĐCT. Dù công việc tưởng như rất tầm thường nhưng ĐCT ghi nhớ tên và công việc của họ.
MS Barnhouse viết: nhiều lần tôi cảm tạ ĐCT vì lời châm biếm, mai mỉa của người sinh viên trong buổi cầu nguyện hôm đó. Anh chủ ý gây khó khăn, nhưng ĐCT dùng điều đó để dạy cho tôi một bài học khi tôi tìm hiểu lời Chúa, rằng ĐCT chú ý đến những con người tầm thường nhất làm những công việc tầm thường nhất (những người giữ cửa đền thờ).
Mỗi chúng ta đều luôn có những khao khát (longing, yearning), mong mỏi, ước nguyện. Khi còn trẻ chúng ta mong được lớn; khi lớn, lại muốn được trẻ lại. Người sống trong vùng lạnh lẽo mong nơi ấm áp, vùng nhiệt đới; người sống nơi nhiệt đới lại mong thấy tuyết rơi, thấy những tảng băng đá. Khi ở nhà chúng ta khao khát được đi đến một nơi xa nào đó chưa thấy qua; khi xa nhà một thời gian, lại muốn trở về nơi mà con tim, tâm hồn chúng ta thật sự gắn bó. Nhưng nếu con tim, tâm hồn không ở đó thì lại muốn ra đi.
Khi nhìn vào bản đồ thế giới hay HK, lòng qv thường hướng về nơi nào? Về nơi qv đã sinh ra, lớn lên, nơi đang sinh sống, nơi gia đình, người thân đang ở đó. Tại sao? Vì đó là nơi thân thiết, quan trọng nhất với qv.
Cũng có những khao khát, mong mỏi, ước nguyện sâu kín nhất trong tâm hồn, suy nghĩ, tình cảm chúng ta ấp ủ, mong đạt được. Nói một cách khác, khao khát, ước nguyện thật sự của tâm hồn là động cơ quan trọng nhất thúc đẩy đời sống, suy nghĩ, hành động, thái độ của mỗi người trong cuộc đời này. Khi hỏi qv muốn gì, câu trả lời có thể tùy theo người hỏi, nơi được hỏi hay tùy theo người nghe. Nhưng khi một mình, khi không bị một áp lực nào thì điều mà con tim qv, tâm hồn qv khao khát nhất chính là điều quan trọng nhất của cuộc đời qv.
Trong bài giảng này tôi muốn chia sẻ cùng qv một bài thơ, bài hát về một khao khát, một ước nguyện lạ lùng mà ĐCT đã đặt để trong tâm hồn mỗi chúng ta: khao khát được biết Chúa, khao khát về một ở phước hạnh đời đời. Khao khát như Augustine đã viết từ ngàn năm trước đây: Chúa đã tạo chúng con cho chính Ngài, và tâm hồn chúng con không được bình an cho đến khi được an nghĩ trong Chúa. You made us for yourself, and our hearts find no peace until they rest in you. Bài thơ, bài hát đó trong Thi Thiên 84.
KHAO KHÁT ĐƯỢC Ở TRONG NHÀ CHÚA
Âm nhạc, thơ văn là một sáng tạo quan trọng và cần thiết cho đời sống con người. Qv có thể không nhớ những bài học luân lý hay giáo điều khô khan nhưng rất dễ nhớ một bài hát, bài thơ. Tôi vẫn còn nhớ như mới hôm qua về một buổi chiều khi tôi còn học lớp 7. Đang buồn ngủ, tôi nghe cô đọc một bài thơ của Huy Cận có tựa là Tràng Giang thì bật tỉnh lại: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp. Con thuyền xuôi mái nước song song, thuyền về nước lại, sầu trăm ngả; Củi một cành khô lạc mấy giòng. Từ đó tôi muốn học ngành văn.
Hay như vào khoảng thập niên 1990 khi về VN thăm nhà đi đâu tôi cũng nghe bài hát “Lá diêu bông” của nhạc sĩ Trần Tiến. Người lớn, người nhỏ, người đạp xích lô hay sinh viên đều ngân nga Lời ru buồn, nghe mênh mang, mênh mang sau lũy tre làng, khiến lòng tôi xôn xao… Bướm vàng đã đậu cây mù u rồi. Lấy chồng sớm làm gì để lời ru thêm buồn. Cũng có nhiều bài hát, bài thơ mà mãi mấy mươi năm rồi qv và tôi cũng không hề quên được.
Đây cũng chính là lý do ĐCT ra lệnh cho Mô-se làm một bài hát để làm chứng cho dân sự về ĐCT trước khi dân sự vào đất hứa trong Phục Truyền 31:19. Bởi vì bài hát dễ cho dân sự ghi nhớ và dễ cho họ lưu truyền từ đời này sang đời nọ.
Thi Thiên là một tuyển tập thơ nhạc được sáng tác bởi nhiều tác giả, trong nhiều hoàn cảnh, gia đoạn sống khác nhau. TT bày tỏ suy nghĩ, tấm lòng, tình cảm chân thật nhất trong đời người trãi qua những cảnh ngộ khác nhau của đời sống. Có những TT quen thuộc như TT 23 hay TT 90 viết bởi Mô-se.
TT được người tin Chúa (và cả người không tin Chúa) yêu thích vì nó bày tỏ tình cảm, xúc động chân thật mà tất cả mọi người đều có thể liên hệ đến. TT cũng không khác gì những bài thơ, bài nhạc mà chúng ta thường ngâm, thường hát, thường nghe khi vui, khi buồn, khi thất vọng, nãn lòng, hay khi thành công, thắng lợi.
TT 84 cũng vậy. Đây là bài hát bày tỏ khao khát, ước nguyện sâu kín nhất từ đáy tim, tâm hồn của người tin Chúa về ĐCT. Khao khát được biết Chúa và được một cuộc sống sống đời đời nơi thiên đàng. Sự khao khát đó do chính ĐCT đặt để. TT 84 theo lời đề tựa được viết bởi con cháu Cô-ra.
Tác giả Truyền Đạo viết: Lại, Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người; dầu vậy, công việc Đức Chúa Trời làm từ ban đầu đến cuối cùng, người không thế hiểu được. (TĐ 3:11). Nếu chính Chúa đã để sự đời đời nơi lòng người thì chỉ có Ngài mới có thể thoả mãn được. Và nếu tâm hồn chúng ta không có sự đời đời đó, hay mong ước về sự đời đời đó thì sẽ có một khoảng trống rất lớn mà không ai, không vật gì có thể khoả lấp được.
1-2: Lạy CHÚA Vạn Quân, Nơi ngự của Ngài đáng yêu quí biết bao [đáng thương thay; đáng yêu mến thay – BD2011]! 2 Linh hồn tôi tha thiết mong ước để được ở trong sân đền CHÚA; Tâm hồn lẫn thể xác tôi ca hát vui mừng Cho Đức Chúa Trời hằng sống.
TT 84 bắt đầu với lời ngợi ca về nơi ở của ĐCT, tức đền thờ và lòng khao khát của tác giả được ở trong nhà Chúa. Tác giả muốn được đến nơi đó, tha thiết mong ước để được ở, dù chỉ được ở trong sân đền. Sân đền chỉ là vòng ngoài, như khuôn viên bên ngoài nhà thờ, bên ngoài đền thờ [hình]. Nhưng đối với tác giả, nhà Chúa không phải là nơi phải miễn cưỡng, hay ép buộc đến mỗi sáng Chúa nhật hay mỗi tối thứ Sáu.
Hàng năm, hằng ngàn người từ khắp 50 tiểu bang muốn đến xem tòa Bạch Ốc (White House) dù phải chịu tốn kém, mất thời gian. Để được vào thăm nhà trắng, qv phải điện thoại cho hạ hay thượng nghị sĩ tiểu bang để xin ticket. Hàng năm trăm ngàn người trên toàn thế giới chịu tốn kém để đến xem Saint Basilica tại Rome. Qv có nghĩ về nhà Chúa, nơi ĐCT ngự với lòng tự nguyện, với lòng mong mỏi tha thiết như tác giả viết hay không?
Thời đó, ĐCT ngự trong đền thờ. Nhưng ngày nay Chúa ngự trong lòng người tin nhận ĐCJC là Cứu Chúa đời họ. Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? (1 Cô-rinh-tô 6:19)
Đây cũng là điều tiên tri Ê-sai đã viết từ ngàn xưa: Đấng cao cả, ở nơi đời đời vô cùng, danh Ngài là Thánh, có phán như vầy: Ta ngự trong nơi cao và thánh, với người có lòng ăn năn đau đớn và khiêm nhường, đặng làm tươi tỉnh thần linh của những kẻ khiêm nhường, và làm tươi tỉnh lòng người ăn năn đau đớn (Ê-sai 57:15) Nhưng KT cũng cho biết về con tim, tấm lòng con người: Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được? (Giê-rê-mi 17:9) ĐTL của ĐCT, Đấng Thánh chịu ở trong tấm lòng dối trá, xấu xa của con người? Nhưng con người lại không muốn ở trong nhà Chúa là nơi đẹp đẻ, sáng láng, đầy phước hạnh. Đây là một điều hết sức trái ngược lạ lùng!
Nơi ở nói rất nhiều về địa vị, quyền thế, tài lực, sự giàu có của một người. Tổng thống HK sống trong tòa bạch ốc. Nữ hoàng Anh quốc trong cung điện Buckingham. Tỉ phú Bill Gates sống trong ngôi biệt thự hàng mấy mươi triệu đồng. Vậy đó mà nơi ở của Chúa của muôn Chúa, vua muôn vua là tấm lòng xấu xa, tội lỗi của qv và tôi! Đây thật là điều khiến chúng ta lấy làm vinh hạnh nhưng cũng đầy lòng biết ơn Chúa.
3-4: Lạy CHÚA Vạn Quân, là Vua của tôi, là Đức Chúa Trời tôi; Ngay cả con chim sẻ cũng tìm được một nơi ở, Và con én cũng tìm được một tổ cho bầy con ở gần bàn thờ Chúa. 4 Phước cho người nào được ở trong nhà Ngài, Họ sẽ ca ngợi Ngài mãi mãi. Sê-la
Tác giả TT xưng Chúa là Vua của Tôi, ĐCT tôi, chứ không phải Vua của gia đình, truyền thống, của dân tộc. Ông biết Chúa và Chúa biết ông một cách gần gũi, cá nhân chứ không mơ hồ, trừu tượng, xa cách.
Theo tự điển bách khoa, chim sẻ và chim én là loài chim phổ thông nhất, dễ tìm nhất, nhiều nhất trong các loài chim. Đây không phải là loài chim đẹp đẻ hay đặc sắc gì, nhưng rất tầm thường với bộ lông xám. Và có thể tìm thấy quanh nhà. Dù vậy tác giả viết ngay cả loài chim sẻ, chim én tầm thường cũng muốn tìm cho con nó nơi ở gần bàn thờ Chúa! Đây cũng là hình ảnh của ĐCT vĩ đại chấp nhận những người tầm thường, nhỏ nhoi, hèn mọn như mỗi chúng ta đây.
Khi so bộ óc của loài chim sẻ và loài người, dĩ nhiên óc người to hơn bội phần và tinh vi hơn bội phần. Dù vậy loài chim bé nhỏ, tầm thường đó dựa vào bản tính tự nhiên Chúa tạo cũng biết rằng nơi an toàn nhất, nơi tốt đẹp nhất cho nó và các con nó là nhà Chúa. Con cái là món quà quí báu của Chúa ban cho. Qv yêu thương, chăm sóc, hy sinh cho con mình; qv sẵn sàng làm tất cả, hy sinh tất cả để bảo vệ, che chở, dưỡng nuôi con mình. Qv muốn con ở nơi an toàn nhất, tốt đẹp nhất. Loài chim sẻ, chim én uỷ thác, giao phó con chúng nó cho sự quan phòng, bảo vệ của Chúa, để chúng nó trong nhà Chúa. Còn qv thì sao?
Bao nhiêu người cho con học trường này trường nọ, dọn đến khu vực an toàn, sang trọng để con có cơ hội trong đời. Nhưng họ lại từ chối để con được đến nhà Chúa mỗi tuần để học kinh thánh, để nghe lời Chúa, để biết ĐCT. Một vài qv đây có thể sợ khi ủy thác con cái cho ĐCT, Ngài sẽ gọi chúng nó làm truyền giáo tại những nơi nguy hiểm, xa xôi, lạc hậu, không có cơ hội tiến thân. Qv muốn con mình làm bác sĩ, kỹ sư tại những thành phố lớn, tiện nghi, tối tân, hiện đại. Nhưng tôi có thể khẳng định với qv rằng không có nơi nào phước hạnh, an toàn, bình an hơn là khi con cái chúng ta đi trong con đường Chúa dạy, ở trong nhà Chúa, hầu việc Ngài.
Việc làm tốt, nơi ở sang trọng là nơi mọi người muốn đạt được, nơi mọi người khao khát, mong muốn cho con cái mình đạt được. Nhưng loài chim nhỏ biết rõ rằng nhà Chúa mới chính là nơi an toàn, bình an, ơn phước hơn hết. Qv có tin điều này và cầu xin cho con cái mình điều này hay không?
Corrie Ten Boom & chị là Betsie bị bắt giam trong trại tù tử hình của Đức Quốc Xã vì gia đình giúp dấu những người Do Thái. Trong trại tù, cha và chị mất. Trước khi bị bắt, một đêm thành phố bị thả bom và bà Corrie bị một miếng miễn bom cắt. Corrie buồn giận, và tự hỏi tại sao ĐCT lại để gia đình bà trải qua cảnh ngộ này. Betsy nói với em những lời sau: There is no if in God’s world. And no places that are safer than other places. The center of His will is our only safety. Oh Corrie, let us pray that we may always know it (His will). Không hề có điều “nếu” trong nước Chúa. Và không nơi nào an toàn hơn nơi khác. Trung tâm của ý Chúa là nơi an toàn duy nhất của chúng ta.
KHAO KHÁT VỀ NƯỚC TRỜI
5-7: Phước cho người được sức mạnh nơi Ngài, Và hướng lòng về con đường hành hương đến Si-ôn. 6 Khi đi ngang qua thung lủng khóc than, Họ biến nó thành nơi có suối nước tuôn trào; Mưa thu cũng giáng phước lành tràn ngập nơi ấy. 7 Họ cứ tiến bước, sức lực càng gia tăng Cho đến khi trình diện trước mặt Đức Chúa Trời y tại Si-ôn.
3 câu KT bày tỏ một hình ảnh vô cùng sâu sắc, ý nghĩa về lòng khao khát về nước Trời và cuộc hành trình về nước Trời. Hình ảnh người hành hương đến Si-ôn là hình ảnh của người tin Chúa quyết tâm, hết lòng tìm kiếm ĐCT và nước Ngài. Si-ôn tượng trưng cho thành Giê-ru-sa-lem, nơi đền thờ của ĐCT, tượng trưng cho nước Trời, nơi mà người tin Chúa rồi sẽ đến.
MSTS Lê Hoàng Phu diễn ý 3 câu KT này như sau: Phúc cho người được Chúa làm Nguồn sức mạnh. Và tâm trí luôn nghĩ đến đường lên đền thờ. Họ đi qua trũng, đồng khô hạn. Họ biến tử địa thành ngọn suối mơ, khiến mưa sa, lấp đầy hồ ao cạn. Như cơn mưa rào rạt phước lành.
Hành hương là một chuyến đi tự nguyện, vui lòng của người tin từ nơi đang sinh sống để đến nơi thiêng liêng, nơi có giá trị và ý nghĩa đặc biệt, quí báu với họ. Đến hôm nay, người Công Giáo VN sống trên xứ này đều hành hương đến tiểu bang miền Nam để dự thánh lễ hàng năm cùng bao nhiêu chục ngàn người cùng đức tin. Người hồi giáo hành hương đến Meca xứ Saudi. Người phật giáo đến Taibet hay Ấn Độ… Khi mẹ tôi qua đời tôi không về được để dự tang lễ. Nên quyết định sẽ dẫn Lan và các con về viếng mộ một lần. Có thể nói đây là một chuyến hành hương cá nhân vì lòng yêu kính mẹ. Tôi sẵn lòng trả mọi phí tổn, tốn kém, mất thời gian để chỉ được trở về. Qv đây cũng “hành hương” hàng năm về quê hương, thăm lại bà con, làng xóm.
Hai ơn phước Chúa hứa ban trong câu 5: 1) Phước cho người được sức mạnh từ Chúa, chứ không phải từ sức mình, sức người, từ sự thông minh, tài giỏi, giàu sang cá nhân; 2) Phước cho người hướng lòng về nhà Chúa, về nước Trời.
Kẻ này nhờ cậy xe cộ, kẻ khác nhờ cậy ngựa chiến. Nhưng chúng tôi nhờ cậy danh CHÚA, Đức Chúa Trời chúng tôi. 8 Chúng nó bị ngã quỵ và té nhào, Nhưng chúng tôi vươn lên và đứng vững. (TT 20:7-8 – BDM); Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa (Ma-thi-ơ 6:33)
Tìm nước người chúng ta sẽ mất nước Trời, tìm nước Trời chúng ta sẽ được cả nước người và nước Trời. (CS Lewis); “He is no fool who gives what he cannot keep to gain what he cannot loose” (Một người không là người dại khi cho đi điều mình không thể giữ để nhận lấy điều mình không thể mất đi) (Jim Elliott)
6-8: Khi đi ngang qua thung lủng khóc than, Họ biến nó thành nơi có suối nước tuôn trào; Mưa thu cũng giáng phước lành tràn ngập nơi ấy. Họ cứ tiến bước, sức lực càng gia tăng Cho đến khi trình diện trước mặt Đức Chúa Trời y tại Si-ôn. - BDM.
Đang khi đi qua trũng khóc lóc. Họ làm trũng ấy trở nên nơi có mạch; Mưa sớm cũng phủ phước cho nó. Họ đi tới, sức lực lần lần thêm; Ai nấy đều ra mắt Đức Chúa Trời tại Si-ôn. BTT
Họ đi qua trũng, đồng khô hạn. Họ biến tử địa thành ngọn suối mơ, khiến mưa sa, lấp đầy hồ ao cạn. Như cơn mưa rào rạt phước lành. Mỗi người lên Si-ôn gặp Chúa, càng đi sức mạnh lại càng tăng – BDY
KT viết rất rõ rằng không phải vì lòng người tin Chúa chân thành tìm kiếm, khao khát đến nhà Chúa, hướng về nước Trời thì sẽ không bao giờ gặp khổ nạn, than khóc. Trái lại trũng than khóc là nơi chắc chắn sẽ trải qua trong chuyến hành hương về đất hứa. Mọi người trong đời sống này đều đi qua trũng than khóc, không ngoại lệ. Có khác chăng là phản ứng, thái độ của người hướng lòng về Chúa khác với người không biết Chúa.
Tất cả đều gặp khổ đau trong đời sống. Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! (Giăng 16:33) Phao-lô cũng cả quyết: Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ (2 Timôthê 3:12)
Tất cả đều có nhiều lần than khóc. Biết đâu trong số qv đây có người đang khóc thầm trong lòng, không ai biết được. Với một số, trũng than khóc dường như quá sâu đến nỗi không thoát ra được. Trũng đó như một nơi bùn lún, càng cử động, càng lún xâu, càng cố đi tới, càng chìm ngập, không lối thoát. Như cái chết của người thân yêu, của chồng, con, hay một vụ ly dị vô cùng cay đắng; hay một tội lỗi đau lòng, nhục danh dự không muốn ai biết, nhưng không thoát ra được.
Với một số, trũng than khóc quá hiểm trở, khó khăn, càng đi đường càng tăm tối, không thấy lối ra. Như một căn bệnh triền miên, thua lỗ, thất bại trong việc làm, trong quan hệ hôn nhân. Với một số khác tự hỏi tại sao đời tôi lại phải trải qua hết trũng than khóc này đến trũng khóc than nọ. Vượt qua một, hai lại đến cái thứ ba. Bao giờ thì trũng thứ tư lại đến, và liệu tôi có thể vượt qua được hay không?
Tác giả TT 84 dùng hình ảnh trũng than khóc. TT cũng dùng 2 hình ảnh khác để nói về sự thử thách, hoạn nạn tưởng như không dứt: thác nước và lượn sóng. Vực gọi vực theo tiếng ào ào của thác nước Chúa; Các lượn sóng và nước lớn của Chúa đã ngập tôi (TT 42:7). Nước đổ từ thác nước không bao chấm dứt hay ngừng nghĩ. Cũng vậy nơi biển cả sóng hết đợt này lại tới đợt khác.
Cho dù trũng than khóc là điều tất nhiên trong đời sống, không ngoại lệ dù đang trên đường đến nước Trời, nhưng thái độ, phản ứng, hành động có thể hoàn toàn khác biệt. Sự khác biệt trong ba điều: 1) Nguồn sức mạnh chúng ta nương tựa, 2) Thái độ chúng ta thể hiện, 3) Những điều chúng ta để lại
Nguồn sức mạnh chúng ta nương tựa: câu 5 - Phước cho người được sức mạnh nơi Ngài, Và hướng lòng về con đường hành hương đến Si-ôn. Khi có mục đích, khổ nạn có thể dễ chấp nhận và vượt qua. Ví dụ: những người tị nạn tìm tự do, tìm sự sống chấp nhận trả giá đắt vì biết rằng đời sống nơi đất mới đáng giá phải trả.
Thái độ thể hiện: Chú ý câu 6: khi đi ngang qua, đang khi đi qua, họ đi qua, nói lên hình ảnh của sự thay đổi trong lúc người hành hương đi ngang qua trũng khóc lóc, họ thay đổi nơi đó trở nên nơi ơn phước. Họ đào giếng, đào trũng để chứa nước. Mưa từ trời Chúa ban sẽ làm cho giếng, cho trũng thành nơi có nước ngọt để uống, để được thêm sức tiếp tục cuộc hành hương.
Khi qua những khổ nạn trong đời, thái độ chúng ta sẽ được người đời chú ý, quan sát, đánh giá. Nếu chúng ta nguyền rủa, trách móc, cay đắng thì có khác gì người không biết Chúa? Nếu chúng ta trả thù, phá hư thì ai nhìn thấy Chúa trong đời chúng ta?
Người có Chúa không phải là người ăn không được thì phá cho hư hay nếu mình không có thì cũng không ai có được. Hỡi anh em, hãy coi sự thử thách trăm bề thoạt đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn, 3 vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sanh ra sự nhịn nhục. 4 Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào. (Gia-cơ 1:3-4)
Những điều để lại - để lại ơn phước, để lại nguồn nước giải khát để thêm sức cho những người mõi mệt, kiệt sức, muốn bỏ cuộc. Như con cái Chúa, KT dạy chúng ta phải cậy ơn sức Chúa mà biến đổi những khổ đau trong đời sống trở thành nguồn ơn phước cho những người đi sau.
Thay vì đổ lỗi cho Chúa, cho người, thay vì trở nên cay đắng, tuyệt vọng, chán nản rồi bỏ cuộc, thay vì tội nghiệp cho bản thân, người có Chúa phải dùng thời gian đó như cơ hội để đem lại phước hạnh, tăng thêm niềm tin cho người đang đi tới trong đức tin, đang trên đường tìm kiếm Chúa hay đi đến nước Trời. Biến trũng than khóc thành nơi có mạch nước, có giếng để uống trong khi nắng hạn.
Người khao khát Chúa, khao khát nước Trời cần phải là người khao khát làm sáng danh Chúa trong mọi cảnh ngộ của đời sống, nhất là khi đi qua trũng than khóc.
Trách nhiệm của qv khi qua trũng là đào giếng. ĐCT trong thời điểm sẽ đổ nước đầy trũng, đầy giếng.
Tôi có một người bạn làm việc tên Thomas. 8 tuổi phải cưa chân phải từ đầu gối vì ung thư. Trong tuổi 20-30 phải qua nhiều cuộc giải phẩu khác vì ung thư. Khi 50 phải giải phẩu vai. Nhưng mỗi khi gặp ông luôn vui mừng, cảm tạ ơn Chúa. Một ngày khi gặp, Tom nói với tôi: Ơn điển Chúa thật diệu kỳ! How wonderful God’s grace is! Tôi hỏi how so? Ông kể cho tôi về người con trai làm việc tại Home Depot. Khi anh đang chất đồ vào xe forklift thì xe chạy đâm hai càng vào người anh. Lý do vì người lái không đậu xe cẩn thận. Xe cứu thương lập tức chở anh vào bệnh viện cấp cứu và cả ngày bác sĩ theo dõi tình trạng sức khỏe. Họ không tìm thấy một xương gãy, một nội thương, dù con ông vẫn còn đau lưng nhiều.
Ơn điển Chúa thật diệu kỳ! Thay vì oán trách Chúa, người đậu xe bất cẩn, thay vì vấn hỏi Chúa vì sự công bằng, vì lý do Chúa lại để con ông bị tai nạn nguy hiểm, dù qua trũng than khóc, bao nhiêu trũng than khóc, Tom biến những trũng than khóc đó nên nơi có mạch nước ngọt ngào.
When a train goes through a tunnel and it gets dark, you don’t throw away the ticket and jump off. You sit still and trust the engineer. (Corrie Ten Boom) Khi xe lửa đi qua đường hầm tối, bạn không ném bỏ vé và nhảy ra khỏi xe. Bạn ngồi yên và tin tưởng người lái.
Dù người đời có trở nên cay đắng, chua chát, tuyệt vọng, oán trách Chúa và người khi qua trũng than khóc, người tin Chúa, người hướng lòng và hành hương đến nước Trời phải khác biệt. Chúng ta phải biến trũng đó nên nơi phước hạnh cho người đang đi tới.
Khi hầu việc Chúa chắc chắn qv sẽ đi qua trũng than khóc vì bị vu oan, nói xấu, vì bị hiểu lầm, vì người ta không biết ơn mà còn lại chóng quên… Qv có sự lựa chọn: hoặc bỏ cuộc, hoặc oán hận, thù hằn, cay đắng; hay trở nên kiên nhẫn, ngọt ngào, để lại ơn phước cho người đang đi tới.
Họ cứ tiến bước, sức lực càng gia tăng Cho đến khi trình diện trước mặt Đức Chúa Trời y tại Si-ôn. Họ đi tới, sức lực lần lần thêm; Ai nấy đều ra mắt Đức Chúa Trời tại Si-ôn.
Chúng ta có thể chùng bước, vấp ngã, sợ hãi. Người này có thể đi nhanh hơn người khác; có người chạy có người chỉ lê lết bước đi! Có người mạnh, có kẻ yếu. Nhưng tất cả, mọi người rồi sẽ đến Si-ôn, sẽ đều ra mắt Chúa tại Si-ôn, hay tại nước Trời. Đây cũng là một lời hứa quí báu cho người tin Chúa. Lời hứa này được Phao-lô xác nhận: Tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ (Phi-líp 1:6)
Không phải từ lúc khởi đầu cuộc hành hương, chúng ta đều có đầy đủ sức, nhưng càng đi tới, sức lực lần thêm. Chúa muốn chúng ta đi từng bước và sẽ cho đủ sức cho từng bước. Để chúng ta khỏi kiêu hảnh, tự phụ, so sánh và để biết nương tựa vào Chúa chúng ta.
KHAO KHÁT NHẬN ƠN PHƯỚC CHÚA
9-12: Lạy Đức Chúa Trời, là cái khiên che chở chúng tôi, Xin hãy xem, hãy đoái thương kẻ xức dầu của Ngài. 10 Vì một ngày trong sân đền của Ngài Quí hơn cả ngàn ngày ở nơi khác; Tôi thà làm người gác cổng nhà Đức Chúa Trời Hơn là ở trong nhà kẻ ác. 11 Vì CHÚA, Đức chúa Trời là mặt trời, là cái khiên; Ngài ban ân huệ và vinh quang; CHÚA không từ chối điều tốt lành nào Cho những kẻ sống ngay thẳng. 12 Lạy CHÚA Vạn Quân, Phước thay cho người tin cậy nơi Ngài.
