Từ Tuyệt Vọng Biến Sang Hy Vọng
Ngày thứ nhứt trong tuần lễ, khi mờ sáng, các người đờn bà ấy lấy thuốc thơm đă sửa soạn đem đến mồ Ngài. Họ thấy hòn đá đă lăn khỏi cửa mồ; nhưng bước vào, không thấy xác Đức Chúa Jêsus. Đương khi không biết nghĩ làm sao, xảy có hai người nam mặt áo sáng như chớp, hiện ra trước mặt họ. Họ đương thất kinh, úp mặt xuống đất; thì hai người ấy nói rằng: Sao các ngươi tìm người sống trong vòng kẻ chết? Ngài không ở đây đâu, song Ngài đă sống lại. Hăy nhớ khi Ngài còn ở xứ Ga-li-lê, phán cùng các ngươi thể nào, Ngài đă phán rằng: Con người phải bị nộp trong tay kẻ có tội, phải bị đóng đinh trên cây thập tự, và ngày thứ ba phải sống lại. (Lu-ca 24:1-7)
THỨ SÁU SẼ QUA ĐI, SÁNG CHÚA NHẬT SẼ ĐẾN
Sáng nay cùng hàng tỉ các tín hữu trên toàn thế giới, chúng ta cử hành Lễ Phục Sinh để kỷ niệm sự sống lại vinh hiển của ĐCJC từ cõi chết. Phục Sinh đem lại niềm vui và hy vọng hết sức lớn lao cho người tin Chúa. Tại sao niềm vui, lý do gì cho hy vọng?
- Từ trưa thứ Sáu khi ĐCJC bị đóng đinh đến chết trên thập giá cho đến trước sáng Chúa Nhật, các môn đồ, những người phụ nữ như mẹ Chúa và Mari Magdelane như sống trong tuyệt vọng
- Chỉ mới Chúa nhật tuần lễ trước đó họ vui mừng, hảnh diện biết bao khi Jêsus được dân chúng trong thành đón rước nồng hậu, hân hoan. Nhưng chỉ sáu ngày sau đó thì người ta lại đóng đinh Jêsus. Ai có thể tưởng tượng điều này có thể xảy ra? Trước thập giá có lẽ họ khóc mà kêu cầu cùng ĐCT: ĐCT ơi, tại sao Ngài lại có thể để điều này xảy ra? Hễ hy vọng càng nhiều bao nhiêu thì sự tuyệt vọng càng sâu đậm bấy nhiêu. Họ yêu mến, kính trọng ĐCJC biết bao nhiêu. Nhưng giờ thì người đó đã bị đóng đinh như một tử tội. Chính mắt họ thấy Chúa bị đâm giáo vào hông, bị các lính La-mã đem xác xuống. Họ biết Giô-sép Arimathê đem xác Jêsus vào mồ. Họ biết ngôi mồ nơi xác Chúa được đặt.
- Thử nghĩ về cuộc đời của Mari Magdelene, là người phụ nữ bị quỉ nhập. Đời sống bà trước khi theo Chúa đau khổ, cô độc đến thế nào. Sau đó được theo hầu Chúa, đời sống trở nên ý nghĩa, hạnh phúc. Rồi thầy mình lại bị đóng đinh đến chết.
- Thử nghĩ về cuộc đời của các môn đồ: những người đánh cá tầm thường, người thu thuế bị người ta khinh chê, ghét bỏ. Hy vọng được ngồi bên hữu, bên tả của vua Jêsus hoàn toàn tan thành mây khói. Sau cái chết của ĐCJC KT cho biết rằng Phi-e-rơ và các sứ đồ khác trở về lại vùng biển Ga-li-lê để đánh cá lại.
- Thứ Sáu và thứ Bảy là những ngày của sự mất mát, tối tăm, đau buồn, tiếc nuối, tuyệt vọng. Nhưng rồi Chúa nhật đã đến để từ nỗi tuyệt vọng biến sang sự vui mừng, niềm hy vọng.
- Nếu chỉ có thứ Sáu và thứ Bảy, nếu ĐCJC đã không sống lại từ cõi chết thì môn đồ, những người phụ nữ sẽ suốt đời sống trong đau buồn, tuyệt vọng. Nhưng tạ ơn ĐCT, sáng Chúa nhật cũng đã đến. Họ biết Đấng đã chịu chết cho tội họ giờ đã sống lại. Tuyệt vọng biến sang hy vọng.
- Chính vì sự sống lại của ĐCJC, vì sáng Chúa nhật mà các môn đồ, những người phụ nữ trở nên đầy hy vọng đến nỗi cả cuộc đời còn lại họ đi khắp mọi nơi để nói về tin mừng, tin lành của sự cứu rỗi qua Đấng đã chết và sống lại.
- Trong bài giảng này, thứ Sáu là biểu tượng của đau buồn, mất mát, tuyệt vọng. Chúa nhật là biểu tượng của niềm vui, hồi phục, hy vọng.
- Theo Lu-ca những người phụ nữ đến mồ Chúa sáng Chúa nhật đó với mục đích liệm xác Ngài. Còn các sứ đồ thì sợ hãi trốn ở phòng nào đó trong thành Jerusalem. Nhưng một sự kiện kỳ diệu nhất trong lịch sử loài người xảy ra buổi sáng Chúa Nhật đó thay đổi hoàn toàn đời sống của họ. Họ nhìn thấy ngôi mồ trống, không có xác Jêsus. Họ nghe tiếng thiên sứ phán hỏi: Sao các ngươi tìm người sống trong vòng kẻ chết? Rồi thiên sứ cũng nhắc cho họ về lời tiên đoán trước đó về sự chết và sống lại của ĐCJC.
- Từ thứ Sáu tối tăm, đau buồn, tuyệt vọng, Chúa nhật của vui mừng, hy vọng rồi đã đến. Từ Thứ Sáu tuyệt vọng, sự sống lại mầu nhiệm của ĐCJC vào sáng Chúa nhật đã biến sang hy vọng. Sự Chúa sống lại chính là lý do của niềm vui và hy vọng: Vì với người tin Chúa, chúng ta biết chắc chắn rằng thứ Sáu rồi sẽ qua đi, sáng Chúa nhật rồi sẽ đến. Qv lập lại với tôi: thứ Sáu rồi sẽ qua đi, sáng Chúa nhật rồi sẽ đến. Vì ĐCJC đã sống lại từ cõi chết, nên người tin Ngài có hy vọng, cả đời này và cho đời sau. Cho đời này:
Đau buồn rồi sẽ qua đi, niềm vui rồi sẽ đến.
Tuyệt vọng rồi sẽ qua đi, hy vọng rồi sẽ đến
Đời sống này rồi sẽ qua đi, cuộc sống đời đời rồi sẽ đến
KT viết thế này: Than khóc có thể kéo dài trong đêm. Nhưng vui mừng khi rạng đông ló dạng. (TT 30:5 - BDM)
Liên hệ đến đời sống: Chúng ta cũng có thể liên hệ được với các sứ đồ và những người phụ nữ này. Không ai không phải trải qua những cảnh ngộ như họ: hết sức hân hoan vui mừng chỉ để rồi ngỡ ngàng vì sự việc hoàn toàn trái lại điều mình suy nghĩ, mơ ước. Hy vọng của đời này dựa vào con người, vào sức mình, vào những thành công trong đời sống.
Lòng người đổi thay như chiều gió, mới đó chào đón, mừng rở, tôn kính nhưng không lâu lại lên án, muốn giết.
Hoàn cảnh của đời sống có thể đổi thay không biết trước được
Khi cảnh ngộ, lòng người thay đổi thì hy vọng trong đời rồi sẽ tan biến và biến sang tuyệt vọng. Nhưng qua sự sống lại của ĐCJC người tin Chúa biết chắc chắn rồi dù khi cảnh ngộ, lòng người thay đổi, dù thứ Sáu đen tối, thứ Bảy sầu não thế nào rồi sẽ qua đi, và sáng Chúa nhật rồi sẽ đến.
CHÚA JESUS CÓ THẬT SỰ SỐNG LẠI?
Có thể một số qv hiện diện tại đây hoài nghi về sự Chúa sống lại. Sự kiện này có thật hay không? Tôi chỉ xin nêu lên ba lý do chính sau đây:
Lời chứng của các phụ nữ
Tại sao KT viết rằng khi sống lại ĐCJC hiện ra đầu tiên cùng các phụ nữ? Trong thời đó người phụ nữ không được thừa hưởng của cải, không được nhận lời chứng khi ra tòa. Đối với người La-mã, phụ nữ hoặc để làm vợ, hoặc làm tình nhân, hoặc làm tôi tớ. Với người Do Thái, các thầy dạy kinh luật khi cầu nguyện họ cám ơn Chúa vì không phải là người phụ nữ! Nếu hội thánh đầu tiên dựng nên chuyện Chúa sống lại, lý do gì lại dùng phụ nữ như những nhân chứng đầu tiên khi Chúa sống lại? Chẳng phải 12 sứ đồ đều là nam giới hay sao?
Vẫn còn các nhân chứng về sự Chúa sống lại.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi ĐCJC bị đóng đinh đến chết và sống lại thì Phiero giảng bài giảng đầu tiên tại thành Jerusalem và 3000 người tin Chúa thì ông đã nêu lên việc Chúa sống lại như một bằng chứng: Đức Chúa Jêsus nầy, Đức Chúa Trời đã khiến sống lại, và chúng ta thảy đều làm chứng về sự đó. (CV 2:32). Gần 30 năm sau khi PL viết thư gởi cho hội thánh Cô-rinh-tô ông lại nêu lên việc ĐCJC đã sống lại: Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh; 5 và Ngài đã hiện ra cho Sê-pha, sau lại hiện ra cho mười hai sứ đồ. 6 Rồi đó, cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn năm trăm anh em xem thấy, phần nhiều người trong số ấy hiện bây giờ còn sống, nhưng có mấy người đã ngủ rồi. 7 Đoạn, Ngài hiện ra cho Gia-cơ, rồi cho các sứ đồ. 8 Rồi lại, sau những người ấy, Ngài cũng hiện ra cho tôi xem, như cho một thai sanh non vậy.
Sự thay đổi kỳ diệu trong cuộc đời các sứ đồ và sự truyền bá Tin Lành
Trước các môn đồ là những người hèn nhát bỏ chạy khi Chúa bị bắt, chối khi bị hỏi, trốn trong phòng vì sự bị bắt. Sau khi Chúa sống lại họ trở nên những người can đảm lạ thường, như Peter từ một người chối Chúa trở nên một người sẵn sàng chịu chết vì Tin Lành.
HY VỌNG LỚN NHẤT – CHO ĐỜI SAU
Bên cạnh hy vọng cho đời này, sự sống lại của ĐCJC đem lại sự yên ủi, bảo đảm và hy vọng to lớn nhất về đời sau. Rằng sự chết, là kẻ thù kinh khiếp nhất của mọi người, không còn là ám ảnh, sợ hãi cho người tin Chúa, vì ĐCJC đã chiến thắng sự chết.
Với người vô thần (không tin có trời, chúa) thì sự chết là hết. Với người Phật giáo, thì sự chết là bắt đầu của một vòng luân hồi mới, không biết rồi sẽ ra sao! Với người hồi giáo, không ai biết chắc Allah có nhận họ vào thiên đàng sau khi chết, ngoại trừ bọn khủng bố tin rằng khi làm nổ tung banh xác để giết nhiều người thì sẽ được đi thẳng vào thiên đàng với 72 người nữ đồng trinh chìu chuộng, hầu hạ, thõa mãn tình dục! Nhưng với người tin Chúa thì sự chết là khởi đầu của cuộc sống đời đời trên thiên đàng với Chúa. Chúng ta không mơ hồ, băn khoăn, lo sợ vì khôn biết sẽ đi đâu, về đâu.
Tôi cũng nhấn mạnh rằng chính KT theo lời Phao-lô cũng khẳng định nếu sự Chúa sống lại không thật sự xảy ra thì đức tin của người tin Chúa chỉ là hão huyền, vô ích: Lại nếu Đấng Christ đă chẳng sống lại, thì sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công, và đức tin anh em cũng vô ích… té ra chúng tôi làm chứng dối cho Đức Chúa Trời… Và nếu Đấng Christ đă chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình. Vậy, những kẻ ngủ trong Đấng Christ cũng phải hư mất đời đời. Nếu chúng ta chỉ có sự trông cậy trong Đấng Christ về đời nầy mà thôi, thì trong cả mọi người, chúng ta là kẻ khốn nạn hơn hết. (1 Cô-rinh-tô 15: 15-19)
Vậy người không tin vào sự sống lại của ĐCJC thì cũng chẳng nên tin vào bất cứ điều gì khác trong những lời dạy của ĐCJC, của sứ đồ Phao-lô và các sứ đồ khác. Người tin vào Jêsus tin rằng Ngài đã thật sự sống lại, không phải như một bóng ma nhưng sống lại trong xác thịt và đã hiện ra cho bao nhiêu người.
Nếu ĐCJC đã không sống lại thì:
Sự giảng dạy của PL, của bao nhiêu mục sư, giáo sĩ cũng luống công
Đức tin của chúng ta vô ích, vô giá trị
Lời KT là dối
Chúng ta vẫn còn ở trong tội lỗi mình và người tin Chúa cũng sẽ vào địa ngục hư mất đời đời
Trong tất cả mọi người, chúng ta, những người tin Chúa, là kẻ khốn nạn hơn hết (đáng thương hại hơn hết). Bản diễn ý của cụ MSTS Lê Hoàng Phu có lời: Nếu chúng ta chỉ hy vọng nơi Chúa Cứu Thế về đời này thôi, thì trong cả nhân loại, chúng ta là những người bất hạnh hơn hết.
Tại sao nếu chỉ trông cậy vào Jêsus Christ cho đời này thì trong mọi người thì người tin Chúa bất hạnh, khốn nạn, đáng thương hại hơn hết?
Bởi vì cuộc đời ngắn ngủi này nhiều khó khăn, đau khổ hơn hạnh phúc, thoả vui, nhiều nước mắt hơn nụ cười. Một nhà triết gia và toán học nổi tiếng tên Bernard Russell viết: Cuộc đời của con người là một cuộc hành trình dài thâu đêm (suốt đêm), bị vây quanh bởi những kẻ thù vô hình, bị hành hạ bởi mệt mỏi và đau đớn, để chỉ đến một mục đích mà ít người đạt được, và không một người nào có thể nán lại lâu dài (The life of Man is a long march through the night, surrounded by invisible foes, tortured by weariness and pain, toward a goal that few can reach, and none can tarry long). Tác phẩm văn chương nổi tiếng nhất và được quý trọng nhất trong văn học VN là Truyện Thúy Kiều. Có ai đọc câu truyện bằng thơ song thất lục bác này mà không ngậm ngùi cho thân phận đau khổ của Thúy Kiều, và không nghĩ về chính thân phận mong manh của mình. Bàn về chuyện Tiên Phong Mộng Liên Đường Chủ Nhân viết: Khúc đàn bạc mệnh gảy xong, mà oán hận vẫn còn chưa hả, thì dẫu đời xa người khuất, không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thắm trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột.
Bởi vì không ai có thể đem theo vật chất gì khi qua đời.
Những đêm dài của than khóc, mất mát, khổ đau, tuyệt vọng, những thứ Sáu trong cuộc đời này giúp cho chúng ta quí trọng bao lần khi sáng Chúa nhật đến. Dù Phục Sinh là câu chuyện của hy vọng, nhưng nếu không có thập giá thì cũng sẽ không có Phục Sinh. Dù đang khi trãi qua thứ Sáu và thứ Bảy tuyệt vọng, thì ĐCT vẫn ở với chúng ta và Ngài sẽ đem sáng Chúa nhật của hy vọng đến. Thứ Sáu tuyệt vọng giúp chúng ta ý thức về niềm vui lớn không tả được khi sáng Chúa nhật đến. KT viết: Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. (Rô-ma 8:28)
PL khẳng định về hy vọng của sáng Chúa nhật, của sự phục sinh trong thư viết cho hội thánh Cô-rinh-tô: Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa, rong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa. Vả, thể hay hư nát nầy phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết nầy phải mặc lấy sự không hay chết. Khi nào thể hay hư nát nầy mặc lấy sự không hay hư nát, thể hay chết nầy mặc lấy sự không hay chết, thì được ứng nghiệm lời Kinh Thánh rằng: Sự chết đă bị nuốt mất trong sự thắng. Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu? … Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời đă cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta. (1 Cô-rinh-tô 15:51-58)
[Câu chuyện của em bé Down Syndrom, bệnh si khờ và cái trứng không như ngôi mồ trống của ĐCJC]
