Trông Ngóng Ngày Chúa Trở Lại
Cuộc chiến tại xứ Ukraine vẫn tiếp tục và ngày càng gia tăng. 17 ngày đã qua từ khi quân đội Nga Sô tấn công vào Ukraine. Thứ Sáu vừa qua TT Pháp Emnanuel Macron và Thủ Tướng Đức Olaf Scholz nói chuyện với TT Nga Vladimir Putin để tìm giải pháp đình chiến. Theo tin tức, Putin phản đối mạnh mẽ lời đề nghị đình chiến giữa 2 quân đội Nga Sô và Ukraine. Đến nay gần 2 triệu dân Ụ phải bỏ xứ tị nạn tại nhiều quốc gia Âu Châu lân cận, nhất là Ba Lan (Poland). Phân nửa số đó là trẻ em! Không ai, không ai, biết khi nào chiến tranh này sẽ chấm dứt và chấm dứt thế nào.
Mọi người đều lo sợ về viễn ảnh của cuộc đại chiến III với vũ khí nguyên tử nếu HK và đồng minh Âu Châu trực tiếp tham chiến với Nga Sô. TT Putin đã hăm dọa về viễn ảnh này. TT Biden cũng đã tuyên bố rằng HK sẽ không tham chiến. Tuy nhiên không ai có thể nói trước được điều gì sẽ xảy ra trong vài tuần lễ tới, vài năm tới. Trong khi đó, các thành phố của xứ Ụ vẫn bị bôm đạn tàn phá điêu tàn.
Chỉ 2 năm trước đây cả thế giới đều chấn động vì cơn đại dịch covid 19. Đến nay trên toàn thế giới, 456 triệu người nhiễm bệnh và 6 triệu người đã bỏ mạng. Chiến tranh lớn và đẫm máu lại đang xảy ra tại Âu Châu. Trung Quốc cũng hăm he tấn chiếm Đài Loan. Viễn ảnh chiến tranh tại Á Châu?
Tình hình trong nước HK nơi chúng ta đang sống đầy những khó khăn. Chỉ số lạm phát cao nhất trong 40 năm qua (từ 1982) 7.9%. Giá xăng cao nhất từ 40 năm qua; tại vài nơi tiểu bang CA giá xăng lên trên 7.0/gallon, tại Albq 3.97/gallon! Tội phạm gia tăng cao nhất trong 10 năm qua, đặc biệt tại các thành phố lớn, gồm cả thành phố chúng ta đang sống. Thuốc cấm fetanyl lan tràn trong vòng giới trẻ. Đây là loại thuốc cấm nguy hiểm nhất hiện nay, gấp 50 lần bạch phiến, 100 lần morphine. Chỉ cần 2mg cũng đủ giết chết một người lớn mạnh khỏe. 5.6 lbs đủ giết 2.47 triệu người.
Trước dịch lệ, chiến tranh, tệ nạn, tội ác trong xã hội mọi người đều có lúc hỏi: phải chăng đây là dấu hiệu của những ngày tận thế? Các môn đồ của ĐCJC cũng đã hỏi Chúa câu hỏi này. Ngài đương ngồi trên núi Ô-li-ve, môn đồ tới riêng cùng Ngài, và nói rằng: Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? Và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế. (Ma-thi-ơ 24:3)
Câu trả lời của ĐCJC được ghi lại trong 3 sách PA: Ma-thi-ơ 24, Mác 13 và Lu-ca 21. Đoạn KT này được gọi là bài giảng núi Ô-li-ve. Đây là mục đích của bài giảng tuần này và vài tuần lễ tới.
Tôi cũng muốn dùng lời Chúa để nhắc nhở, dạy dỗ con dân Chúa về đời sống tin kính của người tin Chúa trong những ngày thế giới đầy chuyển biến nguy hiểm đáng sợ. Chúng ta cần làm gì, phải làm gì để sẵn sàng cho ngày Chúa trở lại, khi trông ngóng cho ngày Chúa trở lại.
Chúa biết rõ thế gian đầy khó khăn, hoạn nạn khiến các môn đồ lo lắng, sợ hãi. Nên hứa với các môn đồ trong đêm cuối đời: Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi. (Giăng 14:27); Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! (Giăng 16:33)
Làm thế nào để có sự bình an, hy vọng, để đừng bối rối, sợ hãi khi đối diện với những hoạn nạn trong thế gian? Chúng ta được Chúa ban cho ba điều đem đến bình an, hy vọng: 1) KT; 2) ĐTL trong đời sống tín đồ; 3) Lời hứa về sự tái lâm của ĐCJC.
KTTU viết rõ về chương trình cứu rỗi của ĐCT cho loài người. Kết quả của những niềm tin này không phải chỉ là kiến thức trừu tượng chỉ để giảng dạy nhưng là những điều thật sự thay đổi đời sống. Chương trình cứu rỗi của ĐCT gồm 7 điều chính yếu sau đây: 1) Giáng sinh; 2) Thương khó (gồm sự chết trên thập giá); 3) Phục sinh; 4) Thăng thiên; 5) Sự ban cho ĐTL; 6) Hội thánh; 7) Sự ĐCJC Tái lâm.
Đầu tiên qua sự giáng sinh của ĐCJC. Đến sự chết để cứu tội trên thập giá của ĐCJC. Rồi đến ngày thứ ba Chúa sống lại từ cõi chết. Trong 40 ngày Chúa hiện ra cho hơn 500 môn đồ để chứng minh rằng Ngài đang sống và cũng để tiếp tục dạy dỗ, như cho 2 môn đồ trên đường Ê-ma-út về sự cả KTCU đều viết về Ngài.
Cũng trong thời gian 40 ngày đó, ĐCJC hứa cùng các môn đồ về sự ban cho ĐTL. Đây là một điều vô cùng quan trọng để họ có thể tiếp tục công việc Ngài đã bắt đầu làm & dạy: Lúc ở với các sứ đồ, Ngài dặn rằng đừng ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở đó chờ điều Cha đã hứa, là điều các ngươi đã nghe ta nói. 5 Vì chưng Giăng đã làm phép báp-têm bằng nước, nhưng trong ít ngày, các người sẽ chịu phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh… 8 Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất. (CV 1:4-5, 8)
Sau đó trước sự chứng kiến tận mắt của các môn đồ tại Giê-ru-sa-lem (độ 200) Chúa thăng thiên về trời. Và khi họ bùi ngùi nhìn ĐCJC được cất lên trời, một thiên sứ nói với họ: Hỡi người Ga-li-lê, sao các ngươi đứng ngóng lên trời làm chi? Jêsus nầy đã được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đã thấy Ngài lên trời vậy. (CV 1:11). Lời thiên sứ khẳng định rằng ĐCJC sẽ trở lại trong vinh hiển.
Niềm tin về sự tái lâm (trở lại lần nữa) của ĐCJC là một niềm tin, giáo điều vô cùng quan trọng trong lịch sử HT. Bài tín điều các sứ đồ dạy thế này về sự Chúa tái lâm: Ngài thăng thiên, ngồi bên hữu Đức Chúa Trời Toàn Năng là Cha. Từ đó Ngài sẽ trở lại để đoán xét kẻ sống và kẻ chết. Sự Chúa tái lâm (trở lại) được viết 300 lần trong KTTU, tức 1 trong 13 câu KT trong TU. Chính ĐCJC lập lại rất nhiều lần về niềm tin này.
7 niềm tin trên như các mắt của một sợi dây xích, liên kết, gắn bó chặt chẻ với nhau. Nếu một khoen của dây yếu hay gãy thì cả dây cũng không công dụng gì. Nếu không có giáng sinh, sẽ không có sự chết chuộc tội. Nếu không chết thì sống lại có ý nghĩa gì? Nếu ĐCJC không sống lại thì sự chết vẫn còn là kẻ thù cuối cùng đáng sợ nhất của con người. Nếu ĐCJC không thăng thiên về trời, thì không có sự ban cho ĐTL, không có Đấng ngự bên hữu ĐCT cầu thay cho chúng ta. Nếu không có sự ban cho ĐTL, thì các môn đồ xưa không thể tiếp tục Đại Mạng Lệnh mà ĐCJC đã bắt đầu làm & dạy. Cũng sẽ không có HT Chúa. Không có HT Chúa thì làm sao có thân của Đấng Christ với các chi thể là mỗi người tin Chúa. Nếu không có sự thăng thiên, thì cũng sẽ không có sự tái lâm từ trời.
Trở lại Ma-thi-ơ 24:3 Ngài đương ngồi trên núi Ô-li-ve, môn đồ tới riêng cùng Ngài, và nói rằng: Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? Và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế. Lời ĐCJC dạy các môn đồ trong Ma-thi-ơ 24 cũng được viết trong Mác 13 và Lu-ca 21, được gọi là bài giảng núi Ô-li-ve (Olivet discourse). Một đoạn KT quan trọng hơn hết về dấu hiệu chỉ về sự Chúa đến và tận thế. Giúp chúng ta hiểu được những lời dạy trong KH về thời kỳ sau rốt.
Các môn đồ hỏi ĐCJC 3 điều: 1) lúc nào những sự đó sẽ xảy ra. Đọc lại câu 2 chúng ta hiểu những sự đó là sự kiện đền thờ Giê-ru-sa-lem bị tàn phá; 2) Điềm gì chỉ về sự Chúa đến; 3) Điềm gì chỉ về tận thế.
LÚC NÀO ĐỀN THỜ BỊ TÀN PHÁ
Câu trả lời về lúc nào đền thờ thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị tàn phá đến nỗi sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên hòn khác mà không đổ xuống ở trong Ma-thi-ơ 24:34, Mác 13:30 và Lu-ca 21:32 Quả thật, ta nói cùng các ngươi, dòng dõi nầy chẳng qua trước khi mọi sự kia chưa xảy đến. Có nghĩa là trong vòng thế hệ các môn đồ khi họ vẫn còn sống, đền thờ sẽ bị tàn phá.
Qv có thể nghĩ xem về phản ứng của các môn đồ khi nghe lời này của ĐCJC. Ngạc nhiên, sửng số, sợ hãi, kinh hoàng? Chúng ta không biết rõ nhưng có thể tất cả cảm xúc đó. Tại sao? Để hiểu chúng ta cần biết một vài điều về ngôi đền thờ tại thành Giê-ru-sa-lem.
Đây là đền thờ thứ ba được xây bởi vua Hê-rốt. Nếu là thứ ba thì phải có thứ nhất và thứ nhì. Đền thờ thứ nhất do vua Sô-lô-môn xây tại Giê-ru-sa-lem trong vòng 7 năm trời. Một công trình kiến trúc hết sức tốn kém, qui mô, xinh đẹp. Khoảng 400 năm sau đó, vua Nê-bu của đế quốc Ba-by-lôn đem quân đến thành Giê-ru-sa-lem tàn phá cả thành phố và đền thờ.
Sau đó dân Giu-đa được trở về lại thành Giê-ru-sa-lem và xây lại đền thờ. Đền thờ xây lại được hoàn tất khoảng 515 BC (72 năm sau khi đền thờ thứ nhất bị tàn phá). Đến thờ vua Hê-rốt khoảng 20BC, đền thờ thứ 2 được xây lại. Dù là một vị vua vô cùng bạo tàn, độc ác, nhưng H. là người khởi công và hoàn tất những công trình xây cất vĩ đại, lộng lẫy, có 1 không 2 trong thời đó trong cả đế quốc La-mã gồm có đền thờ thành Giê-ru-sa-lem. Theo Giăng 2:20, đền thờ đã được xây 46 năm rồi. Các sử gia cho biết thời gian thật sự khoảng 82 năm.
Mác 13:3 – BDM: các khối đá khổng lồ và những công trình kiến trúc vĩ đại quá! Lu-ca 21:5 nói về lời trầm trồ, khen ngợi của các môn đồ về những tảng đá quí. Sử gia DT Josephus cho biết các tảng đá xây đền thờ và tường dài 40ft, cao12ft, sâu18ft. Có tảng dài đến 85ft. Ước tính diện tích của đền thờ khoảng 40 mẫu, 1/6 diện tích thành Giê-ru-sa-lem.
Làm thế nào một công trình kiến trúc vĩ đại, chắc chắn như vậy có thể xụp đổ đến nỗi sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên hòn khác mà không đổ xuống như lời của ĐCJC? Nhưng lịch sử cho biết vào năm 70AD tức khoảng 37 năm sau khi ĐCJC phán những lời này cùng các môn đồ, cả đền thờ hoàn toàn bị lính La-mã tàn phá đến nỗi không còn hòn đá nào chồng trên hòn khác mà không đổ xuống theo lệnh của đại đế La-mã Caesar. Các nhà khảo cỗ học cũng chứng minh điều này.
Bài học cho chúng ta là gì? Nếu 1 đền thờ vĩ đại, đồ sộ, lộng lẫy như vậy mà chỉ trong một thế hệ lại bị tàn phá tất cả, thì có công trình xây cất nào tồn tại? Thật vậy không một công trình xây cất nào của vua Hê-rốt, của đại đế La-mã, của vua Nê-bu hay của bất kỳ một vị vua nào lại tồn tại cho đến hôm nay. Có người bảo chẳng phải Kim Tự Tháp Ai-cập hay Vạn Lý Trường Thành TQ vẫn còn hay sao? Qv có biết tất cả những kiến trúc này đều phải được duy trì, bảo quản, tu bổ, tân trang thường xuyên hay không?
Không một công trình nào do con người làm ra từ xưa đến nay và từ nay đến tận thế lại không thể bị tàn phá. Hoặc theo thời gian, mưa gió, thời tiết, hoặc do chiến tranh tàn phá. Tất cả thế giới vật chất này đều chỉ là tạm bợ, đúng như lời sứ đồ PL viết: vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy. (2 Cô-rinh-tô 4:18).
KH 18 viết về Ba-by-lôn tượng trưng cho trung tâm thương mãi vĩ đại, văn minh, phồn thịnh nhất của con người. 3 lần trong đoạn KT nhắc tất cả sẽ mất hết, bị tàn phá, hủy diệt chỉ trong 1 giờ. Khốn thay! Khốn thay! Ba-by-lôn là thành lớn, là thành cường thạnh kia! Trong một giờ mà sự phán xét ngươi đã đến rồi! (KH 18:10) Khốn thay! Khốn thay! Thành lớn kia, đã từng mặc vải gai mịn, màu tía và màu điều, rực rỡ những vàng ngọc cùng hột châu! Trong một giờ, sự giàu có sang trọng dường bao đã biến mất hết! (KH 18:16) Khốn thay! Khốn thay! Thành lớn nầy đã lấy sự giàu có mình làm giàu cho mọi kẻ có tàu trên biển, mà trong một giờ, đã hóa thành một chỗ hoang vu! (KH 18:18)
Sự tàn phá đền thờ dạy chúng ta về sự mong manh, tạm bợ, thấy đó mất đó của vật chất, dù là những công trình kiến trúc vĩ đại, kiên cố nhất mất 80 năm trời mới hoàn thành. Chiến tranh tại Ukraine cho thấy rất rõ điều này. Cả thành phố mất hàng trăm nay trời xây dựng, chỉ trong một giờ súng đạn, bomb, missile trở thành bình địa điêu tàn. Vậy đó mà chúng ta sống, đặt hết niềm tin hy vọng vào vật chất!
Nhưng điều quan trọng trong câu trả lời của ĐCJC cho các môn đồ về sự tàn phá của đền thờ không phải về sự tàn phá đền thờ. Mà là đây chỉ là sự khởi đầu của những tàn phá trong những ngày sau rốt trước khi Ngài trở lại. Trong trí các môn đồ, họ vẫn nghĩ rằng khi đền thờ bị tàn phá đó cũng chính là lúc Đấng Mê-si trở lại, đó cũng chính là ngày tận thế. Nhưng ĐCJC nhắc họ. Các ngươi chưa thấy sự cuối cùng kinh khiếp, đáng sợ gấp trăm ngàn lần hơn so với sự đền thờ thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá. Đang lúc đó, khốn khó thay cho đàn bà có mang, và đàn bà cho con bú! 20 Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát; 21 vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa. 22 Nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một người nào được cứu; song vì cớ các người được chọn, thì những ngày ấy sẽ giảm bớt. (Ma-thi-ơ 24:19-22)
Tuy nhiên lời tiên về sự tàn phá đền thờ thành Giê-ru-sa-lem cũng ứng nghiệm lời của ĐCJC cùng người phụ nữ Sa-ma-ri khi bà nói với ĐCJC: Tổ phụ chúng tôi đã thờ lạy trên hòn núi nầy; còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ lạy là tại thành Giê-ru-sa-lem. 21 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi người đàn bà, hãy tin ta, giờ đến, khi các ngươi thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem. 23 Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: Ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy. 24 Đức Chúa Trời là Thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy (Giăng 4:20-24)
Tại sao có đền thờ? Bởi vì sự hiện diện và vinh hiển (shekinah) của ĐCT hiện diện tại nơi này. Trong nơi chí thánh giữa hòm giao ước. Nhưng sau khi ĐTL được ban cho thân thể của người tin Chúa chính là đền thờ của ĐCT. Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao?20 Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời. (1 Cô-rinh-tô 6:19-20). Thân thể chúng ta là đền thờ ĐCT bởi vì đây là nơi ĐTL ngự. Một điều mầu nhiệm lạ lùng, nhưng thật cũng là ý đáng lo sợ vì có ai xứng đáng để nhận ĐTL của ĐCT ngự vào đời sống. Con người tội lỗi, nhơ nhớp như tôi lại được ĐTL ngự? Không một triết lý, tôn giáo nào nâng cao giá trị của thân thể con người như lời KT dạy.
Trong thời kỳ HT ĐTL khiến thân thể người tin Chúa trở nên đền thờ thánh khiết nơi Chúa ngự. Thật một ý đáng sợ, đáng hỗ thẹn cho tội lỗi tiếp tục phạm. Nhưng ĐCT cũng ngự trong vòng con dân Chúa: Vì nơi nào có hai ba người nhân danh ta nhóm nhau lại, thì ta ở giữa họ. (Ma-thi-ơ 18:20)
Trong bài giảng tới chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết về hai câu hỏi thứ 2 & 3 của các môn đồ: 2) Điềm gì chỉ về sự Chúa đến; 3) Điềm gì chỉ về tận thế. Tôi muốn kết thúc với câu hỏi: khi nào Chúa trở lại và rút ra bài học thực tế và quan trọng.
Một câu chuyện kể về Martin Luther, cha đẻ của phong trào cải cách HT. Một ngày ông đang cuốc đất làm vườn, một người bạn đến thăm và hỏi ông sẽ làm gì nếu biết rằng chính ngày hôm nay ĐCJC sẽ trở lại. Theo lịch sử thì Luther trả lời: tôi vẫn sẽ tiếp tục cuốc đất làm vườn. Một số qv cũng như tôi chắc đã nghe câu chuyện này để nói lên một điểm quan trọng là nếu chúng ta luôn sống theo lời Chúa dạy, làm theo ý Chúa thì không phải lo lắng về câu hỏi khi nào Chúa sẽ trở lại hay chúng ta phải làm gì khi Chúa trở lại.
Tuy nhiên chúng ta không thể tránh được câu hỏi là nếu biết chỉ còn một thời gian giới hạn để sống, thì chúng ta có thay đổi gì trong thứ tự và ưu tiên đời sống hay không. Tôi tin qv cũng như tôi đều trả lời là chắc chắn chúng ta sẽ thay đổi ưu tiên, thứ tự của đời sống. Dĩ nhiên chúng ta sẽ xem trọng hơn quan hệ với những người thân yêu, và đặc biệt xem trọng hơn quan hệ của chúng ta với Chúa. Chúng ta sẽ xem trọng hơn giá trị của tâm linh hơn thể xác, giá trị của thiên đàng hơn thế gian, giá trị của cuộc sống đời đời hơn vài ba năm cuối cùng trên đất này. Chắc chắn thứ tự và ưu tiên của đời sống chúng ta sẽ thay đổi nếu thật sự tin rằng tháng tới đây, năm tới đây tận thế sẽ xảy ra và ĐCJC sẽ trở lại.
Một điều quan trọng cần chú ý là ngay sau bài giảng trên núi Ô-li-vê, ĐCJC kể 5 ngụ ngôn. 4 ngụ ngôn đầu tiên liên quan trực tiếp đến câu hỏi khi nào Chúa sẽ trở lại và 1 ngụ ngôn về chiên và dê trong ngày phán xét cuối cùng. Vậy khi nghĩ về bài giảng núi Ô-li-ve dù phần chính yếu và dài hơn hết là câu trả lời của ĐCJC về câu hỏi của môn đồ về các điềm gì chỉ về sự Chúa đến và ngày tận thế, nhưng một phần khác không kém quan trọng là 5 ngụ ngôn để giải thích về câu hỏi khi nào Chúa sẽ trở lại.
KHI NÀO CHÚA TRỞ LẠI
Trước khi kể các ngụ ngôn để giải thích về câu hỏi khi nào Chúa sẽ trở lại, ĐCJC nhắc nhở: Vậy hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến. (24:42). Đây là ý tóm tắt của 5 ngụ ngôn.
Ngụ ngôn đầu tiên về việc Chúa trở lại chỉ gồm có 2 câu trong Ma-thi-ơ 24:43-44: Hãy biết rõ, nếu người chủ nhà đã hay canh nào kẻ trộm sẽ đến, thì tỉnh thức, không để cho đào ngạch nhà mình. 44 Vậy thì các ngươi cũng hãy chực cho sẵn, vì Con người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ.
Ý chính của ngụ ngôn này rất rõ là vì Con người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ. Chúa sẽ trở lại cách thình lình, bất ngờ như kẻ trộm vào nhà khi chủ ngủ say không hề hay biết. Ngụ ngôn đầu tiên trong 4 ngụ ngôn về sự Chúa trở lại là ngày cuối khi Chúa trở lại sẽ xảy ra một cách bất ngờ không dự đoán trước, không biết trước được.
Ngụ ngôn thứ 2 trong Ma-thi-ơ 24:45-51 về chủ và người đầy tớ. “Vậy ai là đầy tớ trung tín và khôn ngoan, mà chủ đã đặt làm quản gia nhà mình, để cấp phát lương thực cho các gia nhân đúng kỳ? 46Phước cho đầy tớ ấy khi chủ về và thấy người ấy làm như vậy. 47Quả thật, Ta nói với các ngươi, chủ sẽ đặt người ấy quản trị toàn thể tài sản của mình. 48Nhưng nếu đầy tớ ấy xấu và nghĩ thầm trong lòng, ‘Chủ ta sẽ về trễ,’ 49nên đánh đập các bạn cùng làm đầy tớ với mình, và ăn nhậu với phường say sưa. 50Chủ của đầy tớ ấy sẽ về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết; 51chủ sẽ phân thây nó, rồi nhốt nó chung chỗ với bọn đạo đức giả, ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.” (BD2011)
Trong ngụ ngôn này chỉ có một đầy tớ, không phải 2 đầy tớ. Nếu trung tín và khôn ngoan thì đầy tớ sẽ tiếp tục làm theo điều chủ đã căn dặn trước khi ra đi. Nhưng nếu bất trung, xấu xa thì đầy tớ sẽ nghĩ trong lòng chủ sẽ về trể, tức hôm nay hay tuần tới chủ chưa về đâu, có thể năm tới hay vài năm tới nữa ổng mới về. Vì nghĩ chủ về trể nên người đầy tớ đối đãi tàn ác với những người đầy tớ khác và ăn nhậu say sưa thay vì quản lý nhà chủ như lời dặn. Một lần nữa ĐCJC nhắc người nghe: 50Chủ của đầy tớ ấy sẽ về vào ngày nó không ngờ, vào giờ nó không biết.
Nếu ngụ ngôn đầu tiên dạy Chúa sẽ trở lại cách bất ngờ, không thể đoán biết trước được, thì ngụ ngôn này cho thấy một ý khác, rằng: Chúa sẽ trở lại sớm hơn nhiều người nghĩ. Đây là một suy nghĩ rất phổ thông trong vòng người tin Chúa: tôi vẫn còn có nhiều thời gian để sống theo ý tôi vì hơn 2000 năm rồi ĐCJC vẫn chưa trở lại thì lý gì Chúa trở lại trước khi tôi chết. Vấn đề là có thể Chúa không sớm trở lại, nhưng chúng ta sớm gặp Chúa. Sớm gặp Chúa vì bệnh tật như trong cơn đại dịch covid-19, hay vì thiên tai như các cuộc hỏa hoạn tại 3 tiểu bang miền Tây, hay vì tai nạn như trong các cuộc bạo động đang xảy ra hàng ngày tại một số thành phố. Chúa có thể không trở lại trước khi chúng ta qua đời, nhưng chúng ta có thể phải đối diện với Chúa nay mai trong một ngày chúng ta không biết được.
Câu chuyện kể về giáo sĩ Do Thái rất tài giỏi, khôn ngoan tên Eliezer dạy môn đồ Hãy ăn năn một ngày trước ngày con chết. Nghe lời dạy này các môn đồ thắc mắc hỏi lại thầy làm sao biết ngày trước ngày con chết là ngày nào. Giáo sĩ trả lời: đây là lý do khiến con phải ăn năn hôm nay, e rằng con có thể chết ngày mai.
[Câu chuyện giáo sư Craig Blomberg kể về bà Alice và chồng với 4 con. Chồng bà là người hầu việc Chúa bỏ bà để lấy một phụ nữ trẻ hơn. Ông ngoại tình trước khi ly dị bà. Ông lại còn nói xấu bà để biện cho việc làm tội lỗi. Nhưng điều shocking hơn hết với giáo sư Blomberg là trong một thời gian ông dùng gia đình này như là một gương mẫu cho hôn nhân, cho tình yêu thương, cho sự phục vụ Chúa. Và nếu gia đình bà Alice có thể gẫy vỡ cách đau thương như vậy thì có gia đình nào tự hào đến nỗi nói điều này sẽ không bao giờ xảy ra cho gia đình chúng tôi. Blomberg viết: Tín đồ có một khả năng rất lớn để mang lấy mặt nạ đạo đức trong vòng anh chị em Cơ Đốc và che đậy hết sức kín đáo những nan đề bên trong.]
Hễ ngày nào còn sống, thì ngày đó chúng ta còn có thể phải ăn năn, để xin Chúa thay đổi như Xa-chê can đảm thay đổi: nhận lấy lỗi mình đã gây ra cho người và đền bồi thiệt hại đã phạm. Nếu chúng ta để mỗi ngày trôi qua và tự nhủ sẽ làm điều này ngày mai, thì nguy hiểm là con tim, tấm lòng chúng ta ngày càng cứng cõi hơn, nguội lạnh hơn cho đến một ngày khi thức dậy chúng ta không còn ý thức mình cần phải ăn năn, cần xin Chúa và người mình làm lỗi tha thứ và thay đổi. ĐCJC nói về hậu quả của quyết định sai lầm của người đầy tớ nghĩ chủ sẽ trở về trễ: 51chủ sẽ phân thây nó, rồi nhốt nó chung chỗ với bọn đạo đức giả, ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.
Ngụ ngôn thứ 3 là về 10 trinh nữ thắp đèn chờ đón chàng rễ. Ngụ ngôn thứ 1 dạy chúng ta không biết khi Chúa sẽ trở lại; ngụ ngôn thứ 2 dạy một số người nghĩ chắc còn lâu lắm Chúa mới trở lại nhưng sẽ rất ngạc nhiên, kinh hoàng khi Chúa sẽ trở lại sớm hơn họ nghĩ. Nếu ý chính của ngụ ngôn thứ 2 về chủ và hai đầy tớ là Chúa trở lại sớm hơn người tớ nghĩ, thì ý chính của ngụ ngôn thứ 3 này về 10 trinh nữ đón chàng rễ là Chúa trở lại trể hơn các trinh nữ nghĩ.
Khi ấy, nước thiên đàng sẽ giống như mười người nữ đồng trinh kia cầm đèn đi rước chàng rể. 2 Trong các nàng đó, có năm người dại và năm người khôn. 3 Người dại khi cầm đèn đi thì không đem dầu theo cùng mình. 4 Song người khôn khi cầm đèn đi thì đem dầu theo trong bình mình. 5 Vì chàng rể đến trễ, nên các nàng thảy đều buồn ngủ và ngủ gục. 6 Đến khuya, có tiếng kêu rằng: Kìa, chàng rể đến, hãy đi ra rước người! 7 Các nữ đồng trinh bèn thức dậy cả, sửa soạn đèn mình. 8 Các người dại nói với các người khôn rằng: Xin bớt dầu của các chị cho chúng tôi, vì đèn chúng tôi gần tắt 9 Nhưng các người khôn trả lời rằng: Không, e chẳng đủ cho chúng tôi và các chị; thà các chị hãy đi đến người bán dầu mà mua. 10 Song trong khi họ đang đi mua, thì chàng rể đến; kẻ nào chực sẵn, thì đi với người cùng vào tiệc cưới, và cửa đóng lại. 11 Chặp lâu, những người nữ đồng trinh khác cũng đến và xin rằng: Hỡi Chúa, hỡi Chúa, xin mở cho chúng tôi! 12 Nhưng người đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không biết các ngươi đâu. 13 Vậy, hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày, cũng không biết giờ. (Ma-thi-ơ 25:1-13)
Chuyện kể về 10 trinh nữ theo phong tục thời đó đi rước chàng rễ trong đêm nên phải đem theo đèn. 5 trinh nữ dại đem đèn nhưng lại không đem dầu vì nghĩ rằng chàng rễ sẽ đến sớm nên chắc không cần dầu. 5 trinh nữ kia là người khôn ngoan, đem cả đèn và dầu đốt. Chờ mãi chàng rễ vẫn chưa đến nên cả 10 đều ngủ gục. Mãi đến khuya chàng rễ mới đến. Khi chàng rễ đến, 5 người có đèn nhưng không dầu hoảng hốt xin dầu nhưng được bảo chính họ phải đi mua. Còn 5 người có đèn và dầu thì thắp đèn lên và theo chàng rễ vào dự tiệc cưới. Khi họ đã cùng chàng rễ vào thì cửa đóng lại. Sau đó 5 trinh nữ kia trở về với dầu đã mua thấy cửa đóng thì xin mở cho vào. Nhưng được trả lời: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không biết các ngươi đâu. Và bài học của ngụ ngôn là Vậy, hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày, cũng không biết giờ.
Chúa sẽ trở lại. Chắc chắn sẽ trở lại. Có thể sớm hơn một số người nghĩ. Có thể trễ hơn số khác nghĩ. Nhưng dù chậm, dù trễ đến mấy, chúng ta cũng phải chuẩn bị và sẵn sàng. Cuộc hành trình theo Chúa là một cuộc chạy đường dài, cần có sự nổ lực, kiên trì. Một quyển sách nhỏ tôi đọc khi mới tin Chúa có tựa là Many aspired, few attained – Nhiều người mong mõi, ít người đạt được. Rất nhiều người bắt đầu cách mạnh mẽ, hăng hái, nhiệt thành nhưng rồi theo thời gian, thực tế đời sống, thực tế HT, khó khăn thử thách trong đời sống, sự phê phán, chê trách của người hay vì ham mê đời này hơn Chúa nên lòng dần nguội lạnh, rồi cuối cùng bỏ cuộc.
So sánh về thời gian Chúa trở lại trong 3 ngụ ngôn trên chúng ta có thể thấy rõ chủ ý của ĐCJC rằng không ai có thể đoán biết trước, có thể sớm với một số người, có thể trễ với một số khác. Vì vậy không nên uổng phí thời gian, công sức để tiên đoán xem ngày nào, giờ nào Chúa sẽ trở lại. Trái lại chúng ta phải tập trung vào việc chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại.
Một thống kê cho biết 1 trong 3 người nhóm thờ phượng hôm nay sẽ bỏ sự nhóm lại trong tương lai. Chúng ta có thể nhìn thấy điều này từ chính HT chúng ta tại đây. Khi nghe hay đọc những thống kê này chúng ta thấy rõ rằng không phải ai nói lạy Chúa, lạy Chúa cũng là người thật sự tin Chúa, tin lời KT dạy, huống chi đến việc sống và làm theo lời KT dạy. ĐCJC hiểu rất rõ điều này như Giăng viết: Đang lúc Ngài ở thành Giê-ru-sa-lem để giữ lễ Vượt Qua, có nhiều người thấy phép lạ Ngài làm, thì tin danh Ngài. 24 Nhưng Đức Chúa Jêsus chẳng phó thác mình cho họ, vì Ngài nhận biết mọi người, 25 và không cần ai làm chứng về người nào, bởi Ngài tự hiểu thấu mọi điều trong lòng người ta. (Giăng 2:23-25)
Trong số tôi và qv hiện diện tại đây sáng nay, ai có thể nói vài ba năm tới, 5, 10 năm tới chúng ta chắc chắn sẽ không bao giờ thay đổi để trở nên như số người trong số thống kê trên hay không? Chúng ta không biết chắc chắn được. Cũng vậy chúng ta chỉ có thể biết người chưa tin Chúa hay tin Chúa tùy theo lời tuyên xưng, theo quyết định và hành động mà chúng ta đã và đang nghe và thấy. Nhưng chúng ta không thể biết tận đáy lòng, từ sâu kín nhất của tâm hồn, của con tim, người đó thế nào. Và dĩ nhiên chúng ta cũng không biết 5, 10 năm tới những gì một người tuyên xin về niềm tin hôm nay vẫn còn thật hay không? Chỉ có Chúa mới biết được.
Người hôm nay là người chưa tin Chúa, ai biết nay mai họ sẽ tin Chúa và trung tín đến lúc cuối. Hay người hôm nay là người tin Chúa sẽ có thể thay đổi trở nên nguội lạnh trong đức tin, không nhóm với HT, rồi cuối cùng từ bỏ niềm tin vào Chúa. Vậy khi đọc, khi nghe những ngụ ngôn hay lời Chúa, chúng ta cần nhớ rằng tôi chính là đối tượng của lời Chúa. Tôi hoặc sẽ là người đầy tớ khôn ngoan hay độc ác. Tôi hoặc sẽ là người trinh nữ khôn ngoan, biết chuẩn bị để đem dầu theo đèn để chờ chàng rễ đến, hoặc là người trinh nữ dại khờ thiếu chuẩn bị. Tôi là người đã nhận ta-lâng rồi sẽ đem đầu tư hay sẽ đem chôn dấu.
Chúa dạy những chuyện ngụ ngôn về sự Chúa trở lại cho ai? Không phải chỉ cho tín đồ nhưng cho mọi người có tai muốn lắng nghe để trở nên con cái ĐCT, trở nên môn đồ Đấng Christ. Và cho tôi, nếu tôi có tai muốn lắng nghe và để lời Chúa vào lòng với ý định học làm theo.
Khi nghe, đọc 4 ngụ ngôn chúng ta cũng có thể tự hỏi: ai là người tớ trung tín đến lúc cuối, ai là 5 người nữ đồng trinh giữ đủ dầu cho đến lúc cuối trong nhóm học KT của tôi, hay trong HT tại đây hay trong HT tại VN mà tôi biết? Và cũng có thể sẽ hỏi rằng sự cứu rỗi có bảo đảm, có chắc chắn cho những người đã xưng với môi miệng và lòng thành Jesus là Cứu Chúa không? Nói cách khác có phải khi được cứu sẽ luôn luôn được cứu hay có thể trật mất ân điển và sẽ nghe Chúa phán trong ngày cuối: Hãy lui khỏi Ta vì Ta không biết ngươi đâu và sẽ bị ném ra nơi chỗ tối tăm, ở đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng?
Vì trọng tâm của bài giảng hôm nay không phải về câu hỏi rất quan trọng và khó khăn này nên tôi chỉ xin tóm tắt lại với một ý: Nhiều nơi trong KTTU cảnh giác người nghe, người đọc về sự nguy hiểm của việc lìa bỏ đức tin và nhắc nhở chúng ta phải giữ sự trung tín cho đến cuối. Đức tin không thể gọi là đức tin nếu không có sự trung tín, kiên trì, không có lòng cam kết và gắn sức như chính lời ĐCJC dạy: Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng, thì sẽ được cứu (Ma-thi-ơ 24:13)
Ít nhất 2 lần trong thư Hê-bơ-rơ tác giả cảnh giác người bỏ đạo: Những người từng được soi sáng, từng nếm ân tứ thiên thượng, từng dự phần về Thánh Linh, 5 từng kinh nghiệm lời tốt lành của Đức Chúa Trời cũng như các quyền năng của đời tương lai. 6 Nếu họ sa ngã thì không thể nào phục hồi để ăn năn trở lại; họ đã tự mình đóng đinh Con Đức Chúa Trời một lần nữa và công khai sỉ nhục Ngài. (6:4-6 – BDM)
Huống hồ kẻ chà đạp Con Đức Chúa Trời, coi thường huyết giao ước đã thánh hóa mình và xúc phạm Thánh Linh ban ân sủng, thì anh chị em tưởng kẻ ấy không đáng bị hình phạt nặng nề hơn sao? (10:29 – BDM)
Câu hỏi về thần học: người tin Chúa có mất sự cứu rỗi hay không là một câu hỏi cực kỳ quan trọng. Nhưng nếu câu hỏi đó chỉ để gia tăng thêm kiến thức về thần học, thì có ích lợi gì? Nếu câu hỏi về ai là người đầy tớ trung tín hay độc ác, ai là 5 trinh nữ khôn ngoan hay 5 trinh nữ khờ dại chỉ để thảo luận cho một buổi học KT thêm hào hứng thì có ích lợi gì? Không: ĐCJC không kể những ngụ ngôn này cho các môn đồ, cho đoàn dân để họ có những câu hỏi trừu tượng về thần học, để tranh luận ai được cứu, ai không được cứu, hay ai sẽ giữ được sự cứu rỗi và phần thưởng trong ngày cuối. Chúa kể ngụ ngôn để dạy cho những người thật sự muốn sống khôn ngoan, muốn thật sự chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại. Chúa kể ngụ ngôn để dạy cho tôi phải nhớ thật rõ rằng tôi không biết khi nào Chúa sẽ trở lại, tôi chỉ phí thời gian, uổng công sức tìm tòi, nghiên cứu về dấu hiệu và ngày giờ Chúa trở lại. Điều tôi nên làm, cần làm, phải làm là chuẩn bị mỗi ngày cho sự trở lại của Chúa tôi.
Câu hỏi chính yếu và quan trọng hơn hết không phải là khi nào Chúa sẽ trở lại nhưng là khi Chúa trở lại tôi, chính bản thân tôi có sẵn sàng hay không.
