Trời Mới, Đất Mới
Nhân đầu năm âm lịch Nhân Dần, tôi muốn chia sẻ cùng hội thánh Chúa một đề tài hết sức thích hợp: trời mới, đất mới hay thiên đàng. Bởi vì nói đến Tết, nói đến một năm mới, dù là âm lịch hay dương lịch là nói đến hy vọng. Chính vì hy vọng mà chúng ta cầu chúc cho nhau, cầu nguyện cho nhau trong những ngày đầu xuân tết đến.
Đoạn KT qv đã nghe đọc từ về trời mới, đất mới từ hai sách Ê-sai 65:17-25 và Khải Huyền21:1-5. Ê-sai trong KTCU và KH trong KTTU. Bài giảng về trời mới, đất mới (TMĐM) hay thiên đàng dựa theo KH 21:1-5. Trước hết một vài lời giới thiệu về KH. Đây là sách cuối cùng trong KT. Viết bởi Giăng, 1 trong 12 sứ đồ của ĐCJC. Theo lịch sử HT, Giăng là sứ đồ duy nhất trong số các sứ đồ chết vì tuổi cao, già yếu. Tất cả các sứ đồ khác đều tử đạo.
Nghe đến KH ngay lập tức chúng ta nghĩ đến tiên tri về thời kỳ sau rốt trước và sau khi tận thế. Về những ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng huyền bí, không ai hiểu rõ. Những nhận xét này đúng. Tuy nhiên chúng ta quên một lý do quan trọng và chính yếu của sách KH. ĐCT dùng Giăng viết KH để động viên, khích lệ tín đồ đang khi trải qua những bắt bớ, khủng bố từ đại đế và chính quyền La-mã.
Người tin Chúa thời đó bị bè bạn, gia đình xa lánh, từ bỏ; mất việc làm; bị hành hung, tù đày; bị bỏ vào các đấu trường để thú dữ xé xác; bị đóng đinh trên thập giá cho đến chết hay bị tẩm dầu, treo lên thập giá làm đuốc đốt ban đêm cho các buổi dạ tiệc của vua quan. Không phải vì phạm pháp nhưng chỉ vì niềm tin vào ĐCJC. Giá họ phải trả cho niềm tin hết sức đắt, thậm chí mất cả tính mạng. KH được viết để đem lại hy vọng cho tín đồ đang đối diện với những mất mát rất lớn và thực này. Để đem lại cho họ hy vọng sống. Chính nhờ lời dạy trong KH, người tin Chúa hy vọng kiên nhẫn chờ đợi và chấp nhận bao nhiêu khó khăn thử thách.
Nếu lời dạy về TMĐM, thiên đàng giúp các tín hữu xưa đứng vững trong đức tin đang khi bị bắt bớ, giữa phong ba bão táp, lúc hoạn nạn trong đời sống thì chắc chắn cũng sẽ giúp chúng ta trong năm mới này khi trải qua những thử thách, khó khăn. Hy vọng về TMĐM không phải là mơ mộng hão huyền để chạy trốn thực tế đời sống – như Marx gọi là thuốc phiện của nhân dân khi nói về tôn giáo. Trái lại khi hiểu rõ và suy gẫm về lời dạy này, người tin Chúa càng có sự bình an, niềm vui và hy vọng tràn đầy khi đối diện với thử thách, khó khăn trong đời. [Dẫn chứng]
1) Dù công việc trong ngày có khó khăn đến mấy, mệt mỏi, chán nản đến mấy nhưng nếu biết đến cuối ngày chúng ta sẽ trở về lại với gia đình hạnh phú, êm ấm thì vẫn có thể chịu đựng tất cả.
2) Dù cuộc sống nơi trại tị nạn trên đảo, nơi trại chuyển tiếp hết sức khó khăn, hy vọng về nơi sẽ được đến định cư giúp khắc phục, vượt qua tất cả. Dù thể xác sống trong trại tị nạn nhưng tâm trí sống nơi sẽ đến định cư. Cũng vậy dù thể xác người tin Chúa sống trên đất này, nhưng tâm linh luôn hướng về thiên đàng.
SẼ KHÔNG CÒN BIỂN…
Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa… (KH 21:1)
Đoạn KT về TMĐM này bắt đầu với một câu khó hiểu biển cũng không còn nữa. Một giải nghĩa là nơi trời mới, đất mới, nơi thiên đàng sẽ không còn biển. Theo Giô-sua 17:10, biển đồng nghĩa với biển Địa Trung Hải (Mediterranean Sea) nên một số học giả giải thích rằng trong tương lai có thể sẽ không còn biển ĐTH!
Tôi không nghĩ đây là ý nghĩa của câu KT này. Đọc cả đoạn KH 21, không còn biển là điều không có đầu tiên trong 7 điều không có. Sáu điều không có kia là: Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi. (21:4), không còn đêm (tượng trưng cho tội lỗi - 21:25, 22:5), và không còn sự nguyền rủa (22:3)
Những sự không có hay vắng mặt nơi TMĐM trong đoạn KT này là những điều tiêu cực, gây nên khó khăn, đau khổ cho cuộc sống hiện tại trên thế giới này. Đây là những điều mỗi chúng ta đều không muốn có, đều muốn tránh. Là những điều mà mọi chính quyền, mọi dân tộc, mọi xã hội từ xưa đến nay đều chủ động để loại bỏ, tiêu diệt khỏi đời sống: sự chết, than khóc, kêu ca, đau đớn, rủa sả, tội lỗi. Nói cách khác, hạnh phúc là sự vắng mặt của những điều này trong đời sống cá nhân và xã hội.
Đây cũng là ý tiên tri Ê-sai viết về TMĐM trong Ê-sai 65:19-20: Nơi đó sẽ không còn nghe tiếng khóc la, than vãn. 20 Tại đó sẽ không còn trẻ con chết yểu, cũng chẳng có người già mà không sống đầy tuổi thọ. Vì người chết lúc trăm tuổi là chết trẻ và kẻ chỉ sống đến trăm tuổi sẽ bị coi như bị rủa sả. (BDM)
Vậy hình ảnh của biển đây cũng là biểu tượng của điều mỗi chúng ta đều muốn tránh, như tránh sự chết, than khóc, kêu ca, đau đớn, rủa sả, tội lỗi. Vậy biển trong đoạn KT này không nói lên một nơi du lịch, nơi nghĩ mát, nơi đem lại các loài cá làm nguồn thực phẩm cho loài người. Không nói về điều phước hạnh, nguồn ơn phước cho con người. Trái lại hình ảnh biển đây trong trí của người DT xưa là một nơi đầy hiểm nguy, biến động, nơi đe dọa, nơi đáng sợ vì ai biết được quái vật gì trong nơi nước sâu thẩm, giữa đại dương mênh mông không biết đâu là bến bờ.
Bờ biển ĐTH nơi vùng đất Palestine đầy những gành đá và núi non hiểm trở, không thuận lợi để phát triển ngành hàng hải cho thương mãi. Hơn nữa những cơn giông bão lớn xuất phát từ vùng biển ĐTH vào đất liền. Vậy biển là hình ảnh của những biến động, nơi giông bão xảy đến như viết trong TT 46:2-3: Núi lay động và bị quăng vào lòng biển; 3 Dầu nước biển ầm ầm sôi bọt, và các núi rúng động vì cớ sự chuyển dậy của nó. Vậy biển đây tượng trưng cho những biến động, giông ba, bão tố hiểm nguy.
Vậy không còn biển nơi TMĐM, nơi thiên đàng có nghĩa là không còn hiểm nguy, đe dọa, không còn biến động, sóng gió ba đào tàn phá trong đời sống như tàn phá những chiếc thuyền nhỏ nhoi nơi biển cả mênh mông.
Trong KH 13:1 Giăng viết về một con thú đáng kinh khiếp, ghê sợ xuất hiện từ giữa biển sâu: Đoạn, tôi thấy ở dưới biển lên một con thú có mười sừng bảy đầu, trên những sừng có mười cái mão triều thiên, và trên những đầu có danh hiệu sự phạm thượng. Con thú này là tôi tớ độc ác, ghê sợ của Sa-tan nghịch lại cùng ĐCT và gây muôn vàn tai họa cho dân cư trên đất.
Vậy không còn biển có nghĩa là không còn sự hiện hữu của Sa-tan, ma quỉ, không còn sự hiện diện của tội ác, không còn lực lượng đối nghịch cùng ĐCT.
Không còn biển cũng có nghĩa là không còn sự ngăn cách giữa các lục địa, lãnh thổ, quốc gia. Tất cả các dân tộc, giống người sẽ sống hòa thuận, yêu thương nhau. Chẳng phải đây là một mơ ước của mọi dân tộc, giống người từ xưa đến nay: không còn chiến tranh, bốc lột, không còn kỳ thị giữa các giống người dù mọi màu da, tiếng nói.
Nơi TMĐM chắc chắn sẽ có những dòng sông làm tươi mát, làm vui thành thánh. Những dòng sông phước hạnh, an bình. Dòng sông ban nước hằng sống đời đời. Nhưng sẽ không có biển!
CS Lewis viết thiên đàng là tiếng nhạc êm diệu, nhỏ nhẹ từ xa mà từ lúc sinh ra chúng ta đã nhớ mình nghe từ đâu đó rồi. Có nghĩa là tất cả mọi người, dù là những người tự bảo không tin vào thiên đàng, TMĐM vẫn luôn có một hoài vọng sâu kín trong tâm hồn rằng chắc phải có một nơi nào đó tốt đẹp muôn ngàn lần hơn cuộc sống dưới trời đầy tội lỗi, bất công, độc ác này.
Thiên đàng, TMĐM theo lời KT dạy không phải là một huyền thoại, một mơ tưởng hão huyền, một chạy trốn hiện thực đời sống. Nhưng là một bài nhạc, một âm điệu, một tiếng nhỏ nhẹ sâu kín nhất trong tâm hồn mỗi người khao khát lắng nghe lại. Tuổi đời càng cao, đời sống càng đen tối, khổ đau thì âm hưởng của bài nhạc này càng thu hút hơn, càng rõ hơn. Làm sao chúng ta có thể tin và chấp nhận cuộc đời trên đất này là duy nhất? Ai có thể chấp nhận mùa đông với tuyết giá lạnh lẽo sẽ kéo dài suốt năm? Mọi người đều biết rằng dù mùa đông có nghiệt ngã đến mấy, cuối cùng rồi xuân sẽ đến. Thiên đàng chính là mùa xuân chắc chắn sẽ đến sau mùa đông băng giá của cuộc sống trên đất này.
TA LÀM MỚI LẠI HẾT THẢY MUÔN VẬT
Xin đừng nghĩ lời dạy về TMĐM chỉ là mơ mộng hão huyền bởi vì người tin Chúa chỉ muốn chạy trốn hiện thực của đời sống. Trái lại chính nhờ lời dạy này môn đồ Đấng Christ thời đó mới có thể nhìn thẳng, đối diện với những tù đày, bắt bớ, mất mát, với khủng bố, tù đày, thậm chí sự chết. Khi bị bắt bớ, họ tha thứ, chúc phước. Khi đối diện với sự chết, họ hát thánh ca.
Con người không thể sống mà không có hy vọng. Cuộc sống hiện tại, hôm nay hoàn toàn ảnh hưởng bởi niềm tin vào tương lai. 2 ví dụ:
1) 2 người bị xử, bỏ vào ngục trong 1 năm. 1 người biết chắc mình bị vợ phụ bạc, con bỏ rơi. 1 người biết chắc vợ con vẫn chung thủy, yêu thương chờ đợi. Hàng tháng mang thức ăn vào thăm, hàng tuần viết thư khích lệ, động viên, an ủi. Qv nghĩ ai sẽ sống, muốn sống?
2) 2 người cùng làm một công việc hết sức nhàm chán, máy móc trong 1 năm. 1 người hứa sẽ được trả 1 triệu. 1 người 10 ngàn. Qv ai thức dậy môi sáng vui vẻ làm công việc nhàm chán đó?
Cùng một con người, một hoàn cảnh, một nan đề, nhưng phản ứng, thái độ, quyết định hoàn toàn khác nhau. Lý do? Hy vọng. Hiện tại hoàn toàn ảnh hưởng bởi niềm tin, hy vọng vào tương lai. Nếu không có thiên đàng, thì con người có hy vọng gì trong cuộc sống dưới trời này? Nếu qv tin cuộc sống dưới trời này là duy một và tất cả, qv sẽ giải thích thế nào về bất công, tội ác của người với người? Ai sẽ xử người độc ác khi họ chết đi nếu đời sống này là một và duy nhất, nếu chết là hết?
Nếu một ngày nào đó, năng lượng mặt trời sẽ không còn, mặt trời sẽ nguội lạnh rồi trở nên một hành tinh chết. Trái đất và mọi người trên đất rồi cũng sẽ chết theo mặt trời. Ai sẽ còn nhớ gì đến lịch sử con người, đến những nền văn hóa kéo dài dù là 10 ngàn năm hay 100 ngàn năm? Nói chi đến những việc làm nhỏ nhoi, tầm thường hàng ngày, hàng tháng, hàng năm của tôi và qv?
Nhưng nếu có ĐCT, và nếu ĐCT thật sẽ ban thưởng cho những kẻ yêu mến Ngài trong ngày cuối, nơi trời mới đất mới thì mỗi việc làm của chúng ta, dù nhỏ hay lớn đều đáng kể, đều mang một giá trị, một ý nghĩa.
Qv nói: tôi đồng ý với MS rằng hy vọng vào thiên đàng cần thiết, quan trọng, giá trị. Tuy nhiên đến giờ MS chỉ giải thích về những điều không có nơi thiên đàng: không còn biển – hiểm nguy, đe dọa, bất an, chia cách, không còn sự chết, không còn tội ác, không còn đau đớn, khóc than, chia cách. Nhưng ngoài những điều không có này, thiên đàng còn có những điều gì đến nỗi tôi muốn đến đó, sống tại đó? Câu trả lời nằm trong KH 21:5: Đấng ngự trên ngôi phán rằng: Nầy, ta làm mới lại hết thảy muôn vật. Từ mới đây là kainos. Cùng một từ mới dùng khi Giăng viết về TMĐM.
Đấng Sáng Tạo muôn loài thế nào? Nếu khoảng cách giữa trái đất và mặt trời (93 triệu dặm) là độ dày của một mảnh giấy, thì khoảng cách giữa trái đất và ngôi sao gần nhất sẽ là một chồng giấy cao 70 feet. Khoảng cách giữa trái đất và cuối thiên hà của chúng ta sẽ là một chồng giấy tờ cao 310 dặm.
Trong tiếng Hy-lạp, tức ngôn ngữ nguyên thủy của KTTU dùng khi viết KH, có 2 từ khác nhau về sự mới, là kainos và neos. Neos dùng để nói về một điều mới, mới xảy ra, mới đến, mới xây; chúng ta có thể thay vào từ non, trẻ cho từ mới này, tức một vật, một sự việc mới có, mới xảy ra không lâu theo thời gian. Khác với neos, kainos có thể dùng để nói về một vật, một sự việc, việc diễn biến đã có, đã xây, đã lập, đã xảy ra lâu trước, dù là 1 ngàn hay 1 triệu năm, nhưng về chất lượng vẫn còn mới như ban đầu.
Kainos dùng để nói về sự mới mẻ về chất lượng, về phẩm tính, về giá trị cho dù đã có rất lâu. Mới như kainos là thời gian không hề ảnh hưởng đến chất lượng, giá trị dù là 1 năm hay 100 năm. Vàng hay kim cương không thể gọi là neos, mới có, vì đã có từ biết bao nhiêu trăm ngàn năm. Nhưng dù theo thời gian giá trị của vàng và kim cương ngày càng kainos, quí báu, giá trị.
Vậy một vật vẫn có thể mới về chất lượng, giá trị, tức kainos dù không còn mới so với thời gian như mới hôm nay hay hôm qua, tức neos. Một vật vẫn còn mới về giá trị, phẩm chất như ngày nào dù đã về vật thể đã có từ rất lâu. Không chỉ vậy giá trị, chất lượng càng tăng theo thời gian.
Năm 2017 một bức tranh của họa sĩ Leonardo da Vinci, gọi là Salvator Mundi – Cứu Chúa của Nhân Loại, vẽ hình ĐCJC, được đấu giá. Giá cuối cùng là 450.3 triệu dollars. Hôm nay bức tranh này trị giá 475.4 triệu! Qv nghĩ bức tranh này được da Vinci vẽ khi nào? Khoảng 1500 tức khoảng 520 năm trước đây. Theo một tài liệu thì 10 bức tranh đắt giá nhất thế giới thì không một bức nào được vẽ trước 1955, tức sớm nhất là hơn 60 năm trước đây. Đây chính là ý nghĩa của kainos. Theo thời gian sự vật càng mang một giá trị, ý nghĩa, càng đem lại lợi ích nhiều hơn, tốt hơn.
TMĐM (KH 21:1), ĐCT làm mới lại mọi vật (KH 21:5) hay kainos mang ý nghĩa là dù thời gian, hoàn cảnh, môi trường có thay đổi thế nào, bao lâu vẫn không hề ảnh hưởng, không hề làm cho cũ đi, làm giảm đi phước hạnh, tươi mới. Trái lại theo thời gian TMĐM càng mới hơn, ý nghĩa hơn, giá trị hơn, phước hạnh hơn. Đây mới chính là sự mới mà tất cả chúng ta đều ước nguyện, mong mỏi từ trong tận tâm hồn.
Khi lập gia đình, mọi người đều mong muốn tình yêu thương trong hôn nhân, quan hệ chồng vợ, quan hệ gia đình ngày càng nồng thắm, gắn bó, sâu đậm hơn. Chúng ta ngưỡng mộ, ca ngợi những cặp vợ chồng dù đã lập gia đình 50 năm, 70 năm vẫn còn đầm thấm, gắn bó, thủy chung với nhau. Kainos cho dù không còn neos!
Trong Chúa, một người dù không còn neos, trẻ trung nhưng vẫn có thể ngày càng kainos, mới mẻ, giá trị như lời PL: Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn. (2 Cô-rinh-tô 4:16). Từ đổi mới này có cùng một gốc từ kainos, có nghĩa là dù có xưa cũ nhưng ngày lại càng mới mẻ về tính hạnh, về lòng nhiệt thành, niềm vui trong Chúa.
Không một vật gì trong thế giới hữu hình này càng trở nên mới hơn, tốt hơn, dù là kim cương hay vàng quí. Đúng như lời PL viết: Bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy. (2 Cô-rinh-tô 4:18).
Đây là ý nghĩa của thiên đàng: càng ở lâu, chúng ta càng khám phá những điều mới mẽ, quí báu, càng yêu thích hơn khi mới bắt đầu. Trời và đất này rồi sẽ cũ đi, hư hỏng và tàn rụi, nhưng trời và đất mới sẽ không. Không có cuộc vui nào, hạnh phúc nào trong cuộc đời này lại không tàn; nhưng tất cả cuộc vui nơi, hạnh phúc nơi thiên đàng ngày càng thỏa mãn hơn và sẽ bao giờ phai tàn.
CHĂM SỰ KHÔNG THẤY ĐƯỢC
Tất cả sự vật trong cuộc sống dưới trời này mà KT gọi là sự thấy được đều rồi sẽ cũ đi, già đi, rồi mất đi. Vậy đó mà bao nhiêu người, gồm cả tín đồ, dốc hết nổ lực, tâm sức để giữ chặt những điều chắc chắn rồi cũng sẽ mất đi. Dù cố nắm chặt đến mấy hôm nay, khi từ giả cõi đời này, tất cả đều sẽ ra đi với 2 bàn tay không.
Nhưng nếu chúng ta tin vào lời KT dạy về TMĐM, về thiên đàng, chúng ta sẽ có hy vọng cho cả cuộc sống hôm nay và đời sống mai sau nơi thiên đàng. Trong mùa xuân vĩnh viễn trên thiên đàng sẽ không còn có sự chết, tang chế đáng sợ chia cắt những người yêu mến nhau, yêu mến Chúa. Cũng sẽ không có khóc than, đau khổ vì tật bệnh trong thân thể mõi mòn, già yếu với thời gian; về sự tranh dành, bon chen về miếng ăn, manh áo trong cuộc sống tất bật với con người gian dối này; hay về chiến tranh triền miên đẫm đầy nước mắt, khổ đau, đến nỗi đất đậm cả màu máu và lời than khóc. ĐCT hứa chính Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt cho con dân Ngài. Chính Chúa hứa sẽ thay đổi mới lại (tân tạo) tất cả vạn vật.
Hôm nay chúng ta đón mừng xuân Nhâm Dần. Người tin Chúa không chỉ vui mừng về mùa xuân trên đất rồi sẽ qua đi. Người tin Chúa còn biết chắc rằng họ còn sẽ có một mùa xuân vĩnh cửu nơi trời mới, đất mới. ĐCT mời gọi: Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn. 17 Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng vô biên, 18 bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy. (2 Cô-rinh-tô 4:16-18)
