Trái Thánh Linh – Khâm Sai của Chúa
Chúng ta đã trải qua nhiều tuần lễ học về trái Thánh Linh. Hai tuần vừa qua về lời nói. KT dạy rõ rằng ĐCT muốn tất cả những người tin Chúa đều có trái TL trong đời sống. ĐCJC dạy để biết cây, để biết đời sống thật của một người, chúng ta phải nhìn xem trái. Bởi vì trái là sản phẩm của cây đem lại lợi ích cho người. Trái TL vô nghĩa nếu không đem lại lợi ích cho công việc Chúa, cho hội thánh, cho gia đình, cộng đồng. Trái TL phải được thể hiện qua hành động, lời nói, cách sống. Và một trong những thể hiện của trái TL quan trọng nhất cho người tin Chúa là làm khâm sai cho Đấng Christ như lời PL dạy trong 2 Cô-rinh-tô 5:20: Vậy chúng tôi làm chức khâm sai của Đấng Christ, cũng như Đức Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên bảo. Chúng tôi nhơn danh Đấng Christ mà nài xin anh em: hãy hòa thuận lại với Đức Chúa Trời.
Tôi sẽ giải thích ý nghĩa, điều kiện và trách nhiệm của người làm khâm sai cho Chúa sau. Chúng ta sẽ đọc từ KT CU sách Giê-rê-mi 29 để hiểu rõ hơn về bài học và áp dụng của người làm khâm sai hay sứ giả cho ĐCT nơi xứ người. [Đọc KT BD2011]: Ðây là nội dung bức thư của Tiên Tri Giê-rê-mi-a gởi từ Giê-ru-sa-lem đến các vị trưởng lão còn sống giữa vòng những người bị lưu đày, cùng gởi đến các tư tế [thầy tế lễ], các tiên tri, và toàn dân đã bị Nê-bu-cát-nê-xa bắt phải rời khỏi Giê-ru-sa-lem đem lưu đày ở Ba-by-lôn. 2 Thư nầy được gởi đi sau khi Vua Giê-cô-ni-a, thái hậu [mẹ của vua], các thái giám [quan chứ], các lãnh tụ [lãnh đạo] của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, các chuyên viên các ngành [thợ chuyên nghiệp], và các kỹ thuật viên kim khí đã rời khỏi [lưu đày từ] Giê-ru-sa-lem. 3 Thư nầy do tay Ê-la-sa con của Sa-phan và Ghê-ma-ri-a con của Hinh-ki-a, hai sứ giả do Xê-đê-ki-a vua Giu-đa sai đến Ba-by-lôn để gặp Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn, mang đi. Thư ấy viết rằng:
4 “CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán với tất cả những kẻ đã bị lưu đày, tức với những kẻ Ta đã để cho bị bắt đi khỏi Giê-ru-sa-lem mà đem lưu đày ở Ba-by-lôn, như thế nầy, 5 ‘Hãy xây nhà và ở [settle down, định cư]. Hãy trồng cây và ăn trái. 6 Hãy cưới vợ và sinh con đẻ cái. Hãy cưới vợ cho con trai và gả chồng cho con gái để chúng cũng sinh con đẻ cái. Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều trong xứ ấy và đừng để bị giảm thiểu đi. 7 Hãy mưu cầu hòa bình thịnh vượng cho thành nơi Ta sai các ngươi đến sống trong thân phận kẻ lưu đày. Hãy cầu nguyện với CHÚA cho thành ấy, vì sự hòa bình thịnh vượng của thành ấy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự bình an thịnh vượng của các ngươi,’ 8 vì CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán, ‘Chớ để các tiên tri và bọn giải mộng [thầy bói] đoán mò sống giữa các ngươi lừa gạt các ngươi. Chớ tin vào những điềm chiêm bao là những điều các ngươi mơ ước rồi nằm mơ mà thấy, 9 vì bọn đó đã nhân danh [mạo danh] Ta nói với các ngươi những lời dối trá. Ta không hề sai chúng,’ CHÚA phán.
10 Vì CHÚA phán thế nầy, ‘Khi thời hạn bảy mươi năm bị lưu đày ở Ba-by-lôn mãn, Ta sẽ thăm viếng các ngươi. Ta sẽ làm thành lời Ta đã hứa với các ngươi, và Ta sẽ đem các ngươi trở về xứ nầy.’ 11 CHÚA phán, ‘Vì Ta biết rõ các chương trình Ta sẽ làm cho các ngươi, đó là các chương trình làm cho các ngươi được bình an thịnh vượng chứ không phải bị tổn hại, hầu ban cho các ngươi một hy vọng và một tương lai. 12 Bấy giờ các ngươi sẽ kêu cầu Ta, và khi các ngươi đến và cầu nguyện với Ta, Ta sẽ nhậm lời cầu xin của các ngươi. 13 Các ngươi sẽ tìm kiếm Ta và các ngươi sẽ tìm được, khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng.
Ba điều trong bài giảng này: 1) Chớ tách rời; 2) Chớ bị đồng hóa, 3) Hãy làm khâm sai cho Chúa
BỐI CẢNH
Điều gì xảy ra trong đoạn KT này: Dân Chúa bị bắt đày sang xứ Ba-by-lôn sau khi vua Nê-bu-cát-nê-xa tàn phá đền thờ và cả thành phố Giê-ru-sa-lem. Đoạn KT này là một phần của lá thư tiên tri Giê-rê-mi viết gởi cho các vị trưởng lão còn sống giữa vòng những người bị lưu đày, cùng gởi đến các tư tế, các tiên tri tức những người lãnh đạo tin thần, tôn giáo, và toàn dân đã bị Nê-bu-cát-nê-xa bắt phải rời khỏi Giê-ru-sa-lem đem lưu đày ở Ba-by-lôn.
Vua Nê-bu-cát-nê-xa giải những người có chức vị, có khả năng sang Babylon với dụng ý gì? Để đồng hóa họ. Tức là theo thời gian sẽ làm cho họ trở nên như người Babylon. Như Đa-ni-ên và các bạn ông được đổi tên từ Đa-niên có nghĩa là ĐCT là quan xét của tôi sang Bên-tơ-xát-sa, có nghĩa là thần Ba-anh là đấng bảo vệ mạng sống. Đổi tên để làm cho họ quên đi niềm tin vào ĐCT, quên đi phong tục, xứ sở. Cũng như ngày xưa Trung Quốc khi đô hộ xứ VN chúng ta tìm mọi cách để đồng hóa.
Đây là một cách thức hữu hiệu để làm cho kẻ chiến bại theo thời gian quên đi quá khứ rồi dần dần sẽ hòa nhập vào xã hội, văn hóa, tôn giáo, chính trị của quốc gia thắng trận. Trước mưu mô đồng hóa thường thì dân sự làm gì? Hoặc chấp nhận, hoặc tách biệt, cách ly. Trong phần tới chúng ta sẽ nói về sự đồng hóa. Không chung đụng, không giao tiếp. Hơn thế nữa, dù bên ngoài có thể nói cười với dân bản xứ nhưng trong lòng hoặc thù hận, hoặc khinh khi, xem thường nghĩ rằng văn hóa của đất nước tôi, dù đất đã mất, nhưng văn hóa vẫn sẽ còn tồn tại cho đến lâu dài. Và nền văn hóa đó, phong tục đó tiến bộ hơn, cao cả hơn nền văn hóa, phong tục nơi xứ này.
CHỚ TÁCH RỜI, CÁCH LY
Babylon muốn đồng hóa dân sự Y-sơ-ra-ên. Dân sự Y-sơ-ra-ên tìm đủ mọi cách để tách rời, sống riêng biệt, không đụng chạm, trách giao tiếp. Babylon là xứ sở, thủ đô của quân thù. Thành phố này, dân chúng này thờ thần Ba-anh, và bao nhiêu tà thần khác. Ở Giê-ru-sa-lem chỉ một đền thờ, một niềm tin vào Đức Giê-hô-va. Làm sao hai niềm tin, hai cách sống, hai phong tục, hai thành phố có thể hòa nhập.
Khi đọc lá thư này, chắc chắn dân sự và những người lãnh đạo chắc vô cùng ngạc nhiên. Họ nghĩ ĐCT sẽ gọi họ như Chúa gọi dân Ngài trong KH hãy ra khỏi Ba-by-lôn. Nhưng không. Trái lại ĐCT bảo họ hãy ở lại thành, làm ăn sinh sống trong thành, sanh con đẻ cái, lấy vợ cho con trai, lấy chồng cho con gái, sinh sảnh thêm lên. Và cũng hết hãy cầu nguyện với Chúa cho sự hòa bình, thịnh vượng của thành. Cầu nguyện với Chúa có nghĩa là ĐCT sẽ lắng nghe và sẽ ban phước cho thành phố, cho dân sự Ngài trong thành phố ấy.
Hãy mưu cầu hòa bình thịnh vượng cho thành nơi Ta sai các ngươi đến sống trong thân phận kẻ lưu đày. Hãy cầu nguyện với CHÚA cho thành ấy, vì sự hòa bình thịnh vượng của thành ấy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự bình an thịnh vượng của các ngươi, (v7)
Tiên tri giả thì bảo với dân sự rằng chỉ hai năm sau đó họ sẽ trở về lại Giê-ru-sa-lem. Nên hãy chờ ngày trở về. Nhưng ĐCT dùng tiên tri Giê-rê-mi để nói với dân sự rất rõ rằng họ ở lại thành Babylon, sinh sống như dân trong thành, chứ không phải như phản dân, gián điệp chờ đến lúc sẽ nổi loạn.
Vậy KT dạy rất rõ rằng khi dân Chúa bị bắt giải sang Babylon, Chúa ra lệnh cho họ phải định cư, làm ăn, sinh sống, như một người thường trú, chứ không phải chỉ làm một kẻ xa lạ, người du lịch bàng quang, mặc kệ, dững dưng trước sự việc xảy ra trong xứ. Lý do? Thứ nhất bởi vì thời điểm chưa đến để họ trở về lại thành Giê-ru-sa-lem thân yêu; thứ hai để họ là một ảnh hưởng tích cực cho xã hội, là những nhân chứng sống cho ĐCT qua cuộc đời, cách sống, cách cư xử với mọi người, qua quan hệ của họ với Chúa.
Qv có thấy sự liên hệ của lá thư Giê-rê-mi và hoàn cảnh hiện tại chúng ta đang sống hay không? Bài học gì từ lá thư này? KT TU gọi những người tin Chúa trong sách Hê-bơ-rơ, Phi-e-rơ là những người kiều ngụ trong xứ, hay kiều dân. Kiều dân là gì? Là những người thường trú trong xứ nhưng không phải là người bản xứ. Permanent resident nhưng là permanent alien resident!
Chúng ta sống trong thế gian này, nhưng không thuộc về thế gian. Nơi chốn, thời gian sinh sống trên đất này, tại nơi này nơi khác chỉ là tạm thời, trong một giai đoạn, sau đó chúng ta sẽ trở về quê hương đời đời trên thiên đàng.
Trong bài giảng trên núi ĐCJC dạy rằng môn đồ là muối của đất, là ánh sáng của thế gian, là cái thành xây trên ngọn đồi. Người tín đồ có trái TL là muối của đất, ánh sáng của thế gian, là cái thành xây trên ngọn đồi. Điều này có nghĩa là gì? Chúng ta cần phải có quan hệ, làm bạn, kết thân, phải sinh sống, làm ăn buôn bán, sinh con đẻ cái, lấy chồng vợ nơi đang sinh sống. Phải nghĩ đến lợi ích của nơi mình đang sống và của những người chung quanh: Hãy mưu cầu hòa bình thịnh vượng cho thành nơi Ta sai các ngươi đến sống trong thân phận kẻ lưu đày. Hãy cầu nguyện với CHÚA cho thành ấy
Qv có nghĩ phải chăng ngẫu nhiên mà ĐCT đặt qv và tôi sinh sống tại thành phố này hay không? Dĩ nhiên không. Như ngày xưa ĐCT dùng vua Nê-bu-cát-nê-xa và những biến cố xã hội, thời sự để đem dân Chúa sang Babylon, thì ngày nay cũng không phải ngẫu nhiên mà hằng triệu người VN đang sinh sống tại HK, Úc, Canda… Tất cả những điều này đều nằm trong ý chỉ và dự tính của ĐCT. Không có tình hình thời sự, chính trị, kinh tế; không một biến cố lịch sử nào ngạc nhiên Chúa cả.
KT xác định rat rõ trong CV 17:26-27: Từ một người, Ngài dựng lên tất cả các dân tộc trong nhân loại cho họ ở khắp mặt địa cầu, định thời gian ấn định và biên giới cho họ cư trú, 27 để tìm kiếm Đức Chúa Trời, may ra có thể dò dẫm mà tìm được Ngài, dù Ngài không ở xa mỗi người trong chúng ta.
Chúa đặt để tôi và qv đến Albuquerque cũng như Ngài đặt để dân sự ngày xưa tại Babylon với mục đích: để dân nghe, biết, hiểu và tin ĐCT, để đem lại tin lành, tin mừng về sự cứu rỗi qua ĐCJC. Chúa muốn tất cả con dân Chúa phải sống trong vòng dân ngoại để làm muối, là ánh sáng, là cái thành trên núi, để làm chứng về Ngài cho họ.
Con dân Chúa thường có hai thái độ sai lầm: 1) Cách ly, 2) Đồng hóa. Chúng ta sẽ nói về sự đồng hóa trong phần tới. Cách ly bằng cách tránh giao tiếp với những người không cùng đức tin. Hoặc trong lòng có sự khinh khi, tự nghĩ họ là những người cần tránh để giữ cho đời sống thánh khiết, trong sạch. Nếu chung đụng sẽ bị ô uế, dơ bẩn!
KT dạy: Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. 14 Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Nếu chẳng ai rao giảng, thì nghe làm sao? 15 Lại nếu chẳng ai được sai đi, thì rao giảng thể nào? Như có chép rằng: Những bàn chân kẻ rao truyền tin Lành là tốt đẹp biết bao! (Rô-ma 10:13-15)
Đọc đoạn KT qv chắc thường nghĩ về những giáo sĩ đi đến xứ xa để truyền bá Tin Lành. Có bao giờ qv nghĩ rằng ĐCT đặt để qv tại thành phố này để rao giảng TL hay không? Ai nói không? Tại sao không? Qua lời KT dạy tôi nói với qv rằng ĐCT đã đặt để chúng ta tại đây, nơi này với một mục đích như ngày xưa Ngài đã để dân sự bị lưu đày sang Babylon với một mục đích. Qv và tôi có trách nhiệm sinh sống, làm việc, lập gia đình, sinh con, cho phước lợi của nơi chúng ta đang sống. Có trách nhiệm cầu nguyện cho nơi chúng ta đang sống. Và phải giao tiếp, tạo quan hệ, gặp gỡ, làm bạn với người chưa biết Chúa để nói về TL với họ. Đây chính là mục đích, là ý chỉ của ĐCT cho tôi và qv khi Ngài đặt để chúng ta trên xứ này, nơi thành phố này.
Qv có biết rằng con dân Chúa ngày xưa cũng đã đến sinh sống tại thành phố Babylon và lập một hội thánh tại đó? Hội thánh của các người được chọn, tại thành Ba-by-lôn, chào anh em, con tôi là Mác cũng vậy. (1 Phi-e-rơ 5:13)
CHỚ BỊ ĐỒNG HÓA: SỐNG TRONG THẾ GIAN, NHƯNG KHÔNG THUỘC VỀ THẾ GIAN
Thật vậy trong KT TU, thành Jerusalem tượng trưng cho thành thánh, nước Chúa, còn Babylon tượng trưng cho thành loài người, nước con người. Hai hình ảnh này tương phản với nhau như ngày và đêm, trắng với đen. Một vị thiên sứ khác, là vị thứ hai, theo sau mà rằng: Ba-by-lôn lớn kia, đã đổ rồi, đã đổ rồi, vì nó có cho các dân tộc uống rượu tà dâm thạnh nộ của nó. (KH 14:8);
Thành phố lớn bị chia ra làm ba phần, còn các thành của các dân ngoại đều đổ xuống, và Đức Chúa Trời nhớ đến Ba-by-lôn lớn đặng cho nó uống chén rượu thạnh nộ Ngài. (16:19);
Người [thiên sứ] kêu lớn tiếng rằng: Ba-by-lôn lớn đã đổ rồi, đã đổ rồi! Thành ấy đã trở nên chỗ ở của các ma quỉ, nơi hang hố của mọi tà thần, hang hố của mọi giống chim dơ dáy mà người ta gớm ghiếc, 3 vì mọi dân tộc đều uống rượu dâm loạn buông tuồng của nó, vì các vua thế gian đã cùng nó phạm tội tà dâm, và vì các nhà buôn trên đất đã nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó. 4 Tôi lại nghe một tiếng khác từ trên trời đến rằng: Hỡi dân ta; hãy ra khỏi Ba-by-lôn, kẻo các ngươi dự phần tội lỗi với nó, cũng chịu những tai họa nó nữa chăng (KH 18:2-4)
Đây là hình ảnh của thế gian trong thời sau rốt, đầy dẫy tội ác, thờ tà thần, con người ích kỷ, độc ác, chỉ biết sống cho mình. Một thế gian như trong ngày Nô-a, hay như hai thành Sô-đôm, và Gô-mê-ra với tội loi ngập trời cao thấu đến ĐCT và đã chín mùi cho sự phán xét, cho cơn thạnh nộ và sự hủy diệt của Chúa. Nhưng Babylon trong thư Giê-rê-mi gởi cho những người bị giải sang xứ đó chưa đến mức như vậy. Nói cách khác Babylon trong thư Giê-rê-mi có thể tượng trưng cho xã hội, thế giới hôm nay, tượng trưng cho thành phố Sài Gòn, thành phố Dallas, Albuquerque nơi chúng ta sinh sống.
KT cũng dạy trong Giăng 15:19 rằng chúng ta sống dù trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Dân sự dù được ra lệnh ở lại Babylon, sinh hoạt, làm lợi ích cho thành phố, cho những người sinh sống trong thành phố, nhưng quê hương thật sự của họ vẫn là Giê-ru-sa-lem. Và đến đúng thời điểm Chúa định 70 năm sau, Ngài sẽ đem họ trở về quê hương.
Nói cách khác, người tin Chúa không cách ly khỏi nơi mình sinh sống như cũng không để nơi đó đồng hóa mình. Người có trái TL không xa cách mọi người nhưng không sống giống như mọi người, ai sao mình vậy!
Xã hội hôm nay sống thế nào?
Tôi trước hết, nhu cầu của tôi, sở thích, ý muốn của tôi trước hết. Không một quan hệ nào lâu dài nếu cả hai bên đều nói me first. Người có trái TL là người học nói, học để ĐCT trước hết và người chung quanh kế. God, you first; my wife, you first!
Đặt các thần khác trên ĐCT. Thần gì? Tiền của, địa vị, sắc đẹp, danh vọng, học thức, bằng cấp. Tự những điều này không có gì sai cả. KT dạy lòng ham mê tiền bạc là nguồn cội của mọi điều ác.
PL dạy thế này: Đừng rập khuôn theo đời này, nhưng hãy được biến hóa bởi sự đổi mới tâm trí, để thử nghiệm cho biết ý định tốt lành, trọn vẹn và đẹp lòng Đức Chúa Trời. 3 Vì nhờ ân sủng Chúa ban cho tôi, tôi xin nói với mỗi người trong anh chị em: Đừng nghĩ về mình cao quá, nhưng hãy bình tâm suy nghĩ, đúng theo lượng đức tin Đức Chúa Trời đã ban phát cho mình. (Rô-ma 12:2-3 – BDM)
Khi giá trị, ý nghĩ, quan điểm sống của đời này quá xa Chúa thì người tin Chúa phải làm gì? Làm theo lời Chúa dù người đời có sống thế nào đi nữa. Không phải với thái độ của người anh hùng tử đạo, hay của một thánh nhân từ trên cao nhìn xuống, nhưng với sự khiêm nhường, lòng nhân ái, trong tình yêu thương. Lắm khi tín đồ bị chỉ trích vì chính thái độ cao ngạo, lời nói thiếu suy nghĩ, thiếu ân hậu. Lúc đó qv không chịu khổ cho Chúa, nhưng bị khổ vì chính sự dại ngờ, kiêu hảnh của bản thân!
Không để mình bị đồng hóa bởi thế gian có nghĩa là đứng vững trong đức tin dù có khi phải trải giá đắt. Dù ai nói ngã nói nghiêng, lòng ta van vững như kiền ba chân.
LÀM KHÂM SAI CỦA CHÚA
Qv và tôi không chỉ là thường trú nhân nơi mình đang sinh sống. Nhưng Chúa còn gọi chúng ta làm khâm sai, sứ giả, đại sứ cho Ngài.
Khâm sai là gì? Khâm sai là một từ xưa theo Hán ngữ có nghĩa là chức quan, hay người đại diện cho vua, được vua phái đi để làm một nhiệm vụ đặc biệt và quan trọng. Không phải ai cũng được làm khâm sai bởi vì đây là một chức quan hết sức quan trọng, đại diện cho vua, cho đất nước để hoàn thành một trách nhiệm khó và lớn. Người được vua phong chức khâm sai phải là người trung tín, nghĩa khí, can đảm, hiểu biết, và có tài ngoại giao.
Bản dịch mới và 2011 thay từ khâm sai với từ đại sứ. Đại sứ là người được tổng thống đề cử, quốc hội chấp thuận vì là người đại diện cho cả một quốc gia để giữ quan hệ ngoại giao với một quốc gia khác. Nếu làm khâm sai hay đại sứ cho Đấng Christ, thì chắc chắn người đó phải có lời Chúa, hiểu rõ lời Chúa, và dĩ nhiên phải có trái TL.
Đây là một chức vụ cao quí nhưng rất khó khăn. Chúng ta thử nghĩ về điều kiện của một khâm sai, đại sứ và liên hệ với người tín đồ đầy dẫy TL
Đại diện cho vua, cho quốc gia. Sống trong xứ người để nói về xứ mình. Sống trong xứ người để giúp cho dân trong xứ đó hiểu về những điều tốt đẹp của xứ mình. Nếu có bất hòa, xung đột, đại sứ là người tìm cách để hòa giải hai quốc gia, là nhịp cầu giữa 2 đất nước. Người có trái TL phải là người đại diện đáng kính trọng cho ĐCT, cho nước Chúa. Sống nơi xứ người nhưng thuộc về xứ mình: sống trong thế gian nhưng quê hương thật là thiên đàng. Vua chúng ta đại diện là Đấng Christ chứ không phải của các thần trong thế gian này: thần vật chất, sắc đẹp…
Đáng tin cậy, khéo léo, cẩn thận trong lời nói, cách cư xử. Thông thạo ngôn ngữ xứ người. Hiểu biết phong tục, tập quán nhưng hơn hết phải hiểu biết rõ ý chí của vua phái đi và trách nhiệm trên vai.
Khâm sai phải hòa hợp với mọi người, vì lợi, vì danh của Chúa mà nhượng quyền lợi cá nhân. Chứ không khăn khăn giữ quyền lợi của riêng mình. Như PL dạy:
Vả, tôi đối với ai vẫn cũng là được tự do, mà tôi đành phục mọi người, hầu cho tôi được nhiều người hơn. 20 Với người Giu-đa, tôi ở như một người Giu-đa, hầu được những người Giu-đa; với những người dưới quyền luật pháp, (dầu chính tôi chẳng ở dưới quyền luật pháp), tôi cũng ở như kẻ dưới quyền luật pháp, hầu được những người dưới quyền luật pháp; 21 với những người không luật pháp, (dầu đối với Đức Chúa Trời tôi không phải là không luật pháp, vì tôi ở dưới luật pháp của Đấng Christ), song tôi cũng ở như người không luật pháp. 22 Tôi ở yếu đuối với những người yếu đuối, hầu được những người yếu đuối; tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người, để cứu chuộc được một vài người không cứ cách nào. 23 Mọi điều tôi làm, thì làm vì cớ Tin Lành, hầu cho tôi cũng có phần trong đó. (1 Cô-rinh-tô 9:19-23)
Ðây là nội dung bức thư của Tiên Tri Giê-rê-mi-a gởi từ Giê-ru-sa-lem đến các vị trưởng lão còn sống giữa vòng những người bị lưu đày, cùng gởi đến các tư tế, các tiên tri, và toàn dân đã bị Nê-bu-cát-nê-xa bắt phải rời khỏi Giê-ru-sa-lem đem lưu đày ở Ba-by-lôn. 2 Thư nầy được gởi đi sau khi Vua Giê-cô-ni-a, thái hậu, các thái giám, các lãnh tụ của Giu-đa và Giê-ru-sa-lem, các chuyên viên các ngành, và các kỹ thuật viên kim khí đã rời khỏi Giê-ru-sa-lem. 3 Thư nầy do tay Ê-la-sa con của Sa-phan và Ghê-ma-ri-a con của Hinh-ki-a, hai sứ giả do Xê-đê-ki-a vua Giu-đa sai đến Ba-by-lôn để gặp Nê-bu-cát-nê-xa vua Ba-by-lôn, mang đi. Thư ấy viết rằng:
4 “CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán với tất cả những kẻ đã bị lưu đày, tức với những kẻ Ta đã để cho bị bắt đi khỏi Giê-ru-sa-lem mà đem lưu đày ở Ba-by-lôn, như thế nầy, 5 ‘Hãy xây nhà và ở. Hãy trồng cây và ăn trái. 6 Hãy cưới vợ và sinh con đẻ cái. Hãy cưới vợ cho con trai và gả chồng cho con gái để chúng cũng sinh con đẻ cái. Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều trong xứ ấy và đừng để bị giảm thiểu đi. 7 Hãy mưu cầu hòa bình thịnh vượng cho thành nơi Ta sai các ngươi đến sống trong thân phận kẻ lưu đày. Hãy cầu nguyện với CHÚA cho thành ấy, vì sự hòa bình thịnh vượng của thành ấy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự bình an thịnh vượng của các ngươi,’ 8 vì CHÚA các đạo quân, Ðức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên, phán, ‘Chớ để các tiên tri và bọn giải mộng đoán mò sống giữa các ngươi lừa gạt các ngươi. Chớ tin vào những điềm chiêm bao là những điều các ngươi mơ ước rồi nằm mơ mà thấy, 9 vì bọn đó đã nhân danh Ta nói với các ngươi những lời dối trá. Ta không hề sai chúng,’ CHÚA phán.
10 Vì CHÚA phán thế nầy, ‘Khi thời hạn bảy mươi năm bị lưu đày ở Ba-by-lôn mãn, Ta sẽ thăm viếng các ngươi. Ta sẽ làm thành lời Ta đã hứa với các ngươi, và Ta sẽ đem các ngươi trở về xứ nầy.’ 11 CHÚA phán, ‘Vì Ta biết rõ các chương trình Ta sẽ làm cho các ngươi, đó là các chương trình làm cho các ngươi được bình an thịnh vượng chứ không phải bị tổn hại, hầu ban cho các ngươi một hy vọng và một tương lai. 12 Bấy giờ các ngươi sẽ kêu cầu Ta, và khi các ngươi đến và cầu nguyện với Ta, Ta sẽ nhậm lời cầu xin của các ngươi. 13 Các ngươi sẽ tìm kiếm Ta và các ngươi sẽ tìm được, khi các ngươi tìm kiếm Ta hết lòng.
