Trái Thánh Linh – Được Gặp Đấng Nhân Từ
Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ: không có luật pháp nào cấm các sự đó. (Ga-la-ti 5:22-23)
Một câu hỏi: Có ai trong số qv tại đây gặp được một người hết sử nhân từ, tử tế, dịu dàng, mềm mại, kiên nhẫn đến nỗi thay đổi suy nghĩ, thái độ sống của qv, và khiến qv tự nói với chính mình: tôi sẽ cố được như người đó. Trong cuộc đời tôi, Chúa đã cho tôi gặp được một số người như vậy. Nhưng người đầu tiên thay đổi cuộc đời tôi (và chắc chắn cuộc đời của qv) chính là ĐCJC. Dĩ nhiên khi nói về ĐCJC, tôi muốn nói về Đấng đã xuống thế, hiện thân làm người để cứu tội chúng ta. Cuộc đời của ĐCJC là thể hiện rõ nhất, tốt nhất, cao nhất của người có trái Thánh Linh trong đời sống.
Chúng ta sẽ tiếp tục loạt bài về trái TL với trọng tâm tuần này về nhân từ. Dù đã giải thích trong các bài giảng trước, tôi cũng xin lập lại là từ trái trong Ga-la-ti 5:22-23 là từ số ít: một trái với nhiều phẩm tính khác nhau. Vậy lòng nhân từ không thể tách rời khỏi tình yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ.
Đoạn KT đọc từ trong Giăng 4, một câu chuyện quen thuộc về cuộc gặp gỡ của ĐCJC với một người phụ nữ Sa-ma-ri nơi giếng nước lúc giữa trưa.
Nhân từ là gì? Nhân từ là tử tế, hiền hậu, có lòng thương người, có lòng thương xót với người dù không liên hệ, thậm chí xa lạ. Thông thường khi nghĩ về nhân từ chúng ta thường nghĩ về người Sa-ma-ri nhân lành trong chuyện ngụ ngôn ĐCJC kể trong Lu-ca 10:30-37. [Câu chuyện của một mục sư thấy một con vật bị kẹt đầu trong hộp muốn cứu. Khi đến gần mới biết ra là con chồn hôi! Có lẽ ông cần cầu nguyện rất nhiều trước khi cứu con chồn hôi này!]
Trong BGTN, ĐCJC dạy nếu chúng ta chỉ đối xử tốt với người mình thương, mình thích, người cùng máu mủ, trong gia đình thì chẳng khác gì người ngoại: Nếu các ngươi yêu những kẻ yêu mình, thì có được thưởng gì đâu? Những kẻ thâu thuế há chẳng làm như vậy sao? Lại nếu các ngươi tiếp đãi anh em mình mà thôi, thì có lạ gì hơn ai? Người ngoại há chẳng làm như vậy sao? (Matt 5:46-47) Vậy KT dạy sự nhân từ phải thể hiện cả đối với những người chúng ta không thích, không mến.
Ba điều muốn chia sẻ qua đoạn KT này: 1) Năm hàng rào ngăn trở nhân từ; 2) Tính hạnh của nhân từ: tha thứ, đón nhận và cơ hội mới; 3) Đối xử với nhau cách nhân từ
NĂM HÀNG RÀO NGĂN TRỞ
v3-4: Ngài rời miền Giu-đê và trở lại miền Ga-li-lê. Ngài cần phải đi qua miền Sa-ma-ri. Vì hai giống người Do Thái (Giu-đa) và Sa-ma-ri ghét nhau nên thường người DT cố tránh đi qua miền Sa-ma-ri khi đi từ miền Nam (Giu-đê, Giê-ru-sa-lem) lên miền Bắc (Ga-li-lê). Trái lại ĐCJC chủ ý đi ngang qua miền này. Lý do gì? Dù KT không nói rõ nhưng chúng ta có thể biết một trong những lý do là để cứu dân Sa-ma-ri, bắt đầu với cuộc gặp gỡ người đàn bà nơi giếng nước.
v6: Vì đi đường mệt mỏi, nên Ðức Chúa Jesus ngồi nghỉ bên giếng. Lúc ấy vào khoảng mười hai giờ trưa. Đây là một điểm đáng chú ý. Khi mệt mỏi thường qv làm gì? Muốn nghĩ ngơi, không muốn tiếp xúc với ai cả. Khi mệt có người trở nên cau có, quạo quọ, mau nóng giận, thiếu kiên nhẫn. Trái lại ĐCJC bày tỏ lòng nhân từ, sự kiên nhẫn, tử tế, mềm mại đối với người phụ nữ Sa-ma-ri đang lúc mệt mỏi.
[Ví dụ: chuyến bay sáng sớm lúc 5:30am, chỉ muốn có chỗ rộng rãi để ngủ, có chỗ để chân nhưng lại có người vào ngồi ghế giữa. Lòng không vui trong mấy phút. Sau đó được Chúa nhắc nhở]
v7: Một bà người Sa-ma-ri đi ra lấy nước. Ðức Chúa Jesus nói với bà, “Xin cho Ta uống ít nước.” Lúc đó các môn đồ Ngài đã vào trong thành để mua thức ăn. 9 Người đàn bà Sa-ma-ri trả lời Ngài, “Làm sao ông, một người Do-thái, lại hỏi tôi, một phụ nữ Sa-ma-ri, để xin nước uống?” (Số là người Do-thái không giao thiệp với người Sa-ma-ri). Để bắt đầu cuộc trò chuyện, ĐCJC hỏi xin nước uống. Khi hỏi xin nước uống từ người phụ nữ này, ĐCJC tự hạ mình xuống để bày tỏ một nhu cầu mà bà có thể giúp cho. Nhân từ thật sự phải được thể hiện với lòng khiêm nhường, chân thành. Khi một người xem mình cao trọng hơn người khác thì làm sao có thể gọi là nhân từ; phải gọi là thương hại!
Lý do gì bà lấy nước lúc giữa trưa? Vì muốn tránh những phụ nữ khác trong làng. Chú ý cuối đoạn 3 và đoạn 4 này là 2 câu chuyện về 2 cuộc gặp gỡ với Chúa của Ni-cô-đem và người phụ nữ Sa-ma-ri. Hai nhân vật trong 2 câu chuyện này hoàn toàn tương phản nhau:
Có tên trái với không tên
Học thức, chức vị, giàu sang trái với không chức vị, nghèo nàn
Được mọi người kính nể, người cai trị trong dân, vị nể trái với bị mọi người xem thường, xa lánh
Đến ban đêm trái với gặp lúc giữa trưa
Phải tái sanh trái với nhận nước hằng sống
Tưởng tượng nếu những người như Ni-cô-đem gặp gỡ người phụ nữ này thì thái độ, lời nói của họ thế nào? Thường thì khi một người có quyền chức, địa vị, bằng cấp, tài sản đối với một người thường dân, bị xa lánh vì tội, không học thức cao, nghèo khó thế nào? Dễ sẵn giọng, lớn tiếng, thiếu kiên nhẫn, ra lệnh. Nhân từ, tử tế, kiên nhẫn, mềm mại là điều khó xảy ra!
Những điều ghi lại bởi sứ đồ Giăng về hai cuộc gặp gỡ này cho thấy rất rõ rằng ĐCJC đối xử với người phụ nữ Sa-ma-ri cách nhân từ, mềm mại, kiên nhẫn hơn Ni-cô-đem. Với Ni-cô-đem Chúa bảo phải tái sinh và giải thích ý nghĩa về sự tái sinh. Với người phụ nữ Sa-ma-ri, Chúa mở lời xin nước, ngõ lời ban cho nước hằng sống.
Tương phản giữa ĐCJC và người phụ nữ Sa-ma-ri:
ĐCJC là nam; người Chúa xin nước là phụ nữ. Phụ nữ không được xem trọng. Lời chứng không giá trị. Giá trị chỉ bằng 1/2 nam giới. Trọng nam khinh nữ là việc bình thường trong xã hội bấy giờ.
ĐCJC là người Do Thái; người Chúa xin nước là Sa-ma-ri. Khi thủ đô xứ Y-sơ-ra-ên (miền Bắc) bị quân A-sa-ri chiếm đoạt. Họ để lại một số người dân nghèo khó, ít học ở lại và đem dân A-sa-ri vào ở. Những người ở lại lập gia đình cùng người A-sy-ri và người Ca-nan sinh ra người Sa-ma-ri. Họ tin rằng nơi thờ phượng là núi Ga-ri-xim (núi phước hạnh – Giô-suê 8:33): Tổ phụ chúng tôi đã thờ phượng trên núi nầy, còn quý ông lại bảo Giê-ru-sa-lem mới là nơi phải đến thờ phượng (4:20)
ĐCJC là người hoàn toàn thánh khiết; người Chúa xin nước là người có 5 đời chồng và đang sống với một người không phải là chồng.
ĐCJC là người được nhiều người đi theo, ngay cả Ni-cô-đem, thành viên của toàn Công Luận cũng đến gặp Chúa; người Chúa xin nước là người bị mọi người né tránh, phải ra lấy nước giếng lúc giữa trưa khi không có ai ở giếng.
Vì lòng nhân từ, tình yêu thương mà Chúa phá bỏ hàng rào của:
1) Thành kiến - nam: đáng tin cậy; nữ: không đáng tin! Do Thái vs Sa-ma-ri; nam nữ không trò chuyện nơi công cộng
2) Giới tính (nam nữ);
3) Chủng tộc, giống người, màu da;
4) Giai cấp, tầng lớp, quyền thế, chức vị. Vì bởi đức tin trong Ðức Chúa Jesus Christ, tất cả anh chị em là con cái của Ðức Chúa Trời. 27 Vì hễ ai đã được báp-têm vào trong Ðấng Christ đều được mặc lấy Ðấng Christ. 28 Không còn phân biệt chủng tộc Do-thái hay Hy-lạp, không còn phân biệt giai cấp nô lệ hay tự do, không còn phân biệt phái tính nam hay nữ, vì tất cả anh chị em đều là một trong Ðức Chúa Jesus Christ (Ga-la-ti 3:28 – BD2011)
5) Quan điểm đạo đức – Rô-ma 3:23: vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời; Rô-ma 5:8 Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết. Con người thường so sánh đạo đức nhưng dưới mắt ĐCT mọi người đều là tội nhân cần được cứu. Nếu so sánh thì Ni-cô-đem đạo đức hơn người phụ nữ này. Nhưng Chúa vẫn bảo ông cần phải được tái sanh cho dù đạo đức, công chính đến mấy.
Dưới chân thập giá, đất bằng phẳng cho mọi người. Những hàng rào này khiến người bên đây kiêu hãnh nhìn người bên kia nếu không thương hại thì chế diễu, hạ thấp. Trong BGTN ĐCJC dạy người theo Chúa phải là muối và ánh sáng. Cả hai hình ảnh này đều vừa thu hút, hấp dẫn, nhưng đồng thời cũng gây khó chịu, tổn thương. Muối giúp cho thịt lâu hư, có tính sát trùng, khi thoa vào vết thương làm cho đau đớn. Nhưng muối cũng được dùng hằng ngày trong mọi thức ăn để tăng thêm khẩu vị của thức ăn. Thử nghĩ nếu thức ăn nào cũng thiếu muốn thì còn gì là ngon miệng! Nhiều tín hữu nghĩ về muối không phải với ý để đem lại hương vị cho thức ăn, để giữ cho thịt thà lâu hư nhưng với ý tự hào rằng muối của tôi đã chà lên bao nhiêu vết thương, không phải để làm cho lành, nhưng để làm cho đau, cho rát. Hay nghĩ về muối với ý rằng thế gian này, người chưa biết Chúa như thức ăn nhạt, như thịt sẽ hư. Nếu thật sự là muối, thì chúng ta phải là người đem lại sự hòa thuận, sự hàn gắn, đem đến lòng nhân từ, sự tử tế, sự kiên nhẫn, tha thứ, mềm mại, hiền lành, tức mọi phẩm tính của trái Thánh Linh.
Làm sao hội thánh, tín đồ có thể bày tỏ lòng nhân hậu với người chưa biết Chúa nếu chúng ta chỉ biết lên án, kết tội, chỉ trích thay vì kiêm nhường, mềm mại, nhẫn nhịn để giải thích về tin lành? Thay vì làm cho lành vết thương chỉ muốn làm cho đau thêm?
Tôi tin KT dạy mục đích chính yếu của hội thánh Chúa, của người tin Chúa không phải để chỉ ra cho thế gian, cho người chưa tin Chúa rằng “thế gian này, xã hội này, người không tin Chúa là tội lỗi, sẽ bị trừng phạt đời đời nơi địa ngục” Nhưng để rao giảng Tin Lành về sự tha thứ, cứu chuộc tội lỗi, về đời sống mới trong sự dạy dỗ của ĐTL, về hội của những tội nhân cố học hỏi, thay đổi để trở nên như ĐCJC.
Hội thánh Chúa tại đây phải là nơi phá bỏ những hàng rào trên. Ấn tượng gì khi một người chưa bao giờ nghe về ĐCJC bước vào hội thánh, khi gặp gỡ, tiếp xúc một người môn đồ Chúa? Phán xét, lên án, chỉ trích hay chấp nhận, thương yêu, nhân từ, tha thứ? Mỗi qv đây muốn nhận được điều gì? Hội thánh, tín đồ phải là trái ngọt thay vì là trái chua, trái đắng.
TÍNH HẠNH CỦA NHÂN TỪ - THA THỨ, ĐÓN NHẬN VÀ CƠ HỘI MỚI
10 Ðức Chúa Jesus trả lời và nói với bà, “Nếu bà biết tặng phẩm của Ðức Chúa Trời và biết người nói với bà, ‘Xin cho Ta uống ít nước’ là ai, có lẽ bà sẽ hỏi Người ấy, và Người ấy sẽ cho bà nước hằng sống.” 11 Bà ấy nói với Ngài, “Thưa ông, ông không có gàu, còn giếng thì sâu. Vậy ông lấy đâu ra được nước hằng sống ấy? 12 Không lẽ ông lớn hơn tổ phụ Gia-cốp của chúng tôi, người đã để lại cho chúng tôi giếng nầy, mà chính ông ta, con cháu ông ta, và các bầy súc vật của ông ta đã uống sao?” 13 Ðức Chúa Jesus trả lời và nói với bà, “Ai uống nước nầy sẽ khát lại,14 nhưng ai uống nước Ta cho sẽ không bao giờ khát nữa. Nước Ta cho sẽ thành một mạch nước trong người ấy tuôn ra đến sự sống đời đời.” 15 Người đàn bà nói với Ngài, “Thưa ông, xin cho tôi nước ấy, để tôi sẽ không khát và khỏi đến đây lấy nước nữa.”
Khi tiếp xúc với một người nhân từ chúng ta sẽ nhận được, kinh nghiệm được sự ngọt ngào. Thái độ, cách thức khi ban cho, khi giúp đở, khi dạy dỗ một người quan trọng không kém gì điều ban cho, giúp đở, dạy dỗ.
[Ví dụ về thái độ mình khi giúp cho Lan làm các tấm hình chụp cho hội thánh và bỏ lên mạng] Người nhân từ không kể công khó, kể về sự tốn kém, nhắc về giá của điều họ làm, giúp cho người.
v10: chú ý lời Chúa “tặng phẩm của ĐCT” “có lẽ bà sẽ hỏi người ấy” ĐCJC không lên giọng: bộ bà không biết ta là ai hay sao? Đến đây chúng ta mới hiểu được mục đích khi Chúa hỏi xin nước uống. Không phải chỉ để giải khát nhưng để bắt đầu câu chuyện và có dịp để ban cho người phụ nữ này nước hằng sống.
v13: Chúa rất kiên nhẫn, tử tế, mềm mại với bà. Ngài không trách móc: sao ngươi chậm hiểu quá vậy; Ta không nói về nước từ giếng này. Và bộ ngươi cũng không biết Ta thật lớn hơn tổ phụ Gia-cốp của ngươi sao? Trái lại Ngài tập trung vào vấn đề chính yếu, quan trọng hơn hết: Ai uống nước nầy sẽ khát lại,14 nhưng ai uống nước Ta cho sẽ không bao giờ khát nữa. Nước Ta cho sẽ thành một mạch nước trong người ấy tuôn ra đến sự sống đời đời.
Bao lần khi làm chứng chúng ta chỉ bị chi phối bởi những câu hỏi, những vấn đề phụ thuộc, không quan trọng rồi phật lòng, có khi trở nên nóng giận vì bị bát bỏ, chỉ trích. Dĩ nhiên không một người ngoại nào khi nghe lời Chúa một lần mà lại hiểu rõ cả; dĩ nhiên họ sẽ có những nghi ngờ, thậm chí có lời diễu cợt, mai mĩa.
Khi nói với bà về nước hằng sống, ĐCJC hàm ý nếu bà mở lòng ra để đón nhận món quà này, thì cuộc đời của bà sẽ thay đổi. Chúa sẽ tha thứ, đón nhận và ban cho cơ hội mới để ăn năn tội, để làm lại cuộc đời, để thay đổi đời sống.
Qv hỏi có gì khác giữa nước giếng và nước hằng sống Chúa ban? Người phụ nữ Sa-ma-ri vẫn phải ra giếng lấy nước cho bà, cho gia đình để nấu nướng, giặt giũ, tấm rữa, để uống mỗi ngày. Mọi người đều cần nước mỗi ngày; không ai chỉ uống một lần trong đời. Đây cũng là hình ảnh của những điều người đời luôn tìm kiếm trong đời sống để thỏa mãn thể xác, để tìm mục đích, ý nghĩa.
Với một số tìm trong cuộc đời cuồng loạn, trác tán, trong những cuộc vui thâu đêm, những thỏa mãn xác thịt. Nhưng rồi khi sáng đến, khi thức dậy nỗi chán chường, cô đơn vẫn đến. Vì vậy mà họ phải tiếp tục. Một số khác tìm trong đời sống đạo đức, trong việc làm từ thiện. Rồi khi thực tế phủ phàng xảy đến, khi bị người mình giúp trở mặt thì lại trở nên thất vọng, chán nản, hoài nghi đời và người. Một số tìm trong việc làm, trong sự cố gắng trở nên thành công, giàu có. Tất cả nước uống đó rồi cũng làm cho người khát lại. Không bao giờ đủ thỏa mãn, đủ việc thiện, đủ thành công, đủ giàu có, đủ danh vọng.
Nhưng ĐCJC không nói về nhu cầu thể xác, về đời sống này mà về nhu cầu tâm linh, về đời sống vĩnh hằng sau này. Có ai lại không khao khát, mong mỏi tìm được ý nghĩa, mục đích cho cuộc đời, đều muốn biết tại sao mình sinh ra đời này rồi chết rồi sẽ về đâu? Tất cả đều khắc khoải, mơ ước nhận được một tình yêu vô điều kiện, được sự nhân từ, tha thứ, được bảo đảm tuyệt đối. Nước hằng sống Chúa ban sẽ đem lại sự ngọt ngào cho đời sống tâm linh vì đem đến ý nghĩa, đem đến tình yêu thương, lòng nhân từ của ĐCT cho đời sống người tin nhận Ngài.
Không còn khát có nghĩa là ĐCJC chính là ngôi sao mai trong đêm giúp nhận ra phương hướng; là hòn đá tảng từ đó tất cả các viên đá khác trong đời dựa theo đó mà đặt; là tảng đá phủ che, nơi ẩn trú trong cơn giông bão; là cái neo vững chắc của linh hồn trước những sóng gió, ba đào, bão táp trong biển đời. Một bài thánh ca có lời: Dầu ai ai tranh giàu sang thế gian, có Jesus phần tôi thỏa rồi. Cuộc vinh hoa như phù vân chóng tan, đức yêu thương còn đến đời đời.
15 Người đàn bà nói với Ngài, “Thưa ông, xin cho tôi nước ấy, để tôi sẽ không khát và khỏi đến đây lấy nước nữa.” 16 Ðức Chúa Jesus nói với bà, “Hãy đi, gọi chồng bà đến đây.” 17 Người đàn bà trả lời và nói, “Tôi không có chồng.”Ðức Chúa Jesus nói với bà, “Bà nói, ‘Tôi không có chồng’ là đúng lắm,18 vì bà đã có năm đời chồng, còn người bà hiện đang chung sống không phải là chồng bà. Ðiều bà nói thật đúng lắm.”
Ai nghĩ rằng trong số mọi người Chúa có thể ban cho nước hằng sống này, Ngài lại chọn người phụ nữ Sa-ma-ri có 5 đời chồng này? Vì lòng nhân từ ĐCJC dù biết bà có một quá khứ và hiện tại tội lỗi, Chúa tha thứ, đón nhận, và cho bà một cơ hội mới. Nếu Chúa đã tha thứ cho người phụ nữ này, cho tôi và qv thì tại sao chúng ta lại không thể tha thứ cho người trong gia đình, hội thánh? [Câu chuyện ngụ ngôn ĐCJC kể trong Ma-thi-ơ 18:23-35 về người đầy tớ độc ác được chủ tha nợ 1000 ta-lâng (10 triệu) nhưng lại buộc nợ người (100 đơ-ni-ê (2000)]
Chú ý Chúa chỉ rõ cho bà về quá khứ và hiện tại tội lỗi của bà để ăn năn, thay đổi trước khi nhận nước hằng sống. Theo các học giả KT thì ĐCJC đều đối xử với sự mềm mại, nhỏ nhẹ, nhân từ, dịu dàng với tất cả các phụ nữ Ngài gặp gỡ. ĐCJC đã phá bỏ truyền thống, phong tục xã hội thời bấy giờ về thái độ đối với nữ giới. (Ngay cả ngày nay tại một số quốc gia Trung Đông, phụ nữ không được trò chuyện với nam giới ngay cả nơi công cộng)
Những tín hữu nam giới cần phải học gương Jesus mà đối xử với phái nữ với sự mềm mại, nhân từ. Người theo Chúa không thể chửi bới, mắng nhiếc, đánh đập vợ. Cũng không thể khinh dễ, coi thường, lớn tiếng với mẹ.
Tín hữu có lòng nhân từ cần đối với nhau như Chúa với người phụ nữ Sa-ma-ri: tha thứ, đón nhận, ban cho cơ hội để thay đổi. Đạo Chúa là đạo cho người có tội, chứ không phải cho người thánh. ĐCJC nói về nước hằng sống Ngài ban cho đang khi biết bà là người vẫn còn có tội, chứ không phải bảo bà về lập đám cưới rồi mới được nhận nước hằng sống. Nếu Chúa ban cho bà cơ hội mới để làm lại cuộc đời dù trong quá khứ đã có 5 đời chồng thì chúng ta là ai mà lại khăng khăng giữ tội của người thân trong gia đình, anh chị em trong hội thánh?
ĐỐI XỬ VỚI NHAU CÁCH NHÂN TỪ
1. Như ĐCJC đối với chúng ta, với người phụ nữ Sa-ma-ri và với tất cả các môn đồ. Không một người sứ đồ không vấp ngã, phạm tội. Chúa nhân từ tha thứ, hồi phục, và cho cơ hội mới để phục vụ. Nhân từ có nghĩa là cảm thông, kiên nhẫn, là cho cơ hội mới.
2. Như Áp-ra-ham đối với Lót khi ông và gia đình bị giặc bắt đi và cướp hết tài sản – STK 14:12-16 Khi Áp-ram hay được cháu mình bị quân giặc bắt, bèn chiêu tập ba trăm mười tám gia nhân đã tập luyện, sanh đẻ nơi nhà mình, mà đuổi theo các vua đó đến đất Đan.
Đừng ghìm lỗi người trong lòng mà không tha thứ. Khi họ đến, sẵn lòng đón nhận. Vì mình đã được Chúa ban cho nhiều cơ hội để ăn năn, thay đổi nên cũng phải cho anh chị em mình cơ hội. Hội thánh nhân từ là nơi mọi người nhận được sự yên ủi, động viên, khích lệ, được nâng đỡ khi vấp ngã, sang sẽ khi vui buồn, giúp đở khi khó khăn.
3. Như lời Chúa dạy trong Cô-lô-se 3:12-14: Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhân từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, 13 nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy. 14 Nhưng trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành.
