Tình Yêu Thương Trước Khi Sáng Thế
Thư Ê-phê-sô được viết bởi sứ đồ Phao-lô trong khoảng thời gian cuối đời khi bị giam tại thành La-mã. Đây là lý do thư Ê cũng được gọi là thư tín trong tù. Cũng trong thời gian này PL còn viết 3 thư khác là Cô-lô-se, Phi-líp và Phi-lê-môn.
Thư Ê chỉ gồm 6 đoạn ngắn và rất dễ nhận thấy có thể chia làm 2 phần. Phần 1 gồm đoạn 1-3; phần 2 từ 4-6. Đọc đoạn 1, chúng ta có thể thấy PL viết về những lời dạy vô cùng quan trọng, là nền tảng cho niềm tin của người Cơ Đốc, của Cơ Đốc Giáo, có thể gọi là giáo lý (doctrine) Quan trọng, cần thiết nhưng phức tạp, khó hiểu.
Trái lại phần 2 của thư gồm những lời dạy hết sức cụ thể và thực tế về rất nhiều vấn đề trong đời sống. Thư dạy chúng ta về hội thánh, về đời sống mới trong Chúa, về hôn nhân, gia đình, về công việc, về cuộc chiến tâm linh làm thế nào để có thể đứng vững trước những tấn công của ma quỉ. Đây là những vấn đề hết sức thực tế và cần thiết cho đời sống người tin Chúa.
Câu đầu tiên của đoạn 4 bắt đầu với từ Vậy. 4 bản dịch trong 6 bản dịch hiện đại đều bắt đầu bằng từ này ngoại trừ BPT và BDY. Vậy hay vì thế, vậy thì, vì lý do này (therefore). Khi đọc các thư tín của PL nếu qv thấy từ vậy hay vì thế thì nên dừng lại và xem lại những đoạn KT trước đó để biết lý do gì, nguyên nhân gì. Từ vậy của đoạn 4 cho biết những lời dạy cụ thể, thực tế trong đời sống tín đồ từ đoạn 4-6 hoàn toàn dựa vào những giáo lý quan trọng, nền tảng trong đoạn 1-3. PL dạy trong đoạn 1-3 về lý thuyết, và đoạn 4-6 về thực hành. Đời sống tín đồ, đời sống đạo hoàn toàn tùy thuộc vào những niềm tin, giáo lý, giáo điều Cơ Đốc quan trọng. Đúng vậy, giáo điều vô cùng quan trọng trong đời sống đạo của người Cơ Đốc. Hiểu sai sẽ làm sai, hiểu sai sẽ sống sai, hiểu sai sẽ đi sai đường, hiểu sai sẽ đi theo tiếng của ma quỉ.
Nhiều tín đồ nói rằng: tôi không cần lý thuyết chỉ cần biết Chúa muốn tôi sống thế nào, muốn tôi làm gì là đủ rồi. Có thật vậy không? Trong thư Cô-lô-se, PL dạy làm việc gì phải hết lòng mà làm như làm cho Chúa. Chúa dạy yêu kẻ thù mình. Tha thứ 70 lần 7. Chồng yêu thương vợ như Đấng Christ yêu thương và hy sinh cho HT. Những lời dạy cụ thể về những việc làm hoàn toàn không thể tách rời lời Chúa dạy.
Tôi chứng minh điều này với vài ví dụ. Qv đã biết về cuộc chiến tranh đang diễn ra tại xứ Do Thái (Y-sơ-ra-ên) với bọn khủng bố Hamas. Hiến chương đầu tiên của Hamas vào năm 1988 xác nhận mục đích chính yếu và quan trọng nhất là tiêu diệt và xóa sạch dân tộc và quốc gia Do Thái khỏi bản đồ thế giới để thiết lập một chính quyền theo chế thể Hồi Giáo. Chương Bảy của hiến chương có những lời sau đây: Phong trào Kháng chiến Hồi giáo (Hamas) mong muốn thực hiện lời hứa của Allah, bất kể điều đó sẽ mất bao lâu. Tiên tri (Mô-ha-mét), Allah ban phước cho người và ban cho người sự cứu rỗi, đã nói: “Ngày phán xét sẽ không đến cho đến khi người Hồi giáo chiến đấu với người Do Thái (giết người Do Thái). Khi người Do Thái sẽ trốn sau những tảng đá và cây cối, đá và cây sẽ nói: Hỡi người Hồi giáo, hỡi người Hồi giáo, có một người Do Thái đứng sau tôi, hãy đến và giết nó”.
Chính vì niềm tin, giáo lý này nên Hamas tìm đủ mọi cách để giết người Do Thái và lấy làm hãnh diện khi làm điều này. Một video thu lại một tên khủng bố Hamas gọi điện thoại về cho cha mẹ hắn để khoe con đã giết được 10 người Do Thái (Jews). Con đã trở nên người anh hùng rồi, con đã trở nên người anh hùng rồi!
Qv nghĩ niềm tin, giáo lý của Hamas có khiến cho những người tin giết người Do Thái không thương xót hay không? Dĩ nhiên. Chính vì họ tin rằng Allah và tiên tri Mô-ha-mét sẽ ban thưởng khi họ giết người Do Thái nên bằng mọi cách, dù bao lâu họ vẫn tiếp tục tàn sát Do Thái khi có cơ hội. Chiến tranh giữa Do Thái và Hamas đang xảy ra thật là một cuộc chiến tranh giữa hai niềm tin, hai ý thức hệ, hai nhân sinh quan. Cuộc chiến giữa Nga Sô và Ukraine cũng là một cuộc chiến tranh giữa hai niềm tin, hai giáo lý. Dù người vô tín (không tín ngưỡng) hay vô thần (không tin có trời) đã kích tôn giáo nhưng thật sự họ vẫn có những giáo lý, giáo điều, niềm tin căn bản, nền tảng, quan trọng.
Một điều rất sai lầm, thậm chí nguy hiểm là tín đồ nói rằng: tin gì cũng được miễn là sống cho tốt là được rồi. Đạo nào cũng đúng cả vì dạy mọi người ăn hiền, ở lành, làm việc tốt, tránh việc ác. Tượng trưng cho niềm tin này là tổng thống thứ 3 của HK Thomas Jefferson. Trong một lá thư gửi một người phụ nữ, ông viết: Tôi không bao giờ cố gắng thuyết phục người nào tin như tôi tin về ĐCT. Bởi vì không có gì quan trọng điều gì một người tin. Chỉ bởi đời sống và việc làm của tôi xác nhận về cuộc đời tôi, chứ không phải những điều tôi tin.
Sứ đồ PL qua thư Ê-phê-sô và nhiều thư tín khác nữa đều hoàn toàn tương phản với lời của tổng thống Jefferson. Dù vậy rất nhiều người hôm nay, và đáng buồn gồm cả một số tín hữu hoàn toàn tin vào lời và lý lẽ của Jefferson. PL dạy một người không thể sống thiện, sống tốt mà không dựa vào một căn bản của đức tin, một niềm tin, một giáo điều nào đó.
Suy nghĩ với tôi về lời của tt Jefferson. Khi ông nói không quan trọng gì về niềm tin miễn là sống tốt, sống thiện, thì chính lời này cũng là một niềm tin. Ông vừa làm một điều mà ông bảo tôi không nên làm là đừng cố gắng thuyết phục ai tin như tôi! Vì chính qua lời này ông cũng muốn thuyết phục người phụ nữ và những người đọc thư cũng tin như ông tin.
Hơn thế nữa nếu tôi hỏi: thưa tổng thống, thế nào là thiện, là tốt, tôi chắc ông sẽ giải thích thiện là yêu thương người quanh mình, tốt là giúp đở người quanh mình. Từ đâu mà ông có những ý nghĩ và niềm tin này? Từ KT. Bởi vì KT dạy qua lời của PL trong thư Rô-ma rằng chính ĐCT đã đặt luật pháp của Ngài vào lòng của con người và ban cho con người lương tâm để qua luật pháp nhận biết đúng sai, thiện ác, tốt xấu.
Nhưng thử nghĩ xem về 2 người cùng làm việc thiện, việc lành, việc tốt. Một người là TT Jefferson và một người là trùm bán thuốc cấm như Pablo Escoba. Escoba là trùm thuốc cấm tại xứ Columbia, Nam Mỹ. Khi hắn chết vào năm 1993, gia tài là $30 tỉ. Hắn dùng tiền bán thuốc cấm để giúp cho thành phố nơi lớn lên và giúp người nghèo. Đây là lý do đám tang hắn có 25,000 người dự! Chẳng phải cả hai người đều làm việc lành, việc thiện, việc tốt hay sao? Nhưng Jefferson tin vào luật pháp, vào hiến chương HK, vào luật vàng trong KT: làm cho người điều gì mình muống người làm cho mình. Còn Escoba tin gì? Chính Escoba là luật pháp, chính hắn định nghĩa đúng sai, phải quấy, thiện ác.
[tin rằng ông bà đã chết có thể phù hộ cho mình nên lập bàn thờ, cúng tế thức ăn]
Có thật niềm tin, giáo lý không cần thiết, quan trọng? Dĩ nhiên niềm tin, giáo lý dù ý thức hay không vẫn là nền tảng cho việc làm. Đây là lý do PL bắt đầu đoạn 4 với lời vậy để nhắc chúng ta rằng những niềm tin, giáo lý ông dạy trong đoạn 1-3 phải là nền tảng căn bản, chắc chắn để có thể sống làm theo lời dạy về nếp sống đạo của người Cơ Đốc.
Đời sống đạo của người tin Chúa là hiểu rõ giáo lý trong KT và áp dụng, thực hành những lời dạy đó. Không ai muốn xây dựng cuộc đời mình trên nền của sự lừa dối. Mọi người đều muốn cuộc đời mình xây trên nền của lẽ thật. Giáo lý hay niềm tin căn bản, nền tảng nhất là những viên gạch dùng để xây nền cho đời sống của một người, một gia đình, một dân tộc.
Hamas dùng lời của tiên tri Mô-ha-mét về người DT như nền tảng cho niềm tin của họ, của cả tổ chức là phải tàn xát, hũy diệt dân tộc DT và xóa sạch đất nước họ khỏi bản đồ thế giới.
Đời sống đạo của chúng ta phải dựa trên lẽ thật từ lời KT. Đây là lý do con cái Chúa học KT, nghe lời giảng dạy về KT. Đây là lý do PL căn dạy Ti-mô-thê khi làm mục sư của hội thánh tại thành Ê-phê-sô: Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật. (2 Ti-mô-thê 2:15).
Nếu đọc lời chú dẫn, đề tựa trong BTT, đoạn 1 có lời: Ý Đức Chúa Trời đã định đời đời về sự cứu thế gian bởi đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ. Đoạn 2 có lời: Loài người nhờ ơn Đấng Christ được cứu rỗi và được sống. Cả hai đề tựa này đều lên một ý: sự cứu rỗi trong ĐCT. Nhưng đoạn 1 theo ý ĐCT, tức theo ĐCT đối với con người. Và đoạn 2 theo cái nhìn, góc độ của con người về sự cứu rỗi. Vậy đoạn 1 giúp chúng ta hiểu về sự cứu rỗi theo cái nhìn, từ phía ĐCT; và đoạn về sự cứu rỗi theo quan điểm của con người.
Ê-phê-sô 1 là một đoạn KT rất khác với các thư tín khác của PL về văn tự. Trong bản cỗ bằng tiếng Hy-lạp thì từ câu 3-14 chỉ là một câu! Chúng ta biết không phải PL không biết hay vụng về trong cách dùng tiếng Hy-lạp. Bởi vì đến lúc này thì PL đã viết thư Rô-ma, một thư quan trọng nhất, nổi tiếng nhất, kiệt tác về giáo lý, về niềm tin Cơ Đốc.
Lý do PL viết chỉ 1 câu văn rất dài như vậy để giúp người đọc biết về nhiều điều lạ thường, mầu nhiệm ĐCT ban cho con người khi cứu tội trong ĐCJC. Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời (1:3). Mọi phước thiên được ban cho người tin Chúa đến bởi tình yêu thương của ĐCT từ trước khi sáng thế.
PL giải thích về các phước thiêng liêng trên trời trong đoạn 1 này từ câu 3-14 như được chọn để được thánh hóa (v4), được trở nên con nuôi của Ngài (v5), được cứu chuộc, được tha tội (v7), được ban cho ân điển (v7-8), được mọi thứ khôn ngoan thông sáng (v8), được biết sự huyền nhiệm của ý chỉ ĐCT (v9), được dự phần kế nghiệp [thừa hưởng cơ nghiệp] (v11), được nhận ĐTL như ấn chứng chắc chắn về sự cứu rỗi (v13-14).
Vậy trong đoạn 1 PL muốn cho chúng ta biết rằng sự cứu rỗi của con người hoàn toàn đến bởi ĐCT. Trong đoạn 1 PL cũng nói về thứ tự của sự cứu rỗi (order of salvation, ordo salutis). Thứ tự đó là gì? Đầu tiên PL nói về việc ĐCT chọn chúng ta từ trước khi sáng thế. Sau đó được cứu chuộc qua huyết của ĐCJC đổ ra trên thập giá. Rồi được tha thứ tội và nhận làm con trai, con gái ĐCT để được thừa hưởng cơ nghiệp trong Đấng Christ. Rồi cũng được bảo chứng qua sự ban cho của ĐTL vào đời sống. Rồi được thánh hóa và làm cho vinh hiển.
Thứ tự này cũng được PL viết trong thư Rô-ma 8:29-30: Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em; 30 còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển. [Tôi biết các giáo phái có những thứ tự hơi khác nhau, nhưng chúng ta sẽ tránh chẻ sợi tóc thành nhiều mảnh nhỏ!]
Trong đoạn 2 PL giải thích về tội lỗi, tội lỗi dẫn đến sự chết tâm linh nhưng được sống lại nhờ ân điển bởi đức tin. Đây là cái nhìn về sự cứu rỗi từ góc độ, quan điểm của con người. Sau đó về quan hệ của người được cứu với những người chung quanh. Bởi sự chết và cứu chuộc của ĐCJC, bức tường ngăn cách bởi thù nghịch được phá bỏ để người Giu-đa và người ngoại được hòa thuận.
Bài giảng hôm nay và tuần lễ tới sẽ tập trung về lời PL dạy trong câu 4-5 về được Chúa chọn và lý do gì ĐCT lại chọn: trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Christ, đặng làm nên thánh không chỗ trách được trước mặt Đức Chúa Trời, bởi sự thương yêu của Ngài đã định trước cho chúng ta được trở nên con nuôi của Ngài bởi Đức Chúa Jêsus Christ, theo ý tốt của Ngài.
Có người ví niềm tin về sự được chọn như một cục kẹo cứng. Cắn vào có thể mẻ răng. Nhưng nếu ngặm thì dần dần có thể nếm được vị ngọt ngào của kẹo. Khi mới nghe qua, niềm tin như làm mẻ răng, nhưng bên trong hết sức ngọt ngào.
Câu hỏi là tại sao có người tin Chúa, có người không tin Chúa, có người nhận đủ mọi phước thiêng liêng, có người không? Khi nghe câu hỏi này lập tức nhiều tín hữu sẽ trả lời bởi vì tôi tin nhận Chúa. Về quan điểm của con người, tôi hoàn toàn đồng ý với câu trả lời này. Tuy nhiên Ê-phê-sô 1 dạy về sự cứu rỗi từ quan điểm của ĐCT.
Tôi có nghe một người mục sư mà tôi và Lan cùng học KT với ông bà 30 năm trước giải thích thế này: Giả sử có một cổng thiên đàng. Trên cổng đó có bản chào mừng. Khi người tin Chúa từ thế gian bước vào cổng sẽ nhìn thấy bản có dòng chữ tôi chọn Chúa. Nhưng sau khi đi qua cổng và nhìn lại sẽ thấy bản có dòng chữ Chúa chọn tôi.
Lời dạy của sứ đồ PL trong 1:3 không phủ nhận sự cứu rỗi gồm cả quyết định tin Chúa của một người. Tuy nhiên câu hỏi là quyết định tin Chúa quan trọng nhất, đến trước sự lựa chọn của ĐCT hay sự lựa chọn của ĐCT quan trọng nhất và đến trước sự chọn lựa của con người. PL dạy và KT dạy: chỉ khi ĐCT chọn một người, người đó mới có thể chọn ĐCT. Tôi xin giải thích:
Theo quan điểm con người khi trở lại câu hỏi trên khi một tín hữu nói vì tôi tin Chúa, chúng ta có thể hỏi tiếp: tại sao anh chị tin Chúa, trong khi nhiều người khác không tin? Qv có thể trả lời: bởi vì tôi nhận mình là người có tội. Tôi hỏi tiếp: tại sao anh chị nhận mình có tin, trong khi nhiều người không nhận? Bởi vì tôi khiêm nhường? Tại sao anh chị có thể khiêm nhường nhưng người khác lại không?
Cuối cùng lý do anh chị tin Chúa là vì anh chị tốt hơn người khác, khiêm nhường hơn người khác. Nhưng điều này trái lại với lời PL dạy trong 1:3 hay như chính lời PL trong 1 Cô 15:10: Nhưng tôi nay là người thể nào, là nhờ ơn Đức Chúa Trời, và ơn Ngài ban cho tôi cũng không phải là uổng vậy. Trái lại, tôi đã làm nhiều việc hơn các người khác, nhưng nào phải tôi, bèn là ơn Đức Chúa Trời đã ở cùng tôi.
PL xác nhận rằng bởi ơn của ĐCT ông mới trở nên người tin Chúa, làm việc nhiều hơn, tận tụy, trung tín hơn người khác, chứ không phải bởi chính ông.
Chính niềm tin, giáo lý này khiến đạo Cơ Đốc hoàn toàn khác với tất cả tôn giáo trên đất. Phật giáo dạy nếu muốn, nếu cố gắng, một người có thể đạt được niết bàn, có thể trở nên như Phật. Hồi giáo cũng dạy nếu muốn là người theo đạo Hồi, một người có thể khiến mình là người sùng đạo.
Nhưng KT dạy rằng: dù có muốn cách mấy, cố gắng đến mấy, một người cũng không thể trở nên người tin Chúa. Không thể bằng nổ lực, cố gắng cá nhân. Chỉ duy bởi ân điển của ĐCT tất cả mới được cứu. Chỉ vì tình yêu thương mà ĐCT đã chọn chúng ta từ trước khi sáng thế để cứu nên chúng ta mới có thể chọn để tin ĐCJC.
KT DẠY GÌ VỀ SỰ CỨU RỖI
KT dạy rõ: 1) ĐCT muốn mọi người được cứu; 2) Con người có sự tự do lựa chọn; 3) ĐCT đã định trước và chọn một số người để họ được cứu, được ở trong Chúa.
Tôi sẽ nêu lên một số KT dẫn chứng 3 điều này và sau đó sẽ giải thích 3 điều này không hề mâu thuẫn với nhau.
ĐCT Muốn Mọi Người Được Cứu
KT dạy rõ rằng ĐCT muốn cho mọi người đều được cứu, không muốn một người nào hư mất hay phải chịu hình phạt đời đời nơi địa ngục. Hãy nói cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống. Các ngươi khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu của mình. Sao các ngươi muốn chết, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên? (Ê-xê-chi-ên 33:11)
Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn. (2 Pet 3:9); Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. (1 Tim 2:4)
Con Người Có Sự Tự Do Lựa Chọn
KT cũng dạy rằng con người có sự tự do lựa chọn.
Ngày nay, ta bắt trời và đất làm chứng cho các ngươi rằng ta đã đặt trước mặt ngươi sự sống và sự chết, sự phước lành và sự rủa sả. Vậy, hãy chọn sự sống, hầu cho ngươi và dòng dõi ngươi được sống (PT 30:19)
Nếu chẳng thích cho các ngươi phục sự Đức Giê-hô-va, thì ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phục sự, hoặc các thần mà tổ phụ các ngươi đã hầu việc bên kia sông, hoặc các thần dân A-mô-rít trong xứ mà các ngươi ở; nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va. (Josh 24:15)
Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu. (Giăng 6:37) Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. (Matt 11:28)
ĐCT Đã Định Trước Và Chọn Một Số Người Để Họ Được Cứu
Nhưng KT cũng dạy trong rất nhiều nơi về sự tiền định và chọn lựa của ĐCT với một số người để họ được cứu, được ở trong Chúa. Vì thời gian nên tôi chỉ nêu lên vài câu: Ấy chẳng phải các ngươi đã chọn ta, bèn là ta đã chọn và lập các ngươi, để các ngươi đi và kết quả, hầu cho trái các ngươi thường đậu luôn: lại cũng cho mọi điều các ngươi sẽ nhân danh ta cầu xin Cha, thì Ngài ban cho các ngươi. (Giăng 15:16)
Phi-e-rơ, sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, gởi cho những người kiều ngụ rải rác trong xứ Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, A-si và Bi-thi-ni, là những người được chọn, 2 theo sự biết trước của Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha, và được nên thánh bởi Đức Thánh Linh (1 Pet 1:1-2)
Nghe lời này, người ngoại quốc hân hoan và tôn vinh Đạo Chúa; những người đã được định để hưởng sự sống vĩnh phúc đều tin nhận Chúa. (CV 13:48)
Và đoạn KT trong Ê-phê-sô 1:4-6.
CHÚA CHỌN TÔI HAY TÔI CHỌN CHÚA?
Chúng ta đọc lại câu 4-6: Chính trong Chúa Cứu Thế, trước khi sáng tạo, Đức Chúa Trời đã chọn chúng ta để được thánh hóa không có gì đáng trách trước mặt Ngài. 5 Vì yêu thương, Đức Chúa Trời đã ấn định trước cho chúng ta đúng theo mục đích tốt đẹp của ý định Ngài, được nhờ Chúa Cứu Thế Giê-xu làm con nuôi của Ngài 6 để ca ngợi ân sủng vinh quang mà Đức Chúa Trời đã ban dư dật cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài. (4-6-BDM)
Nguyên nhân gì, lý do gì ĐCT chọn chúng ta? Có phải bởi vì chúng ta dễ thương, giỏi, ngoan, hiền? Không. Chỉ vì yêu thương. Chỉ vì ân điển, sự ban cho không xứng đáng nhận lãnh. Tôi muốn qv hiểu thật rõ và nhớ kỹ điều này: Trong Đấng Christ, ĐCT tha thứ, cứu tội, nhận làm con nuôi, ban mọi phước thiêng trên trời, làm cho thánh hóa, ban cho ĐTL vì một lý do duy nhất: tình yêu thương. Hoàn toàn không phải bởi tôi hay, tôi giỏi, tôi hiền, tôi tốt, tôi phục vụ, dấng thân, hy sinh.
ĐCT chọn qv và tôi không vì bất cứ một lý do nào khác ngoài tình yêu thương, ân điển. Tại sao điều này quan trọng? Bởi vì như PL giải thích trong câu KT quen thuộc 2:8-9: để không ai có thể khoe mình, để làm việc Chúa định cách tự nguyện, vui lòng từ lòng biết ơn chân thành, sâu sa nhất.
PL viết: Vì tôi vốn thấp kém nhất trong vòng các sứ đồ; không xứng đáng được gọi là sứ đồ vì tôi đã bắt bớ hội thánh của Đức Chúa Trời. 10 Nhưng nhờ ân sủng Đức Chúa Trời tôi được như ngày nay (1 Cor 15:9-10) Lý do gì PL trở nên sứ đồ Đấng Christ? Nhờ ân sủng. Lý do gì tôi được chọn làm mục sư? Nhờ ân sủng.
Để không ai có thể khoe khoang vì bất cứ lý do gì PL giải thích cho các tín đồ HT Cô-rinh-tô như sau: Anh chị em hãy xem xét lúc Chúa kêu gọi anh chị em. Giữa vòng anh chị em không có mấy người khôn ngoan theo trần tục, không mấy người có quyền thế, cũng không có nhiều người quý phái. 27 Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những điều dại dột trong thế gian để làm hổ thẹn những người khôn. Đức Chúa Trời đã chọn những điều yếu đuối trong thế gian để làm hổ thẹn những kẻ mạnh. 28 Đức Chúa Trời đã chọn những gì hèn hạ, bị khinh khi trong thế gian và những điều không ra gì để hủy bỏ những điều trọng đại. 29 Cho nên loài người không ai có thể khoe khoang trước mặt Đức Chúa Trời. 30 Nhờ Đức Chúa Trời mà anh chị em ở trong Chúa Cứu Thế Giê-su, là Đấng Đức Chúa Trời đã làm thành sự khôn ngoan, công chính, thánh khiết và cứu chuộc cho chúng ta. 31 Như Thánh Kinh đã chép: "Ai tự hào, hãy tự hào trong Chúa." (1:26-31-BDM). Không mấy người khôn ngoan là nói khéo cho ý anh em đều ngu cả!
Có thể một vài qv đây tự hỏi: không phải tôi nghe lời kêu gọi tin Chúa sau khi nghe về sự cứu rỗi, rồi cầu nguyện tin Chúa hay sao? Không phải khi đáp ứng lời kêu gọi tin Chúa, khi cầu nguyện nhận ĐCJC vào lòng là tôi đã chọn Chúa hay sao?
Nếu tôi hỏi qv tại sao qv cầu nguyện tin nhận Chúa, qv trả lời thế nào? Vì tôi hiểu sau khi được giải thích? Biết bao nhiêu người hiểu về sự cứu rỗi nhưng tại sao họ không tin? Chẳng phải người Pha-ri-si biết nơi nào Đấng Mê-si sẽ sinh ra hay sao nhưng lại không tin. Tôi tin vì biết mình có tội. Qv nghĩ có người nào không biết mình có tội hay không? Tôi tin vì tôi khiêm nhường hơn anh chị!
Trong xác thịt, theo bản ngã tự nhiên của xác thịt chúng ta sẽ không bao giờ muốn tin nhận Chúa. Tôi dùng một ví dụ để giải thích điều này: Giả sử qv đem hai dĩa thức ăn đến cho một con chó, một dĩa rau và một dĩa thịt. Qv nghĩ con chó sẽ chọn dĩa thức ăn nào? Dĩ nhiên là thịt. Không phải bởi vì nó không thể chọn dĩa rau, nhưng vì nó không hề muốn chọn dĩa rau. Chọn dĩa thịt là chọn theo bản tính tự nhiên, bản tính bẩm sinh của chó.
[Chuyện Trạng Quỳnh ăn cắp mèo của vua] Qv có thể đem chuyện Trạng Quỳnh ăn cắp mèo của vua rồi bắt mèo phải ăn cơm với tương mà làm ví dụ tương phản. Nhưng ngay trong chuyện đó, bản tính tự nhiên của mèo không phải là ăn cơm với rau, mà là với thịt, với cá.
KT dạy rất rõ rằng từ sau khi A-đam & E-va ăn trái cấm phạm tội cùng ĐCT thì cả dòng dõi loài người đều mang bản tính tội lỗi, có nghĩa là nếu để tự nhiên chúng ta sẽ không bao giờ “muốn chọn” ĐCT, muốn sống theo lời dạy KT, muốn làm theo sự nhắc nhở của ĐTL. Câu chuyện Ca-in giết em A-bên giải thích rất rõ về bản tính tội lỗi, bất chất tình thân máu mủ.
Đa-vít viết: Thật vậy, tôi vốn gian ác từ khi sinh ra, Tôi vốn tội lỗi từ khi được hoài thai trong bụng mẹ. (TT 51:5-BDM) Theo bản tính tự nhiên, con người không thể không phạm tội. Ai dạy trẻ thơ nói dối? Ai dạy trẻ thơ dành đồ chơi, dấu đồ chơi? Không cần ai dạy cả. Có dạy chăng là dạy phải nói thật, phải chia sẻ đồ chơi với bạn, phải nice với bạn. Trái với Khổng Lão con người không nhân chi sơ tính bổn thiện nhưng nhân chi sơ tính bổn tội, bổn ác.
PL giải thích rất rõ điều này trong đoạn 2:1-3: Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình, 2 đều là những sự anh em xưa đã học đòi, theo thói quen đời nầy, vâng phục vua cầm quyền chốn không trung tức là thần hiện đang hành động trong các con bạn nghịch [những người không vâng lời]. 3 Chúng ta hết thảy cũng đều ở trong số ấy, trước kia sống theo tư dục xác thịt mình, làm trọn các sự ham mê của xác thịt và ý tưởng chúng ta, tự nhiên làm con của sự thạnh nộ, cũng như mọi người khác.
Vậy khi một người sau khi nghe Tin Lành, cầu nguyện tin Chúa là bởi vì ĐTL đã làm cho lòng họ muốn đến với Chúa. Như con chó trước thấy dĩa thịt thì chọn ngay lập tức, bây giờ lại muốn ăn rau, trái với bản tính tự nhiên. Người muốn đến để tin nhận Chúa là người đi ngược lại với bản tính tự nhiên của loài người vì đã được Chúa gọi, cũng là người đã được Chúa định và chọn từ trước sáng thế để được ở trong ĐCJC. PL giải thích: Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. 29 Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em; 30 còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển. (Rô-ma 8:28-30)
Một số người đọc câu KT này Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn thì hỏi rằng có phải vì ĐCT biết trước ai sẽ tin nhận Ngài nên mới tiền định để chọn những người đó. ĐCT nhìn suốt dòng thời gian từ đầu cho đến cuối và thấy một số người chọn tin nhận Ngài. Vì ĐCT biết trước ai tin Ngài nên ĐCT mới tiền định và chọn họ.
Khi nghĩ lại suy nghĩ này chúng ta thấy có vấn đề sau đây. Nếu một người đã chọn để tin nhận Chúa thì cần gì ĐCT phải tiền định, chọn họ? Tại sao lại sửa điều không cần sửa? Trong đoạn KT này, trong câu KT này từ biết trước không phải là về trí tuệ.
Khi ĐCJC nói với một người: Ta không hề biết ngươi bao giờ, thì không có nghĩa là Chúa không biết họ đang đứng trước Ngài, Chúa không biết họ là ai, hay nói rằng ngươi không nằm trong danh sách loài người. Chúa không hề có ý như vậy. Khi Chúa nói ta không biết ngươi, có nghĩa là ta không hề có quan hệ với ngươi. Biết một người trong KT là một từ nói về quan hệ với người đó.
Vậy khi PL viết Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn, thì không có nghĩa là ĐCT nhìn thấy trước, biết một người sẽ làm gì. Biết trước có nghĩa là yêu thương trước, có quan hệ trước. Có nghĩa là ĐCT đặt lòng yêu thương của Ngài trên người đó. Bởi vì ĐCT yêu thương chúng ta từ trước khi sáng thế, nên hôm nay chúng ta mới có thể nói: tôi tin ĐCJC.
Bài giảng tới sẽ về 3 vấn đề, câu hỏi khó về sự được chọn:
Sự chọn lựa có công bằng hay không. Tại sao ĐCT lại không cứu tất cả mọi người thay vì chỉ chọn một số người? Phải chăng sự chọn lựa một số được cứu hàm ý rằng ĐCT cũng đã chọn số còn lại bị trừng phạt đời đời?
Nếu ĐCT đã chọn thì sự tự do lựa chọn của con người ở đâu
Nếu ĐCT đã chọn thì cần gì phải làm chứng về Chúa
Câu chuyện về lời chia sẻ của một giáo sĩ với một thiếu nữ bán thân. Cô nghĩ rằng tội lỗi của cô quá lớn, quá sâu, quá nhiều nên ĐCT không thể tha thứ cho cô được. Giáo sĩ giải thích cho cô Chúa chọn để cứu một người nhờ ân điển bởi đức tin, Chúa chọn duy bởi tình yêu thương, ân điển. Cô hỏi: làm sao tôi biết Chúa chọn tôi? Giáo sĩ: tôi không biết Chúa chọn cô hay không, nhưng tôi biết chắc một điều: khi một người có lòng thật sự khao khát tìm kiếm ĐCT, mong đóng nhận sự tha thứ, cứu chuộc tội lỗi vì tự mình không thể cứu mình thì điều đó chỉ có thể xảy ra khi ĐTL chạm vào tấm lòng của họ. ĐTL đang chạm lòng cô, kêu gọi cô; ĐCJC đang đứng trước cửa lòng cô mà gõ để cô mời Chúa vào cuộc đời cô.
