Tin Mừng Lớn Cho Muôn Dân – Ngôi Lời Nhập Thể
Chúng ta đang bắt đầu vào mùa Giáng Sinh. Dường như không khí mùa GS hoàn toàn khác biệt, đổi mới so với 11 tháng đã qua trong năm. Đây là thời gian mà mọi người, dù là người tin Chúa hay không tin Chúa đều cảm nhận hay nhắc đến bình an, hy vọng, niềm vui. Đây cũng là thời gian mà người ta thường nói đến phép lạ, mọi việc đều có thể xảy ra trong mùa GS! Tại sao? Bởi vì sự giáng sinh làm người của ĐCJC là một phép lạ, một mầu nhiệm to lớn nhất so với tất cả các phép lạ khác trong KT. Không phải giáng sinh hay nhập thế, nhưng giáng sinh làm người, tức nhập thể.
Thiên sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ. (Lu-ca 2:10-11)
Theo lời thiên sứ, tin mừng lớn cho muôn dân là Đấng Cứu Thế đã sanh ra tại thành Đa-vít, tức Bết-lê-hem. Tuy nhiên thiên sứ còn cho biết: nầy là dấu để nhận Đấng Cứu Thế: Đấng đó sinh ra như một con trẻ trong máng cỏ. Tại sao thiên sứ lại cho biết rằng Đấng Cứu Thế là một hài nhi, một con trẻ nằm trong máng cỏ. Để cho biết rằng Đấng Cứu Thế giáng sinh làm người. Nói cách khác Ngôi Lời nhập thể.
Từ ngôi lời trích trong đoạn KT vừa đọc: Ngôi Lời đã trở nên xác thịt. Sứ đồ Giăng giải thích rõ cho người đọc rằng Ngôi Lời chính là ĐCJC, Ngôi Hai ĐCT, là Đấng đã có từ trước khi mọi vật được sáng tạo. Ngài ở cùng ĐCT có nghĩa là có một thân vị khác với ĐCT. Nhưng Ngài cũng chính là ĐCT. Chúng ta sẽ trở lại đoạn KT này.
Nhập thể khác với nhập thế. Nhập thế là vào thế gian. Nhập thể là ở trong thể xác con người. Ngôi Lời nhập thể cũng chính là lời của Giăng Ngôi Lời đã trở nên xác thịt. Tức cùng một ý với lời của thiên sứ cùng các mục đồng trong đêm Chúa giáng sinh: Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ.
KTCU cho chúng ta biết rằng trước khi ĐCJC giáng sinh làm người hay Ngôi Lời nhập thể, thì Ngài cũng đã nhập thế nhưng trong những hình thể khác, như thiên sứ, đám mây ban ngày, đám lửa ban đêm. Nhưng chỉ với GS, ĐCT mới hạ thế trong hình thể của con người. Nhưng chỉ khi ĐCJC giáng sinh, thì ĐCT mới trở nên con người. Ngôi Lời nhập thể. Đây chính là phép lạ lớn nhất, mầu nhiệm nhất của GS. Chính từ phép lạ này mà các phép lạ ghi lại trong KTTU mới có thể xảy ra.
Nếu Ngôi Lời đã không thực sự nhập thể, thì đạo Cơ Đốc, thì cũng chẳng có phép lạ hóa nước thành rượu, khiến người mù được sáng, người câm được nói, người què được đi, người phung cùng được lành lặng, người bị quỉ ám được chửa lành, người chết được gọi để sống lại. Nếu Ngôi Lời đã không nhập thể thì cũng không có sự cứu rỗi qua sự chết và sống lại của Ngài. Nói tóm lại cả KTTU đều vô nghĩa nếu ĐCJC, Ngôi Hai ĐCT, Ngôi Lời không nhập thể, hạ thế làm người.
Huyền nhiệm tối thượng của Tin Lành không ở trong sứ điệp thương khó của sự chuộc tội, cũng không nằm trong sứ điệp Phục Sinh của sự sống lại, nhưng là sứ điệp Giáng Sinh của sự nhập thể. Đúng hơn là khi nói rằng Ngôi Lời nhập thể là nói về hai mầu nhiệm: 1) Ba ngôi trong một ĐCT hiệp nhất; 2) Sự hợp nhất của Ba ngôi với nhân tính trong thân vị của ĐCJC. Tôi có thể giải thích một cách đơn giản hơn: ĐCJC mang 100% thần tính của ĐCT, Ngài cùng một bản thể với ĐCT, Ngài chính là Ngôi Hai ĐCT, nhưng ĐCJC cũng mang 100% nhân tính của loài người.
Ngôn ngữ loài người chúng ta dù là tiếng Việt hay tiếng Anh đều có giới hạn khi nói về, viết về ĐCJC. Khi nói rằng Ngài là Con Độc Sinh của ĐCT, thì hầu hết mọi người, ngay cả tín đồ cũng nghĩ rằng Con thì có sau Cha, nên ĐCJC có thể có sau ĐCCha. Hay khi nói rằng ĐCJC là Ngôi Hai của ĐCT thì nhiều người nghĩ rằng một có trước hai, hai trước ba nên đầu tiên có ĐCCha, rồi đến ĐCCon hay ĐCJC, rồi mới đến ĐTL.
Hay như trong câu KT sau đoạn KT quen thuộc nhất là Giăng 3:16, thì câu 17 viết thế này: Vả, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu. Nếu ĐCT đã sai Con Ngài là ĐCJC xuống thế gian, thì chẳng phải ĐCT lớn hơn, có quyền hành hơn hay sao? Và từ sai này được dùng trong rất nhiều lần trong Tin Lành Giăng như: Ai không tôn kính Con, ấy là không tôn kính Cha, là Đấng đã sai Con đến. (Giăng 5:23); Vì Con đã truyền cho họ những lời Cha đã truyền cho Con, và họ đã nhận lấy; nhìn biết quả thật rằng Con đến từ nơi Cha, và tin rằng ấy là Cha sai Con đến. (Giăng 17:8); Như Cha đã sai Con trong thế gian, thì Con cũng sai họ trong thế gian. (Giăng 17:18); Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để cho họ toàn vẹn hiệp làm một, và cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương họ cũng như Cha đã yêu thương Con. (Giăng 17:23).
KT không hề dạy rằng vì ĐCJC là Ngôi Hai nên Ngài thấp hơn ĐCCha, hay ĐTL vì là Ngôi Ba nên thấp hơn ĐCJC và ĐCCha. KT cũng không hề dạy rằng bởi vì Cha đã sai con đến trong thế gian để thực hiện chương trình cứu rỗi nên Cha trên Con, Cha có thẩm quyền hơn con. Đây chính là ý nghĩa của hai mầu nhiệm uyên thâm nhưng khó hiểu của Cơ Đốc Giáo: 1) Ba ngôi trong một ĐCT hiệp nhất; 2) Sự hợp nhất của Ba ngôi với nhân tính trong thân vị của ĐCJC.
Lịch sử HT có 2 nhân vật nổi tiếng, 1 chính, 1 tà. Nhân vật chính là Athanasius, tà là Arius. Cả 2 sống trong thời của đại đế Constantine the Great, là vua La-mã đã chính thức hóa đạo Chúa là tôn giáo của cả đế quốc La-mã vào năm 323. Gần suốt cuộc đời Athanasius tranh cải với Arius về một chữ I.
In 325, at the age of 27, Athanasius began his leading role against the Arians as a deacon and assistant to Bishop Alexander of Alexandria during the First Council of Nicaea. Roman emperor Constantine the Great had convened the council in May–August 325 to address the Arian position that the Son of God, Jesus of Nazareth, is of a distinct substance from the Father.
The one who led that teaching was Arius. Athanasius opposed Arius, and Arius usually was winning for a long time. Athanasius was exiled and beaten and put in prison. He spent all of his life running around fighting Arius over one letter. Do you know what that letter was? Arius said, “Jesus, the Son, is homoiousios with the Father,” which means like substance. Athanasius says, “No, he’s homoousios, the same substance. Get that ‘I’ out of there.”
Athanasius dedicated his life to get the “I” out of the creed, to get the “I” out of the confession. He spent his entire life, he poured himself out to make sure people knew Jesus Christ was the Word become flesh, that he was God incarnate.
Vậy huyền nhiệm tối thượng của GS: Ngôi Hai ĐCT, Ngôi Lời nhập thể, giáng thế làm người. Không chỉ giáng thế nhưng giáng thế trong hình hài một hài nhi bất lực, rồi lớn lên như một người dân dã tầm thường. Chính vì là người nên Ngài cũng đói, cũng khát, cũng có lúc buồn, lúc vui, lúc giận như tất cả chúng ta đây. Giăng viết về điều này: Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta (Giăng 1:14) Và trong lá thư I Giăng viết khi đã về già, ông lập lại lời dạy quan trọng này: Điều có từ trước hết, là điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã ngắm và tay chúng tôi đã rờ, về Lời sự sống (1 Giăng 1:1)
Nhưng Ngài cũng mang bản thể thần tính, cùng một bản thể với ĐCT. Vì vậy Ngài mới có thể tuyên bố: Ta và Cha là một, Ai thấy Ta thấy Ta. Chúa cũng dùng tên của ĐCT trong CU: Ta là. Không phải Ta đã là, nhưng Ta là. Vì Ngài chính là ĐCT trong xác thịt nên Ngài mới có thể nói: Trước khi có Áp-ra-ham, đã có Ta. Hay Ta thấy Sa-tan từ trời cao rất xuống.
Vì ĐCJC mang bản thể thần tính Ngài mới có thể chết cho tội lỗi của muôn người. Tại sao? Bởi vì chỉ có ĐCT là Đấng Vô Hạn, Vô Biên, Đấng có giá trị vô hạn, nên khi Ngài hy sinh chịu chết trên thập giá thì cái chết đó có giá trị vô hạn để cứu muôn người. Vì ĐCJC là ĐCT nên Ngài mới có thể tha thứ cho tôi và qv.
Để giải thích rõ cho người đọc Phúc Âm, câu chuyện về cuộc đời của ĐCJC, Giăng đã viết: Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. 2 Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. 3 Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.
Chú ý trong lời mở đầu PA Giăng, sứ đồ Giăng không hề dùng danh xưng Con ĐCT để nói về ĐCJC nhưng chủ ý dùng Ngôi Lời. Điều này để không ai có thể hiểu lầm về ĐCJC. Từ ngôi được thêm vào để bày tỏ lòng kính trọng nhưng thật ra bản nguyên thủy chỉ có một mạo từ (article) the và từ lời (logos). Mạo từ nhằm để nhấn mạnh rằng đây là lời duy nhất, có một không hai.
Từ lời trong KTCU là lời phán trong cuộc sáng tạo, là năng lực hành động để hoàn thành một mục đích. STK 1 viết về sự sáng tạo trời đất, vũ trụ, các loài sinh động vật. ĐCT sáng tạo bằng cách nào? Qua chính lời phán của Ngài: ĐCT phán: phải có…. thì có….” Các từng trời được làm nên bởi Lời ĐGHV (Thi Thiên 33:6). Do đó, lời ĐCT chính là ĐCT hành động.
Ban đầu có Ngôi Lời – từ ban đầu đây nói về trước khi trời đất, vũ trụ, thế gian, loài người được tạo ra. Nói cách khác Giăng muốn nói rằng ĐCJC không có khởi đầu. Qv có thể dùng một từ văn hoa hơn là tính vĩnh hằng của Ngôi Lời. Tức là Ngài luôn luôn hiện hữu trước khi mọi sự vật bắt đầu. Câu KT này xác nhận rằng Ngôi Lời là ĐCT vì Ngài là Đấng Tự Hữu, Hằng Hữu.
Ngôi lời ở cùng ĐCT – từ ở cùng hàm ý rằng Ngôi lời có quan hệ với ĐCT. Ngài ở trong và ở cùng sự hiện diện sáng láng, thánh khiết của ĐCT. Tức nói về sự thông công từ trước đời đời vô cùng. Từ ở cùng cũng hàm ý rằng Ngôi Lời có thân vị khác với thân vị của ĐCT.
KT xác nhận ĐCT là tình yêu thương (1 Giăng 4:8). Yêu thương đòi hỏi ít nhất hai đối tượng. Nếu một người chỉ yêu chính mình thì thật là nguy hiểm. Yêu thương phải có quan hệ với ít nhất hai đối tượng. Vậy khi nói ngôi lời ở cùng ĐCT có nghĩa là từ trước đời đời vô cùng Ba Ngôi ĐCT có quan hệ mật thiết với nhau, yêu thương nhau, phục vụ nhau.
Ngôi lời là ĐCT – không ai có thể hiểu lầm điều này. Ngôi lời hay ĐCJC cũng chính là ĐCT như ĐCCha là ĐCT và ĐTL là ĐCT. Điều này nói lên thần tính của ĐCJC. Dù ba ngôi có thân vị khác nhau nhưng cả ba đều là một.
Muôn vật bởi Ngài làm nên – nói về sự sáng tạo của ĐCJC.
Ngôi Lời trở nên xác thịt – hay Ngôi Lời nhập thể. Hài nhi trong máng cỏ tại Bết-lê-hem chính thật là Ngôi Lời đời đời, ở cùng ĐCT, là ĐCT.
Vậy như theo lời của học giả JI Packer: Hài nhi sanh tại Bết-lê-hem là ĐCT thành người. Khi hạ thân làm người, ĐCJC không trừ đi vài yếu tố thần tính, mà Ngài là ĐCT cộng với tất cả những gì của con người. Chỉ khi trở nên người ĐCJC mới chịu nhận sự cám dỗ từ ma quỉ. Chỉ khi trở nên người ĐCJC mới có thể cảm thông với con người bằng xương bằng thịt. Đây là lý do thư Hê-bơ-rơ viết: Nhân đó, Ngài phải chịu làm giống như anh em mình trong mọi sự, hầu cho đối với Đức Chúa Trời, trở nên thầy tế lễ thượng phẩm, hay thương xót và trung tín, đặng đền tội cho chúng dân. 18 Vả, vì chính mình Ngài chịu khổ trong khi bị cám dỗ, nên có thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy. (Hê-bơ-rơ 2:17-18)
Athanasius viết về ĐCJC như sau: ĐCJC chúng, ta, Con ĐCT, là Trời và là ngươi… ĐCT trọn vẹn, và là người trọn vẹn… Mặc dù là Trời và là người nhưng Ngài không phải là hai mà chỉ là một; là một không phải do ĐCT Ba Ngôi biến thành xác thịt mà bởi nhận lấy hình thể con người. Câu không phải do ĐCT Ba Ngôi biến thành xác thịt nói rằng chính ĐCJC cam tâm, tự nguyện, không ai bắt buộc Ngài, dù là ĐCCha hay ĐTL. Đây chính thật là mầu nhiệm lớn hơn hết của GS.
Tuy nhiên chúng ta hỏi tại sao ĐCJC, Ngôi Lời phải nhập thể làm người trong hài nhi nằm nơi máng cỏ. Câu trả lời rất đơn giản: Ngài sinh để chịu chết chuộc tội lỗi con người. Nói văn hoa hơn: nhập thể để chuộc tội con người.
Một điều cuối cùng kỳ diệu và cảm động về GS: Chúa, Đấng sáng tạo muôn loài vật, trở nên nghèo khi nhập thể. Từ câu chuyện GS viết về nơi ĐCJC sinh ra trong chuồn chiên máng cỏ vì nhà quán không có đủ chổ ở, cho đến nơi chốn ĐCJC lớn lên: Na-xa-rét. Khi nghe tên đó có người hỏi ngay lập tức có gì tốt tư Na-xa-rét mà ra? ĐCJC không hề có một căn nhà ở cho chính Ngài; Chúa chỉ ở tạm tại các nhà của tín đồ. Và khi chịu đóng đinh trên thập giá, bộ đồ duy nhất Chúa mặc cũng bị quân lính bắt thăm để chia nhau. Chúa chết trần truồn trên thập giá giữa hai tên trộm cướp.
ĐCJC nghèo, hay làm cho mình trống không có nghĩa là bỏ qua sự vinh hiển; tự nguyện kềm chế năng quyền; chấp nhận khó khăn, cô lập, bạc đãi, hận thù, hiểu lầm; cuối cùng nhận lấy cái chết đau đớn. Nghèo còn có nghĩa là yêu những kẻ khó yêu, không đáng yêu, thay đổi những người xã hội xem là cặn bả. KT xác nhận một điều hết sức lạ lùng: Vì anh em biết ơn của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài vốn giàu, vì anh em mà tự làm nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài, anh em được nên giàu. (2 Cô-rinh-tô 8:9). Giàu đây không phải có ý nghĩa vật chất, nhưng giàu về tâm linh. Nói cách khác như trong Ê-phê-sô 1:3 Ngợi khen Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, Ngài đã xuống phước cho chúng ta trong Đấng Christ đủ mọi thứ phước thiêng liêng ở các nơi trên trời
Trong mùa GS, chúng ta thường nói về “tinh thần GS”, nhưng hiêm khi với ý nghĩa sâu x hơn một cuộc vui trong gia đình, trong HT. Nhưng cụm từ này thật ra phải mang một ý nghĩa quan trọng hơn nhiều: Phải ngụ ý về sự tha thứ, cứu chuộc tội lỗi, về sự thay đổi trong đời sống của người được cứu, về sự cho đi hơn là nhận lãnh, tha thứ hơn là buộc tội, cảm thông hơn là lên án, khiêm nhường hơn hống hách.
Nếu Chúa đã đến thế gian cách nghèo nàn để làm cho chúng ta được giàu có về thục linh, thì chẳng lẽ chúng ta lại bắt chước Chúa mình: khiêm nhường, nhân từ, cảm thông, cho đi, tha thứ, dâng hiến, phục vụ.
