Tiếp Nhận Nhau Trong Chúa
Khi ĐCJC về trời, Ngài để lại cho các môn đồ và những người sẽ tin Ngài qua họ 3 điều: Kinh Thánh, ĐTL và hội thánh. Qv nghĩ xem trong 3 điều đó, điều gì là không toàn vẹn, thiếu sót, sẽ có lỗi lầm, vấp ngã? Dĩ nhiên là hội thánh. Tại sao? Bởi vì đây là nơi nhóm họp, thờ phượng, thông công, phục vụ của tội nhân. Và hễ nơi nào có tội nhân, chắc chắn nơi đó sẽ có bất đồng ý kiến trong nhiều vấn đề, trong cách làm việc, sẽ có vấp phạm, sai sót, lỗi lầm.
Khi một người dành nhiều thời gian để nói về một vấn đề cụ thể nào đó, thường là vì người đó quan tâm đến vấn đề và tin rằng vấn đề đó là quan trọng. Theo lý do này, chúng ta có thể thấy rõ rằng Phao-lô rất quan tâm đến cách cư xử của tín đồ trong hội thánh với nhau, đặc biệt khi không đồng ý kiến với nhau trong nhiều vấn đề. Tại sao? Bởi vì PL viết rất dài và chi tiết về vấn đề này trong thư gửi cho HT thành La-mã (thư Rô-ma – Rô-ma còn gọi là thành La-mã, thủ đô của đế quốc La-mã xưa và quốc gia Ý nay).
Từ đoạn 12-15 trong thư Rô-ma, PL viết về những lời dạy thực tế và cụ thể cho đời sống đạo của tín đồ. Và lời dạy dài hơn hết là về cách cư xử của tín đồ hội thánh với nhau khi bất đồng ý kiến với nhau trong một số vấn đề như thức ăn, ngày lễ.
Nếu đọc từ đoạn 12-15 qv sẽ thấy PL dành 2 câu (12:1-2) để dạy về sự đổi mới tâm trí của người tin, theo Chúa – một vấn đề vô cùng quan trọng: khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời... Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình. 6 câu kế đến từ 12:3-8, PL dạy về sự tự xét lượng đức tin và ân tứ Chúa ban cho mình cách đúng đắn để giữ sự hiệp một và cùng nhau phục vụ như các chi thể trong một thân, tức HT của Chúa. 13 câu kế từ 12:9-21 PL nhắc dạy về tình yêu thương và thể hiện chân thật của tình yêu thương. 7 câu kế tiếp từ 13:1-7 về câu hỏi về quan hệ giữa chính quyền và hội thánh. 7 câu kế tiếp từ 13:8-14 về nếp ăn ở của người tin Chúa trong khi chờ đợi Chúa trở lại. Nhưng lời PL dạy về sự tiếp nhận và nâng đở anh chị em trong hội thánh khi họ có sự khác biệt, bất đồng ý kiến với chúng ta bắt đầu từ đoạn 14:1-23 đến 15:1-13, tức tổng cộng 36 câu, dài hơn tất cả các lời dạy khác trong Rô-ma.
Ba phần trong bài giảng: 1) Vấn đề gây nên sự bất hòa giữa tín đồ; 2) Giải quyết sai lầm: Người yếu, kẻ mạnh; 3) Giải quyết đúng cách: Tiếp nhận nhau trong Chúa
VẤN ĐỀ GÂY NÊN SỰ BẤT HÒA
Hai vấn đề chính gây nên sự bất hòa trong vòng tín đồ HT thành La-mã: 1) thức ăn Người này tin có thể ăn mọi thức ăn, nhưng người kia yếu đuối chỉ ăn rau. 14:1-4; 2) ngày thánh 14:5-7 Người này coi ngày này trọng hơn ngày kia, kẻ khác coi ngày nào cũng như nhau.
Tại HT La-mã, một số tín đồ nói rằng: tất cả tín đồ đều phải theo các luật pháp Mô-se về các thức ăn, hay phải giữ ngày thánh trong tuần. Không phải chỉ họ làm điều này nhưng muốn tất cả mọi tín đồ khác cũng làm như họ. Họ lên án, buộc tội, tránh không giao tiếp với những người ăn những thức ăn trái với luật Mô-se. Trong HT cũng có những người tin có thể ăn mọi thức ăn; họ cũng đòi hỏi mọi tín đồ khác trong HT tin như mình. Mỗi bên đều tin rằng tôi đúng, anh sai, tôi làm theo lời KT dạy, chị không.
Không phải chỉ có HT La-mã bất hòa vì 2 vấn đề này, nhưng một số HT khác cũng gặp khó khăn như vậy. Trong HT Cô-rinh-tô PL viết về sự bất đồng ý kiến giữa hai nhóm tín đồ - ông gọi là người yếu, kẻ mạnh cũng như trong Rô-ma 14-15 về vấn đề ăn thịt đã cúng các thần mua từ chợ hay từ ngay trong đền thờ trong 1 Cor 8:1-13 và 10:23-33. Về vấn đề đồ cúng thần tượng (8:1) Về việc ăn đồ cúng thần tượng. (8:4) Nếu có ai không tin Chúa mời anh chị em, và anh chị em muốn đi, hãy ăn tất cả những gì dọn ra bàn, lương tâm không phải thắc mắc gì. 28Nhưng nếu có người bảo đây là đồ cúng thì anh chị em đừng ăn vì người ấy đã cho biết và cũng vì lương tâm (1 Cô-rinh-tô 10:27-28)
In Corinth we had a rather different issue. That is there were people there who said, “No Christian should ever eat food that had been dedicated or blessed in the name of or dedicated to one of the pagan deities like Apollo or Athena and so on.” Just as the idea that all Christians should follow the Jewish dietary rules meant those people began to withdraw because you couldn’t eat with people who didn’t believe with you, from people who didn’t share their religious beliefs, the same thing happened in Corinth.
Trong thư Ga-la-ti (gởi cho các HT vùng Ga-la-ti lập trong chuyến truyền giáo thứ nhất) PL viết về vấn đề tín đồ vẫn còn tin HT phải vâng giữ các ngày đặc biệt, quan trọng. Anh chị em còn giữ các ngày, tháng, mùa, năm ư? 11Tôi lo sợ cho anh chị em, e rằng tôi đã lao lực luống công vô ích vì anh chị em. (Ga-la-ti 4:10-11 – BDM). PL gọi những điều họ tin như các thần hèn yếu, nghèo nàn kia làm cho tín đồ trở nên nô lệ - anh chị em muốn làm nô lệ chúng một lần nữa sao?
Trong thư Cô-lô-se, PL cũng viết về các vấn đề như sau: Vì thế, đừng để ai đoán xét anh chị em về thức ăn thức uống, về nghi lễ tôn giáo, về lễ trăng mới hay ngày Sa-bát. (Cô-lô-se 2:16) Một số tín đồ nghe theo lời dạy rằng đức tin vào ĐCJC cho sự cứu rỗi chưa đủ nhưng còn phải vâng giữ các ngày lễ, tuân thủ theo luật ăn uống kiên cữ như trong thời CU.
Mặc dù HT La-mã hay Ga-la-ti hay Cô-lô-se có những vấn đề cụ thể trong thời điểm đó, nhưng vấn đề chính yếu, quan trọng và khó giải quyết hơn hết là quan hệ, cư xử, thái độ của các tín đồ khi không đồng ý với nhau về điều này, điều nọ. PL tóm tắt vấn đề này như sau: Người ăn đừng khinh bỉ kẻ không ăn và người không ăn chớ lên án kẻ ăn (Rô-ma 14:3). Còn ngươi, tại sao lên án anh chị em mình? Sao ngươi khinh bỉ anh chị em mình (Rô-ma 14:10)
Tín đồ không chỉ tranh luận với nhau về ý kiến, niềm tin nhưng gán tội hay xem rẽ người khác ý với mình. Tín đồ HT thay vì cậy sức Chúa, cậy vào sự vùa giúp của ĐTL để sống thế nào làm sáng danh Chúa, đem đến vinh hiển, ca ngợi cho Chúa, hay sống thế nào để đem người chưa biết/tin Chúa đến với Ngài, họ lại tập trung vào việc tìm lỗi lẫn nhau. Thay vì để ĐCT làm quan xét, họ làm quan xét. Thay vì để ĐCT thay đổi đời sống người khác, họ buộc người khác phải thay đổi như ý của họ.
Vấn đề xưa và nay
Đây là những vấn đề cụ thể trong thời điểm khi PL viết các lá thư viết gửi HT La-mã, các HT xứ Ga-la-ti, HT Cô-lô-se gây nên những bất hòa trong vòng tín đồ HT. Có thể khác với nhiều vấn đề hôm nay gây lục đục trong HT. Nhưng lời dạy trong KT luôn có thể áp dụng cho HT hôm nay cũng như các HT 2000 năm trước đó.
Dù 2 vấn đề cụ thể về thức ăn và ngày gây nên sự bất hòa giữa tín đồ HT La-mã, mục đích của PL không phải chỉ để giải quyết 2 vấn đề này, nhưng để dạy những bài học có thể áp dụng cho cả những vấn đề khác có thể gây xung đột, bất hòa trong vòng tín đồ HT hôm nay. [Liên hệ đến người/nhóm người tin để bảo vệ môi trường trên thế giới, con người không nên ăn thịt, nhất là thịt bò, mà chỉ nên ăn rau. Hay câu hỏi người tin Chúa có thể đi làm ngày Chúa nhật hay không?]
Bốn lãnh vực cần nghĩ đến:
1. When another Christian is going through hard times. I suppose this is the area in which I see the failure of the self-styled "strong" toward the "weak" brother or sister most often. Christians go through hard times. Sometimes it is in the family. A husband is deserted by his wife, or a wife is abandoned by her husband. Sometimes a Christian loses his job and, if the individual is a husband, may come to a point where he is unable to support his family. Sometimes there is sickness or an accident that brings a person to the very edge of life.
2. Sự khác biệt trong mức độ hay thể hiện của lòng tin kính, đời sống đạo. A second area where Christians continue to judge one another is personal piety. Do you have a "quiet time" every morning? How long per day do you pray? Are you reading good Christian books? How often do you witness?
Donald Grey Barnhouse and James Strong
3. Denominational affiliation. Church affiliations also often wrongly divide believers and produce judgmental attitudes. I am not saying that we have to consider other denominations to be right in their distinctives, any more than we have to consider other Christians as always right when they differ from us. But just as we are to accept other Christians as Christians, so must we accept other denominations as true elements of the one body of Christ—if they acknowledge him as Lord and confess the gospel as the one way of salvation.
4. Personality differences. What about personality differences? Does every Christian have to be grim like an undertaker, or always smiling like a stand-up comedian? Charles Spurgeon was the greatest preacher of his age, but he was frequently criticized for being funny. When one woman objected to the humor he inserted into his sermons Spurgeon told her, "Madam, you would think a great deal better of me if you knew the funny things I kept out."
GIẢI QUYẾT CÁCH SAI LẦM
Trong cả hai thư Rô-ma và Cô-rinh-tô PL xác nhận có người yếu, có kẻ mạnh. Tại sao? Bởi vì không phải mọi người trong HT đều hiểu biết như nhau: Nhưng chẳng phải mọi người đều có sự hay biết đó. Một đôi người vì nghĩ thường có thần tượng, nên khi ăn của cúng tế đó cho là của cúng tế thần tượng; thì lương tâm yếu đuối của họ bởi đó ra ô uế. (1 Cô-rinh-tô 8:7)
Tại thành Rô-ma, người yếu đức tin là người tin chỉ ăn rau, ăn thức ăn đúng theo luật ăn uống trong thời CU; kẻ mạnh là người tin có thể ăn thịt, mọi thức ăn. Tại thành Cô-rinh-tô, người yếu đức tin là người không ăn thịt đã cúng thần, dù từ chợ hay từ đền thờ.
PL khẳng định một sự thật trong hội thánh: có người yếu, kẻ mạnh; có sự khác biệt, bất đồng ý kiến. Có người trưởng thành, hiểu biết, có người non nớt, thiếu hiểu biết. Và giữa hai mức này có nhiều dáng vẽ, chừng mực khác nhau. Trưởng thành hơn, non nớt hn.
Người yếu là người tuân thủ luật lệ từng chấm từng nết, đến độ quên đi ân điển của ĐCT, quên rằng mọi người được cứu bởi ân điển không phải qua việc vâng giữ luật pháp vì không ai có thể làm trọn điều này. Họ quên rằng chính quyền năng của ĐTL và chỉ qua quan hệ với ĐCJC người tin Chúa mới được đổi mới. Vâng người tin Chúa phải vâng phục lời Chúa dạy. Nhưng vâng phục vì lòng biết ơn, vâng phục vì yêu Chúa, yêu anh chị em mình, yêu người lân cận chứ không phải vâng phục để được Chúa chấp thuận hay để so sánh với người anh chị em trong Chúa. Khi gọi một số tín đồ là yếu, PL khẳng định sự thiếu xót của họ.
Kẻ mạnh là người tin rằng họ có sự tự do trong Chúa. Họ có kiến thức, hiểu biết như lời PL viết trong 1 Cô-rinh-tô 8:1 Về vấn đề đồ cúng thần tượng, chúng ta biết rằng “mọi người đều hiểu biết.” Qv đọc câu 1 và so sánh với câu 7 tôi vừa trích thấy dường như có sự mâu thuẫn: tại sao trong câu này PL nói chúng ta biết rằng “mọi người đều hiểu biết” nhưng trong câu 7, ông lại viết: chẳng phải mọi người đều có sự hay biết đó. Câu 1 là lời của các tín đồ trong HT Cô-rinh-tô trong một lá thư viết gửi cho PL để hỏi ông về vấn đề ăn đồ cúng thần tượng được PL trích lại. Biết đây có nghĩa là biết về kiến thức; nhưng biết trong câu 7 gồm cả kiến thức và kinh nghiệm, trí tuệ và con tim.
Vì biết không có thần nào ngoài ĐCT nên một số tín đồ trong HT Cô-rinh-tô nghĩ họ có thể ăn thịt mua từ chợ hay từ đền thờ dù đã cúng cho các thần. Vì có sự hiểu biết nên họ nghĩ rằng mọi ngày đều như nhau. Khi gọi tín đồ là mạnh, PL xác nhận đây là người hiểu biết đúng.
Chú ý người mạnh tại HT La-mã là tín đồ người ngoại, kẻ yếu là tín đồ người Y (Do Thái). Nhưng tại HT Cô-rinh-tô người mạnh là những tín đồ người ngoại, còn kẻ yếu là những người tín đồ DT. Điều này dạy chúng ta tùy môi trường, hoàn cảnh khác nhau, người mạnh kẻ yếu cũng khác nhau.
Dù vậy PL trách cả hai, không phải vì sự thiếu kiến thức, hiểu biết, vì niềm tin của họ về thức ăn hay ngày lễ nhưng về thái độ, cách cư xử, hành động của họ đối với nhau: Người ăn đừng khinh bỉ kẻ không ăn và người không ăn chớ lên án kẻ ăn vì Đức Chúa Trời đã tiếp nhận người ấy. 4Ngươi là ai mà lên án đầy tớ của người khác? (Rô-ma 14:3-4) Còn ngươi, tại sao lên án anh chị em mình? Sao ngươi khinh bỉ anh chị em mình (Rô-ma 14:10 - BDM)
Thậm chí PL trách người mạnh vì lòng kiêu ngạo về kiến thức, hiểu biết của họ: Nhưng sự hiểu biết sinh kiêu ngạo, còn tình yêu thương xây dựng. 2Nếu ai nghĩ rằng mình hiểu biết điều gì thì người ấy chưa hiểu biết như đáng phải biết. 3Nhưng nếu ai yêu kính Đức Chúa Trời, Ngài biết người ấy. (1 Cô-rinh-tô 8:1-3)
Cả hai đều phạm lỗi, phạm tội vì cách cư xử, vì thái độ của họ với người anh chị em trong Chúa khác ý kiến, niềm tin với mình về một vài vấn đề nào đó: Kẻ yếu chỉ trích, buộc tội, lên án; người mạnh khinh dễ, xem thường, chê cười. Kẻ yếu làm quan xét thay cho ĐCT; người mạnh là người Pha-ri-si xem thường người thu thuế khi cầu nguyện.
Tôi có câu hỏi cho qv và cho chính tôi: Thông thường thái độ, cách cư xử, lời nói, hành động của chúng ta thế nào đối với các anh chị em trong Chúa tin khác với chúng ta trong vấn đề này hay vấn đề khác? Khinh dễ hay lên án; xem thường hay buộc tội; chế diễu hay chỉ trích? Hay làm như lời PL nhắc dạy.
GIẢI QUYẾT ĐÚNG CÁCH: TIẾP NHẬN NHAU TRONG CHÚA
Chú ý Rô-ma 14 bắt đầu với lời khuyên dạy của PL với tín đồ HT La-mã cần phải làm trước khi ông giải thích về nguyên nhân của sự bất hòa trong vòng tín đồ: 1Hãy tiếp nhận người yếu đức tin, đừng lên án những vấn đề không biết chắc (Rô-ma 14:1 – BDM).
Từ tiếp nhận trong Rô-ma 14:1 theo tiếng Hy-lạp là proslambano, có nghĩa là kéo lại gần, kéo vào vòng, mở vòng tay để mời đón nhận. Theo tự điển tiếp Hy Lạp trong sách mục lục Strong Corcordance, từ này có mấy nghĩa sau đây: 1) đón nhận như người bạn, người đồng hành (to take as one's companion), 2) nắm tay để dẫn đi bên cạn (to take by the hand in order to lead aside), 3) đón nhận vào nhà vì lòng tử tế (to take or receive into one's home, with the collateral idea of kindness), 4) thố lộ tâm tình trong lòng (to receive, i.e. grant one access to one's heart); 5) nhận làm bạn, có quan hệ (to take into friendship and intercourse)
Từ này cũng được PL dùng trong Rô-ma 14:3: Người ăn đừng khinh bỉ kẻ không ăn và người không ăn chớ lên án kẻ ăn vì Đức Chúa Trời đã tiếp nhận người ấy. Động từ đã tiếp nhận cho biết ĐCT không đã tiếp nhận nhưng Ngài vẫn còn đang tiếp tục tiếp nhận. Và PL lập lại từ này trong 15:7 và dùng hình ảnh của Chúa đã tiếp nhận chúng ta: Vậy, anh chị em hãy tiếp nhận nhau như Chúa Cứu Thế đã tiếp nhận chúng ta để đem vinh quang cho Đức Chúa Trời.
Chúa tiếp nhận chúng ta thế nào? Đang khi chúng ta còn là người có tội, đang khi chúng ta còn nghịch cùng ĐCT. Chúa tiếp nhận chúng ta thế nào? Khi Chúa tha thứ mỗi khi chúng ta ăn năn tội. Khi Ngài ban cho chúng ta ĐTL để gìn giữ, dạy bảo, quở trách, để giúp hiểu và áp dụng KT; khi Ngài ban cho chúng ta cả ân điển và ân tứ.
Tiếp nhận không có nghĩa là tiếp nhận, đồng ý với những suy nghĩ sai lầm. Nhưng là tiếp nhận người nghĩ sai, nghĩ không đúng, người yếu đuối. Với mục đích nâng đở, trợ giúp để họ thay đổi, trở nên người mạnh mẻ.
ĐTL ban cho mỗi người trong hội thánh ân tứ khác nhau, nhưng cùng một trái TL để làm gì? Chính Ngài cho một số người làm sứ đồ, một số làm tiên tri, một số làm truyền giáo, một số làm mục sư và giáo sư, 12 nhằm mục đích trang bị các thánh đồ trong công tác phục vụ, gây dựng Thân Thể Chúa Cứu Thế, 13 cho đến khi tất cả chúng ta đạt đến sự hợp nhất trong đức tin và trong sự hiểu biết Con của Đức Chúa Trời, tiến đến mức trưởng thành, phát triển đến tầm thước vóc dáng đầy trọn của Chúa Cứu Thế. (Ê-phê-sô 4:11-13)
Chính vì cho đến khi tất cả chúng ta đạt đến sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự hiểu biết ĐCJC, đến khi mọi người trưởng thành nên có lúc hội thánh không thể bỏ rơi những người yếu! Ý ĐTL muốn tất cả anh chị em trong hội thánh đều trưởng thành, đều phát triển đầy trọn. Nhưng PL ghi nhận một sự thật rằng con cái Chúa trong hội thánh đầu tiên tại thành La-mã không trưởng thành tất cả, và dĩ nhiên cũng trong hội thánh ngày nay. Một số mạnh mẽ, một số vẫn còn non nớt, yếu đuối, khiếm khuyết trong sự hiểu biết KT, trong đức tin, trong sự phục vụ.
PL bảo những người mạnh phải làm gì cho những kẻ yếu? Chúng ta là kẻ mạnh, phải gánh vác sự yếu đuối [asthenēma] cho những kẻ kém sức, chớ làm cho đẹp lòng mình. BDM: Chúng ta là người mạnh phải gánh vác những khiếm khuyết của người yếu; chớ nên chỉ làm hài lòng mình. BD2011: Chúng ta là những người mạnh phải gánh vác những gì những người yếu làm không nổi, chứ không chỉ lo làm vui lòng mình. Gánh vác sự yếu đuối, gánh vác những khiếm khuyết, gánh vác những điều họ không làm nổi (chứ không phải làm biếng!)
Chú ý các từ dịch khác nhau: Yếu đuối, khiếm khuyết, những gì làm không nổi. BDM gần từ nguyên thủy hơn hết. Đây là từ duy nhất dùng trong KT TU, có nghĩa là lỗi lầm, thiếu sót, khuyết điểm từ ý nghĩ non nớt, chưa trưởng thành. Vậy khi PL dùng từ này, ông hàm ý người yếu có những lỗi lầm, thiếu sót, còn non nớt, chưa trưởng thành. PL không khỏa lấp. Tuy nhiên lời KT dạy là người mạnh phải gánh vác những khiếm khuyết.
Và trong câu 2: Mỗi người trong chúng ta hãy làm hài lòng người lân cận để giúp ích và xây dựng họ. KT dạy người mạnh không kiêu hảnh, khinh dễ kẻ yếu. Trái lại phải gánh vác sự yếu đuối đó, để nâng đở, tương trợ, để giúp cho anh em chị còn non nớt, yếu đuối tiếp tục lớn lên trong Chúa. Còn kẻ yếu không tự ái, ý thức sự thiếu sót, non nớt, khuyết điểm, mà cần được nâng đở, tương trợ từ anh chị em mạnh mẻ trong Chúa.
Nào có ai yếu đuối mà tôi chẳng yếu đuối ư? Nào có ai vấp ngã mà lòng tôi chẳng như nung như đốt sao? (2 Cô-rinh-tô 11:29)
KT dạy chúng ta tiếp nhận người yếu chứ không tiếp nhận suy nghĩ sai lầm của họ. Đây là một điều quan trọng tôi mong anh chị em trong HT nhớ rõ.
Việc này liên hệ đến hội thánh ngày nay, tại đây thế nào? Xã hội hôm nay có những điều mà tín đồ này tin thế này, tín đồ kia tin thế khác. Tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta đang nói đến những vấn đề không trọng yếu của Tin Lành, không trái với lời dạy KT. Như có người tín đồ tin rằng khi thờ phượng Chúa không được giơ tay cao, không được vũ múa trên bục giảng, không được dùng bản dịch nào khác bản dịch truyền thống. Có hội thánh mục sư phải mặc áo vét cho kỉnh kiền; có hội thánh mục sư mặc áo ngắn tay, bỏ ra ngoài, quần jean. Câu hỏi không phải là ai đúng, ai sai, nhưng là làm thế nào để những bất đồng ý kiến từ các việc nhỏ, không đáng này không làm chia rẽ tín đồ, chia rẽ hội thánh Chúa.
Sứ đồ PL trong 1 Cô-rinh-tô 8 và Rô-ma 14, và 15:1-7 dạy tín đồ và hội thánh Chúa mấy nguyên tắc quan trọng sau đây để tránh sự tranh cải, chia rẽ trong vòng tín đồ:
1. Chú tâm vào điều trọng yếu. Một số qv có thể rất ngạc nhiên khi nghe tôi nói điều này: Mục đích trọng yếu của hội thánh mà ĐCJC ủy thác không phải là thay đổi đời sống anh chị em mình, mà là đại mạng lịnh rao giảng Tin Lành và dạy họ hiểu rõ KT (môn đồ hóa) Ma-thi-ơ 28:19-20. Việc thay đổi đời sống là việc của ĐTL. Ngài dùng KT, dùng tín đồ trong hội thánh để rao giảng TL, để giải thích, dạy dỗ KT, nhưng chính ĐTL mới là Đấng khiến một cuộc đời thay đổi. Ai nghĩ rằng tôi làm cho người này, người nọ đổi đời là người không hiểu KT, hay kiêu hảnh. Tôi và qv là công cụ của ĐTL. Nên hãy bỏ đi ý nghĩ thay đổi tánh tình của anh này, chị kia, em nọ trong hội thánh.
Nhà văn Pháp Saint Exupery viết Yêu nhau không phải là nhìn nhau nhưng cùng nhìn về một hướng. Tôi nghĩ đây là lời rất ý nghĩa. Nhìn nhau sẽ thấy lỗi của nhau, thấy tật xấu, thấy khiếm khuyết, sự ấu trỉ, non nớt, nhưng khi tín đồ nhìn cùng chú tâm về một hướng vào những điều trọng yếu Chúa dạy, như rao giảng Tin Lành, học làm theo lời KT dạy thì chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ sẽ hóa không.
Tác giả sách Hê-bơ-rơ dạy tất cả tín đồ phải chăm nhìn ĐCJC là cội rễ, và cuối cùng của đức tin mà chạy. Những tín đồ nhìn ĐCJC mà chạy mới là những người mạnh, người trưởng thành, người tập trung vào điều quan trọng, mà bỏ qua những tranh cảnh, bất hòa vì những việc không đáng, việc phụ.
Vào khoảng năm 1910 khi chế độ Bôn-sơ-vít bắt đầu cuộc cách mạng đỏ tại xứ Nga sô. Xã hội, đất nước, dân sự đang trong cảnh dầu sôi, lửa bỏng. Trong cảnh đó các mục sư, lãnh đạo của hội thánh Orthodox tranh cải nhau về vấn đề ren đeo trên áo giảng phải dài ngắn bao nhiêu.
Qv có biết bao nhiêu hội thánh chia rẽ, tín đồ hờn giận nhau, muốn tống khứ mục sư vì những chuyện nhỏ nhặt, không quan trọng, không chủ yếu hay không? Làm mục sư gần 20 mươi năm rồi, tôi thấy và nghe và cũng đã kinh nghiệm được điều này. Điều vô cùng đáng buồn là hội thánh ĐCT tan rã là bởi vì những việc vô cùng nhỏ mọn.
Tôi thường dùng câu này trong các bài giảng: In essentials, unity; in non-essentials, liberty; in all, charity – Trong những vấn đề trọng yếu, hiệp một; trong những vấn đề không trọng yếu, tự do; trong mọi sự, có tình yêu thương.
2. Nhượng quyền tự do vì kẻ yếu
Vì danh Chúa, vì hội thánh Chúa, vì anh chị em trong Chúa mà tôi sẽ không làm điều tôi có tự do để làm. Tôi sẽ nhượng quyền tự do để nâng đở, xây dựng cho nhau trong Chúa. Đây là nguyên tắc cho những người tín đồ trưởng thành.
Qv sẽ hỏi vậy tôi có sự tự do để làm điều tôi muốn, nếu điều đó không phải vấn đề trọng yếu phải không? Câu trả lời là phải và không. Phải là qv thật có quyền tự do như PL đã khẳng định. Có quyền ăn đồ cúng, có quyền xem Chúa nhật như mọi ngày. Nhưng không là bởi vì có một lời dạy khác cho những người ý thức rằng mình là người tự do: Nhưng hãy giữ lấy, kẻo sự tự do mình làm dịp cho kẻ yếu đuối vấp phạm... Cho nên, nếu đồ ăn xui anh em tôi vấp phạm, thì tôi sẽ chẳng hề ăn thịt, hầu cho khỏi làm dịp vấp phạm cho anh em tôi. (1 Cor 8:9, 13) Hỡi anh em, anh em đã được gọi đến sự tự do, song chớ lấy sự tự do đó làm dịp cho anh em ăn ở theo tánh xác thịt, nhưng hãy lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau. (Ga-la-ti 5:13) Nói cách khác vâng tôi có quyền tự do làm điều này điều nọ nhưng nếu khi tôi làm điều đó mà gây ra sự vấp phạm cho người anh chị em yếu đuối trong đức tin, trong sự hiểu biết thì tôi sẽ không làm. Tôi sẽ nhượng quyền tự do đó cho người anh chị em còn yếu đuối, non nớt trong đức tin.
Sứ đồ PL viết cho tín đồ hội thánh Cô-rinh-tô những lời sau đây: Tôi không được tự do sao? Tôi không phải là sứ đồ sao? Không phải tôi đã thấy Chúa Giê-su sao? Không phải anh chị em chính là công trình của tôi trong Chúa sao? 4Chúng tôi không có quyền ăn, uống sao? 5 Chúng tôi không có quyền đem theo một chị em làm vợ như các sứ đồ khác hoặc như các em của Chúa và như Sê-pha sao? 6 Hay là chỉ có tôi và Ba-na-ba mới phải tự túc làm việc để sống? 15Nhưng tôi đã không sử dụng những quyền này. Tôi cũng không viết những lời này để đòi quyền ấy. (1 Cô-rinh-tô 9:1,4-6, 15)
Khi có tiệc thông công tôi nhận xét có một số anh chị em không bao giờ ngồi vào bàn ăn trước cả. Không phải vì họ không có sự tự do để làm điều này, nhưng chọn nhượng sự tự do để phục vụ. Họ dọn bàn, phân phát thức ăn. Sau khi mọi người đã có thức ăn, họ mới ăn và ăn đứng. Sau đó dọn dẹp, rửa chén. Lý do gì họ làm những điều này? Tiên khách, hậu chủ; kính lão, đắc thọ; phục vụ cho anh chị em trong hội thánh. Và nếu có thiếu thức ăn thì họ phải nhịn cho những anh chị em trong hội thánh ăn, dù có quyền tự do để ăn uống đầy đủ.
Trong hội thánh, có người nấu ăn giỏi hơn người khác, có người khéo hơn người khác, có người hiểu biết KT nhiều hơn người khác. Người nấu ăn giỏi đừng chê đồ ăn của người nấu dở. Nếu muốn ăn ngon thì về nhà tự nấu ăn hay đi nhà hàng. Người khéo chớ chê việc làm của người vụng. Người hiểu biết KT chớ khinh dễ người học hoài mà vẫn không hiểu. Qv có nghĩ ĐTL dùng những anh chị em đó, những điều khiến qv không vui, không thỏa lòng để dạy cho qv biết nhường nhịn, biết khiêm nhường, biết kiên nhẫn hơn hay không?
Khi thấy một anh chị em trong hội thánh có vẽ buồn mình, qv làm gì? Người gì mà kỳ cục, đụng chút là hờn, là giận. Không chơi nữa. Dĩ nhiên qv có quyền làm bạn với người mình thích, và không làm bạn với người mình không thích. Nhưng vì danh Chúa, vì hội thánh Chúa, vì tình yêu thương, kẻ mạnh trong Chúa, người có trái TL phải ép mình để chủ động làm bạn, để giải hòa, dù có thiệt thòi.
Hãy bằng lòng tiếp lấy kẻ kém đức tin, chớ cãi lẫy về sự nghi ngờ. 2 Người nầy tin có thể ăn được cả mọi thứ; người kia là kẻ yếu đuối, chỉ ăn rau mà thôi. 3 Người ăn chớ khinh dể kẻ không ăn; và người không ăn chớ xét đoán kẻ ăn, vì Đức Chúa Trời đã tiếp lấy người. (Rô-ma 14:1-3).
Chính vì thái độ khinh dể, xét đoán giữa kẻ mạnh, người yếu mà hội thánh có chuyện lục đục, lấn cấn. Người mạnh mẽ phải học để càng tăng thêm tình yêu thương, học sự nhường nhịn cho danh Chúa, công việc Ngài, cho hội thánh. Kẻ yếu đuối phải học thêm sự hiểu biết về lời KT để ý thức điều gì quan trọng, điều gì không quan trọng. Và cả hai người mạnh, kẻ yếu phải kính trọng nhau, nâng đở nhau, xây dựng nhau. Như thế hội thánh mới vững mạnh, danh Chúa mới được cả sáng.
Vì không một ai trong chúng ta sống cho chính mình hoặc chết cho chính mình, 8 vì nếu chúng ta sống là sống cho Chúa; và nếu chúng ta chết là chết cho Chúa. Như thế, dù sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa cả. (Rô-ma 14:7-8)
3. Tiếp nhận, nâng đở cho nhau trong Chúa thay vì trách móc, buộc tội, khinh thường nhau.
Trong Rô-ma 14 hai lần PL bắt đầu lời khuyên dạy với từ vậy (therefore) Vậy nên chúng ta đừng lên án lẫn nhau nữa, nhưng quyết định không làm trở ngại hay gây cớ vấp ngã cho anh chị em mình (14:13);Tại sao? Vì mỗi chúng ta sẽ tường trình về chính mình với Đức Chúa Trời. (14:12)
Vậy, ta hãy đeo đuổi những việc đem lại hòa thuận và xây dựng nhau. (14:19). Tại sao? Vì vương quốc Đức Chúa Trời không phải là chuyện ăn uống, nhưng là sự công chính, bình an, vui mừng trong Đức Thánh Linh. (14:17)
Từ bài diễn văn của Chánh Án của Tòa Thẩm Phán tối cao HK John Roberts trong dịp lễ tốt nghiệp của học sinh lớp 9:
Now the commencement speakers will typically also wish you good luck and extend good wishes to you. I will not do that, and I’ll tell you why. From time to time in the years to come, I hope you will be treated unfairly, so that you will come to know the value of justice. I hope that you will suffer betrayal because that will teach you the importance of loyalty. Sorry to say, but I hope you will be lonely from time to time so that you don’t take friends for granted. I wish you bad luck, again, from time to time so that you will be conscious of the role of chance in life and understand that your success is not completely deserved and that the failure of others is not completely deserved either. And when you lose, as you will from time to time, I hope every now and then, your opponent will gloat over your failure. It is a way for you to understand the importance of sportsmanship. I hope you’ll be ignored so you know the importance of listening to others, and I hope you will have just enough pain to learn compassion. Whether I wish these things or not, they’re going to happen. And whether you benefit from them or not will depend upon your ability to see the message in your misfortunes.
Thường các diễn giả bắt đầu với lời chúc bạn may mắn và tốt đẹp đến bạn. Tôi sẽ không làm điều đó, và tôi sẽ cho bạn biết lý do tại sao. Thỉnh thoảng trong những năm tới, tôi hy vọng các bạn sẽ bị đối xử bất công, để các bạn biết được giá trị của công lý. Tôi hy vọng rằng bạn sẽ phải chịu sự phản bội bởi vì điều đó sẽ dạy cho bạn tầm quan trọng của lòng trung thành. Xin lỗi phải nói, nhưng tôi hy vọng bạn sẽ cô đơn theo thời gian để bạn không coi bạn bè là điều hiển nhiên. Tôi chúc bạn thiếu may mắn, một lần nữa, để theo thời gian, bạn sẽ ý thức được vai trò của cơ hội trong cuộc sống và hiểu rằng thành công của bạn không hoàn toàn xứng đáng và thất bại của người khác cũng không hoàn toàn do lỗi họ. Và khi bạn thất bại, là điều chắc sẽ xảy ra, tôi hy vọng thỉnh thoảng, đối thủ của bạn sẽ hả hê vì thất bại của bạn. Đó là một cách để bạn hiểu được tầm quan trọng của tinh thần thượng võ. Tôi hy vọng bạn sẽ bị phớt lờ để bạn biết tầm quan trọng của việc lắng nghe người khác, và tôi hy vọng bạn sẽ có đủ nỗi đau để học lòng trắc ẩn. Cho dù tôi có muốn những điều này cho bạn hay không, chúng chắc chắn sẽ xảy ra. Và việc bạn có được hưởng lợi từ chúng hay không sẽ phụ thuộc vào khả năng nhìn thấy bài học trong những bất hạnh của bạn.
