Tiếng Ra-chên Thương Khóc Con Mình
CHÚA phán như vầy: "Có tiếng than khóc tại Ra-ma, Tiếng khóc lóc xót xa. Đó là Ra-chên thương khóc con cái mình, Nỗi buồn thương khôn nguôi, Vì con cái bà không còn nữa." 16 CHÚA phán như vầy: "Con hãy ngưng tiếng khóc, Mắt con hãy ráo lệ." CHÚA phán: "Vì sẽ có phần thưởng cho công khó của con, Con cái con sẽ trở về từ đất quân thù." 17 CHÚA phán: "Có hy vọng cho thế hệ mai sau, Con cái con sẽ trở về bờ cõi mình. 18 Ta thật có nghe tiếng Ép-ra-im than khóc: "Con giống như con bê chưa thuần ách, Chúa đã sửa dạy con, và con đã chịu sửa dạy. Xin Chúa đem con về, để rồi con sẽ được trở về, Vì CHÚA là Đức Chúa Trời của con. 19 Sau khi con quay đi khỏi Chúa, Con đã ăn năn, Sau khi con hiểu biết, Con vỗ đùi tiếc nuối, Con xấu hổ tủi nhục, Con chịu sỉ nhục do tội phạm thời niên thiếu." 20 CHÚA phán: "Ép-ra-im có phải là con trai Ta yêu quý, Nâng niu không? Mỗi khi Ta nhắc đến nó, Ta nhớ nó da diết, Lòng Ta xúc động vì nó, Ta chắc chắn sẽ thương xót nó. (Giê-rê-mi 31:15-20 – BDM)
Bài giảng sáng nay là về tình yêu thương của một người mẹ với con cái trong gia đình, và cho cả đất nước, dân tộc. Trong tất cả tình cảm con người, không có tình cảm nào thiêng liêng, quí báu, cao cả, sâu thẳm, bao la như tình mẹ thương con. Đặc biệt yêu thương con đến nỗi hy sinh chính cả tính mạng mình cho con. Tuy nhiên theo lời KT thì tình yêu thương của ĐCT dành cho con dân Ngài còn thiêng liêng hơn, quí báu hơn, cao cả hơn, sâu thẳm hơn, bao la hơn cả tình mẹ thương con.
Tác giả đoạn KT này là một tiên tri tên Giê-rê-mi. Chúng ta còn biết và gọi vị tiên tri này là tiên tri than khóc. Tại sao? Bởi vì trong suốt 40 năm giảng lời Chúa, vua quan, dân chúng không ai nghe và tin lời ông tiên tri. Trái lại nhiều lần họ tìm cách để hãm hại thậm chí giết chết G.
Trong 5 câu KT này, tiên tri G. đề cập đến 1 địa điểm và 2 nhân vật và 2 tiếng khóc. Nhân vật thứ nhất tên Ra-chên, là một người mẹ qua đời khi sinh con. Nhân vật thứ hai là Ép-ra-im, cháu nội của Ra-chên. Tiếng than khóc thứ nhất hay như BDM là thương khóc là của một người mẹ cho các con mình. Tiếng khóc thứ hai là của các con cùng ĐCT khi ăn năn, hối cải tội lỗi đã phạm.
Trước hết 1 địa điểm. Địa điểm là Ra-ma Có tiếng than khóc tại Ra-ma, Tiếng khóc lóc xót xa. Tiếng than thở, khóc lóc đắng cay của ai? Của Ra-chên. Bà khóc cho con cái mình, sầu khổ đến nỗi không ai có thể yên ủi, làm nguôi ngoai bởi vì chúng nó không còn nữa. Từ không còn nữa đây có nghĩa là các con đã bị bắt đi, lấy đi khỏi mẹ bởi quân giặc. Một số chết nơi xứ xa. Nhân vật thứ hai trong đoạn KT là Ép-ra-im là ĐCT gọi là con rất thiết của ta, con mà ĐCT nhớ lắm và thương xót. Tôi sẽ giải thích hai nhân vật này là ai và liên hệ với nhau thế nào, và mang ý nghĩa gì trong ngày Lễ Mẹ.
Khi đọc đoạn KT này tôi thường nghĩ đến một bài hát của nhạc sĩ Phạm Duy viết trong thời kháng chiến chống Pháp năm 1948 có tựa là Bà Mẹ Gio Linh. Bài hát dựa theo một câu chuyện có thật về hai người mẹ ở làng Mai Xá, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Hai người mẹ này có hai con bị giặc Pháp bắt rồi chặt đầu bêu ở đình làng rồi ra bến đò trước chợ. để làm cho dân chúng kinh sợ mà không còn ủng hộ kháng chiến. Khi nghe tin con bị giặc chặt đầu treo lên, hai bà mẹ ra chợ lấy đầu con bỏ vào thúng mà đem về chôn cất. Khi nghe câu chuyện thương tâm này, Phạm Duy viết bài hát Bà Mẹ Gio Linh. Bài hát có những câu vô cùng cảm động: Nghẹn ngào không nói một câu, mang khăn gói đi lấy đầu. Đường về thông xóm buồn teo, xa xa tiếng chuông chùa reo.
Những giọt nước mắt, nỗi khổ đau, than khóc của Ra-chên cho các con cũng sâu, dài, cao, rộng như bà mẹ Gio Linh, nếu không nói hơn thế nữa bởi vì sự than khóc này xảy ra hai lần cho các con thuộc hai vùng đất nước.
Ra-chên là vợ của Gia-cốp. Gia-cốp là cháu của Áp-ra-ham. KT cho biết R. rất khó thụ thai. Nhiều năm bà không sinh con được. Trong thời đó, phụ nữ không con bị xem như không được ơn của ĐCT, thậm chí bị rủa sả. Đến nỗi có lần trong sự đau buồn, Ra-chên nói với chồng là Gia-cốp: Anh phải cho tôi có con! Bằng không, tôi sẽ chết! (STK 30:1).
Rồi Chúa ban cho bà một mụn con. Bà đặt tên là Giô-sép có nghĩa ĐCT làm thêm cho, tăng lên. Nhiều năm sau đó, Chúa lại cho R. thụ thai lần thứ hai. Thiết nghĩ niềm vui lớn đến chừng nào. Nhưng sau khi sinh đứa con thứ hai R. qua đời. Câu chuyện thương tâm đó được viết trong STK 35:
Gia-cốp cùng gia đình bỏ Bê-tên ra đi. Khi gần đến Ép-ra-ta, Ra-chên chuyển bụng nhưng khó sinh. 17 Trong khi sinh khó khăn, Ra-chên nghe người nữ hộ sinh bảo: “Bà đừng sợ, vì bà sắp sinh một con trai nữa.” 18 Nhưng Ra-chên đã hấp hối, bà đặt tên con là Bên-ô-ni. Gia-cốp đặt tên con là Bên-gia-min. 19 Ra-chên qua đời và được an táng trên đường đến Ép-ra-ta, cũng gọi là Bết-lê-hem. 20 Gia-cốp dựng bia tại ngôi mộ Ra-chên, đến ngày nay vẫn còn. (STK 35:16-20 – BDM)
Rất khó cho chúng ta hiểu hết được cảm xúc của R. và Gia-cốp vì KT không chủ ý ghi lại chi tiết về cảm xúc của các nhân vật. KT cho chúng ta biết có lần R. nói với chồng khi thấy mình son sẻ, không con: Anh phải cho tôi có con! Bằng không, tôi sẽ chết! (STK 30:1). Điều đáng buồn là khi sinh đứa con thứ hai, R. mất!
Tên Bên-ô-ni R. đặt cho đứa con trai trước khi qua đời có nghĩa là con trai tôi sinh ra trong đau đớn, con trai của sự sầu khổ. Sau đó Gia-cốp đổi tên em bé sang Bên-gia-min, có nghĩa là con trai bên tay hữu ta. Tay hữu tượng trưng cho sức mạnh.
R. trả giá bằng chính mạng sống mình để sinh đứa con ơn phước cho G. Tôi nghĩ qv đồng ý với tôi rằng không có tình cảm nào thiêng liêng, quí báu, cao cả, sâu thẳm, bao la như tình mẹ thương con, không có sự hy sinh nào to lớn, vĩ đại hơn trong đời này hơn là sự hy sinh của đời mẹ cho con. Đây cũng là một thực tế trong đời: mẹ hy sinh cả đời mẹ thậm chí cả tính mạng để con có cuộc sống vui thỏa, phước hạnh. Mẹ hy sinh cả cuộc đời mẹ để con được sống và được phước hạnh.
Như mọi người đàn ông thời đó, G. có 2 người vợ: Lê-a và Ra-chên, và 2 thê thiếp: Bi-la và Xinh-ba. Trong 4 người đó, G. yêu thương R. hơn hết. Thiết tưởng hiếm có trong văn chương nào có thể mô tả về một tình cảm thắm thiết, sâu đậm, một tình yêu thương chân thật nhất như trong lời KT viết khi nói về tình yêu thương của G. cùng R.: Nhưng bởi yêu nàng, Gia-cốp xem bảy năm như đôi ba ngày. (STK 29:20)
Tình yêu thương của G. dành cho R. cũng được thấy rất rõ khi phải đối diện với Ê-sau, người anh mà G. đã cướp quyền trưởng nam. KT viết: Gia-cốp ngước mắt nhìn, và kìa, Ê-sau đang dẫn bốn trăm người tiến đến. Gia-cốp liền chia các con cho Lê-a, Ra-chên, và hai nữ tì. 2 Ông xếp cho hai nữ tì và các con của họ đi trước, rồi đến Lê-a và các con bà, và sau cùng là Ra-chên và Giô-sép. (STK 33:1-2). Còn G. thì đi đầu đoàn để gặp Ê-sau. Tại sao G. lại xếp cho Ra-chên và Giô-sép đi sau chót? Rất dễ hiểu. Bởi vì nếu Ê-sau trả thù, hãm hại G. thì R. & Giô-sép còn có thời gian để chạy trống. Điều này cho thấy rất rõ con tim, tình yêu thương của G. dành cho R. và Giô-sép thế nào!
Trước khi qua đời, trong lời trối trăn cùng đứa con yêu dấu nhất Gia-cốp nhắc đến R., người vợ mà ông yêu thương đến nỗi xem 7 dài làm việc khó nhọc như mới vài hôm trước đó. Vì khi từ Pha-đan trở về Ca-na-an thì cha đau lòng chứng kiến Ra-chên chết dọc đường, gần Ép-ra-ta. Cha đã chôn mẹ con bên đường đi Ép-ra-ta (tức là Bết-lê-hem). (STK 48:7 – BDM)
Cho đến hôm nay, ngôi mộ của R. vẫn còn là di tích lịch sử và là nơi thánh cho cả 3 tôn giáo lớn nhất thế giới: Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Cơ-đốc Giáo. R. được cả 3 tôn giáo xem là một người mẹ đáng tôn kính.
Nhân vật thứ hai trong Giê-rê-mi 31:15-20 là Ép-ra-im. É. là con trai thứ hai của Giô-sép, tức là cháu nội của Gia-cốp và Ra-chên. Dù là con thứ nhưng khi G. chúc phước cho hai con Giô-sép, ông lại chọn É để đặt trước Ma-na-se: 17 Khi Giô-sép thấy cha đặt tay phải trên đầu Ép-ra-im thì không bằng lòng, nên ông cầm tay cha đổi từ đầu Ép-ra-im sang đầu Ma-na-se. 18 Ông nói: “Thưa cha, không phải vậy. Đứa nầy mới là con cả, xin cha đặt tay phải trên đầu nó.” 19 Nhưng cha ông không chịu và nói: “Con ơi, cha biết rõ lắm. Ma-na-se sẽ trở thành một dân tộc và nó cũng sẽ lớn mạnh. Tuy nhiên em nó sẽ lớn hơn và dòng dõi em nó sẽ trở thành vô số nước. (STK 48:17-19). Chính theo lời chúc phước của Gia-cốp thì dòng dõi É sẽ trở thành vô số nước.
Đây chính là lý do trong đoạn KT Giê-rê-mi 31:15-20 tên É không phải chỉ nói đến một chi phái trong số 12 chi phái của dân Y-sơ-ra-ên nhưng là đại diện, tượng trưng cho cả xứ Ỵ sau khi đất nước chia cắt làm 2 phần. Miền Bắc gồm 10 chi phái gọi là Ỵ, cũng được gọi là Ép-ra-im. Miền Nam gồm 2 chi phái gọi là Giu-đa.
Ra-chên khóc vì các con chia rẽ đất nước và nhiều lúc lại xung đột, tranh chiến và giết hại lẫn nhau. Như Trịnh Công Sơn viết về người mẹ Việt Nam khóc cho các con trong cả hai miền Nam Bắc, chiến tranh tàn sát lẫn nhau.
Ra-chên khóc vì các con mình, thay vì đi trong đường ngay lẽ phải Chúa dạy, chọn đi ngược lại đường lối ĐCT. Bà khóc với ĐCT cho các con mình qua lời khẩn xin, cầu nguyện chân thành nhất, thống thiết nhất từ tận đáy lòng, con tim của một người mẹ cho các con mình. Bà cầu xin Chúa tha thứ và hồi phục lại các con mình.
Ra-chên cũng khóc vì các con trong cả hai xứ Y và Giu-đa bị giặc ngoại xâm chiếm đoạt cả xứ rồi bắt giải các con từ trong hai xứ làm nô lệ nơi xứ xa. Đầu tiên các con trong xứ Ỵ bị giặc A-si-ri bắt giải về xứ xa làm nô lệ vào năm 722 BC, tức khoảng 1200 năm sau khi Ra-chên qua đời (~1903 BC). Rồi khoảng 140 năm sau đó vào năm 586 BC, các con trong xứ Giu-đa lại bị giặc thù bắt giải về Ba-by-lôn làm nô lệ.
Nhiều người hỏi tại sao khi R. qua đời khi sanh Bên-gia-min, G. lại chôn bà trong một ngôi mộ đơn độc, chen ven bên đường đến Ép-ra-ta, cũng gọi là Bết-lê-hem thay vì chôn bà trong hang đá trong cánh đồng Mạc-bê-la, khu đất mà ông bà, cha mẹ của ông chôn cất, và cũng là chính nơi mà G. chôn Lê-a (STK 49:30)? Khu đất đó (thành Hebron) cách Bết-lê-hem chỉ độ chừng 22 km (14 miles) tức khoảng 4 hr – 5 hr nếu đi bộ.
Ra-chên lại khóc các con tại Ra-ma: Có tiếng than khóc tại Ra-ma, Tiếng khóc lóc xót xa. Đó là Ra-chên thương khóc con cái mình, Nỗi buồn thương khôn nguôi, Vì con cái bà không còn nữa." Hai lý do. Thứ nhất Ra-ma là một thành nhỏ cách thành Giê-ru-sa-lem 5-6 miles về phía bắc. Thành Ra-ma nằm tại ranh giới giữa hai xứ Ỵ miền bắc và xứ Giu-đa miền nam. Vậy có thể được xem là đại diện của dân cả hai xứ. Vậy khi Ra-chên khóc cho các con tại Ra-ma có nghĩa là bà khóc cho các con trong cả hai xứ Ỵ và Giu-đa, chứ không riêng gì cho xứ Y.
Thứ hai, Ra-ma cũng là một địa điểm tập trung nơi giặc Ba-by-lôn họp tất cả dân bị bắt lại một nơi trước khi giải làm nô lệ sang xứ xa. Đây cũng chính là nơi tiên tri Giê-rê-mi khi bị bắt giải đến để chuẩn bị đi sang xứ Ba-by-lôn: CHÚA phán với Giê-rê-mi sau khi tướng Nê-bu A-đan, chỉ huy trưởng đoàn vệ sĩ, trả tự do cho ông tại Ra-ma, đang khi ông bị xiềng và cùng với cả đoàn dân từ thành Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đa trên đường lưu đày qua Ba-by-lôn. (Giê-rê-mi 40:1 - BDM)
Thành Giê-ru-sa-lem là nơi giặc Ba-by-lôn tàn phá thành, đền thờ và bắt dân sự giải về xứ xa làm phu tù, nô lệ. Ngôi mộ bên đường của Ra-chên nằm trên con đường từ Giê-ru-sa-lem đến Ra-ma. Những người dân trong thành Giê-ru-sa-lem bị giặc thù bắt giải về xứ xa phải đi đến Ra-ma là điểm tập hợp trước khi giải sang Ba-by-lôn. Các tù nhân đó đều ngang qua con đường có ngôi mộ Ra-chên. Khi tay chân bị cùm, áo quần rách rưới tả tơi, bị giặc thù bắt giải về một nơi hoàn toàn xa lạ, đi ngang qua nhìn thấy ngôi mộ bên đường của Ra-chên, lòng họ phần nào được yên ủi nghĩ về người mẹ Ra-chên của dân tộc họ.
Vậy khi Giê-rê-mi viết về sự than khóc của Ra-chên tại Ra-ma, tiên tri hàm ý rằng Ra-chên là người mẹ của cả dân tộc Do Thái dù đã vì bất hòa mà chia cắt làm hai miền Ỵ và Giu-đa. Người mẹ dân tộc này khóc cho các con miền Ỵ đã bị giặc A-si-ri bắt làm phu tù xứ xa và khóc cho các con xứ Giu-đa bị vua Nê-bu-cát-nê-xa bắt giải sang xứ xa Ba-by-lôn.
Ai có thể yên ủi một người mẹ Ra-chên đau khổ khóc các con mình? KT cho biết chính ĐCT an ủi, động viên người mẹ này: CHÚA phán như vầy: "Con hãy ngưng tiếng khóc, Mắt con hãy ráo lệ." CHÚA phán: "Vì sẽ có phần thưởng cho công khó của con, Con cái con sẽ trở về từ đất quân thù." 17 CHÚA phán: "Có hy vọng cho thế hệ mai sau, Con cái con sẽ trở về bờ cõi mình.
Đúng như lời tiên tri Giê-rê-mi viết về lời hứa của ĐCT cùng người mẹ Ra-chên khóc các con mình bị bắt làm phu tù nơi xứ xa, 70 năm sau đó dân sự trở về lại thành Giê-ru-sa-lem để xây lại đền thờ.
Có người mẹ nào không có lần trong đời lại không than khóc, đổ nước mắt vì con mình, cho con mình? Khi con thất bại; khi còn vấp ngã, đi vào con đường lầm lạc ngày xa càng xa cách Chúa. Khi con bệnh tật, đau ốm, khi con không còn với mẹ. Hãy nhớ đến nôi đau khổ của Ra-chên. Chết vì chính con mình. Nhưng của là biểu tượng của người mẹ của các con cả hai vùng chia cách. Khóc cho các con hai lần bị giặc ngoại xâm giết hại rồi bắt giải về xứ xa. Có tiếng than khóc tại Ra-ma, Tiếng khóc lóc xót xa. Đó là Ra-chên thương khóc con cái mình, Nỗi buồn thương khôn nguôi, Vì con cái bà không còn nữa.
Nhưng chính ĐCT an ủi, động viên, khích lệ người mẹ trong nỗi khổ đau vì con, cho con: Con hãy ngưng tiếng khóc, Mắt con hãy ráo lệ." CHÚA phán: "Vì sẽ có phần thưởng cho công khó của con, Con cái con sẽ trở về từ đất quân thù." 17 CHÚA phán: "Có hy vọng cho thế hệ mai sau, Con cái con sẽ trở về bờ cõi mình.
Yên ủi lớn hơn hết cho Ra-chên và cho tất cả các bà mẹ sáng nay có thể đang khóc con mình là chính lời của ĐCT cùng đứa con ngỗ nghịch Ép-ra-im. Sau khi nó ăn năn, hối cải, than khóc thú tội mình với ĐCT: Ta thật có nghe tiếng Ép-ra-im than khóc: "Con giống như con bê chưa thuần ách, Chúa đã sửa dạy con, và con đã chịu sửa dạy. Xin Chúa đem con về, để rồi con sẽ được trở về, Vì CHÚA là Đức Chúa Trời của con. 19 Sau khi con quay đi khỏi Chúa, Con đã ăn năn, Sau khi con hiểu biết, Con vỗ đùi tiếc nuối, Con xấu hổ tủi nhục, Con chịu sỉ nhục do tội phạm thời niên thiếu.
Chính nhờ lời cầu nguyện khẩn thiết trong nỗi đau và nước mắt của mẹ mà các con hối cải, trở lại con đường của ĐCT. Chú ý những lời vô cùng trìu mến, yêu thương của ĐCT cùng đứa con đã biết hối cải và đã chịu sự sửa phạt của Cha thiên thượng: CHÚA phán: "Ép-ra-im có phải là con trai Ta yêu quý, Nâng niu không? Mỗi khi Ta nhắc đến nó, Ta nhớ nó da diết, Lòng Ta xúc động vì nó, Ta chắc chắn sẽ thương xót nó.
Duyên là giả dối, sắc lại hư không; nhưng người nữ nào kính sợ Đức Giê-hô-va sẽ được khen ngợi. Hãy ban cho nàng bông trái của tay nàng; khá để các công việc nàng ngợi khen nàng tại trong cửa thành.
(Châm Ngôn 31:30-31)
Con mắt nhạo báng cha mình, khinh sự vâng lời đối với mẹ mình, các con quạ của trũng sẽ móc mắt ấy, và các chim ưng con sẽ ăn nó đi. (Châm Ngôn 30:17)
Trong 10 điều răn, chỉ có điều răn thứ năm về sự hiếu kính cha mẹ có thêm một lời hứa cho các con vâng giữ mạng lệnh này. Để các người được sống lâu và được phước trên đất.
