Tạo Dựng Để Có Quan Hệ
Khi nghĩ đến KT nhiều người nghĩ đến một quyển sách tôn giáo khô khan, khó hiểu, xưa cũ, lỗi thời. Thật sự KT gồm những sách và đoạn khó hiểu. Tuy nhiên 66 sách đều có cùng một chủ đề xuyên xuốt: tình yêu thương của ĐCT cho con người thể hiện cụ thể qua sự cứu tội của ĐCJC. ĐCT yêu thương loài người, muốn cho con người biết Ngài, yêu mến Ngài, có quan hệ với Ngài.
Thập tự giá là biểu tượng cho niềm tin của người Cơ Đốc (Christian). Thập giá gồm hai phần: thanh chiều ngang nói lên quan hệ giữa người và người, và thanh chiều dọc về quan hệ giữa con người và Đức Chúa Trời. Căn bệnh cô đơn xảy đến khi chúng ta không có hay mất đi quan hệ hàng dọc với Đức Chúa Trời và quan hệ hàng ngang với người chung quanh.
Ba điều trong bài giảng: 1) Tạo dựng để có quan hệ; 2) Tội lỗi phá hủy quan hệ; 2) Căn bệnh cô đơn.
TẠO DỰNG ĐỂ CÓ QUAN HỆ
Loài người được Đức Chúa Trời sáng tạo không phải để sống lẽ loi, cô độc nhưng để tương giao với Chúa và với nhau. Sách đầu tiên của KT là STK viết về sự sáng tạo của ĐCT. ĐCT sáng tạo vũ trụ bao la mênh mông với hàng tỉ tỉ dãy ngân hà, với vô số hành tinh, thiên thể trong vũ trụ mênh mông đó. ĐCT sáng tạo trời đất, sông biển cùng các loài sinh động vật trên trời, trên đất và dưới đất. ĐCT sáng tạo những sự vật này thế nào? ĐCT phán thì sự vật hiện hữu.
Tuy nhiên sự mênh mông, không cùng tận của vũ trụ, sự bao la, sâu thẳm của trời đất, biển cả, sự kỳ diệu của các loài sinh động vật trên trời, dưới đất, sông biển không phải là đỉnh cao của sự sáng tạo của ĐCT. Đỉnh cao của mọi sự sáng tạo vô cùng kỳ diệu, mầu nhiệm từ một ĐCT toàn năng là con người. Vương miệng sáng chói nhất, đẹp đẽ nhất, đáng quí trọng nhất, giá trị nhất so với tất cả mọi sự vật khác trong sự sáng tạo của ĐCT là con người.
KT viết như sau: 26Đức Chúa Trời phán: “Chúng Ta hãy tạo nên loài người theo hình ảnh Chúng Ta và giống như Chúng Ta, để quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài gia súc, và khắp cả đất, cùng mọi loài bò sát trên mặt đất. 27Đức Chúa Trời sáng tạo loài người theo hình ảnh Ngài. Ngài sáng tạo loài người theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Ngài sáng tạo người nam và người nữ. (STK 1:26-27)
3 lần đoạn KT này lập lại một ý vô cùng quan trọng: con người được sáng tạo theo hình ảnh ĐCT. Trong tất cả các vật được sáng tạo, chỉ có con người được tạo trong hình của ĐCT. Lời dạy này có những ý nghĩa vô cùng sâu sa, ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong đời sống con người: phẩm giá hay giá trị con người; nhân quyền – như quyền tự do, bình đẳng; quan hệ - hôn nhân, gia đình, giữa người và người trong xã hội; khả năng lý luận, sáng tạo và dự tính của con người.
Chỉ khi tạo dựng loài người Chúa mới dùng từ chúng ta, tức số nhiều. Không phải Ta nhưng là Chúng Ta. Điều này có nghĩa gì? Qv chắc có nghe về một niềm tin đặc thù của Cơ Đốc Giáo (Christianity) là Ba Ngôi ĐCT. ĐCT cùng một thể chất nhưng gồm ba thân vị: ĐCCha, ĐCJC và ĐTL. Vì thời gian, tôi không thể giải thích về niềm tin này. Tuy nhiên tôi có thể giải thích về một thể hiện cụ thể của niềm tin này: quan hệ, tình yêu thương.
Vì ĐCT gồm 3 thân vị, 3 Ngôi nên trong Ngài đã có quan hệ, đã yêu thương nhau, đã có sự hiệp từ đời đời cho đến đời đời. Quan hệ, tình yêu thương này đã hiện hữu giữa Cha và Con và TL từ trước khi sáng thế, trước khi con người được sáng tạo. Đây chính là lý do KT viết: ĐCT là tình yêu thương (1 Giăng 4:8).
Nếu ĐCT chỉ là một thân vị thì làm sao có thể nói ĐCT là tình yêu thương. Bởi vì yêu thương phải có đối tượng. Chính vì ĐCT là tình yêu thương nên khi sáng tạo con người trong hình Ngài, con người mới khả năng yêu thương, mới có lòng khao khát được yêu thương, khao khát có quan hệ và duy trì quan hệ. Đây là một khác biệt quan trọng và chính yếu giữa niềm tin Cơ Đốc và các tôn giáo, triết lý khác.
Và nếu quan hệ, tình yêu thương giữa Ba Ngôi ĐCT từ đời đời cho đến đời đời không hề có sự chia rẽ, phân cách, nhưng tuyệt đối, trọn vẹn, thống nhất, hiệp một thì hễ càng giống hình ĐCT bao nhiêu thì quan hệ đó càng có sự chung thủy, hiệp một, trọn vẹn bấy nhiêu.
Loài người được Chúa tạo dựng không phải để sống đơn chiếc, lẽ loi, cô độc, tách biệt với nhau, nhưng để có quan hệ. Quan hệ với ĐCT và quan hệ với nhau. Như Ba Ngôi ĐCT đã có quan hệ với nhau từ đời đời cho đến đời đời.
Giáo điều về Ba Ngôi ĐCT là một giáo điều vô cùng phức tạp, khó hiểu. Nhưng ý nghĩa và áp dụng của giáo điều này rất rõ ràng trong sự thông công, trong quan hệ giữa người và người, giữa tín đồ trong HT. ĐCT tạo con người theo hình Ngài, tức để con người sống với quan hệ, sống trong quan hệ.
Đây chính là lý do KT dùng hình ảnh của đầu và thân để nói về HT và các tín đồ là chi thể của thân. Chúng ta cần nhau, chúng ta cần Đấng Christ. Người tin Chúa không thể nói chỉ tôi với Chúa. Nói như vậy là phủ nhận lời Chúa phán khi Ba Ngôi ĐCT tạo dựng loài người ở một mình không tốt. Là phủ nhận ý nghĩa và giá trị của quan hệ giữa Ba Ngôi ĐCT, giữa ĐCCha, ĐCJC và ĐTL.
Trong các tôn giáo khác, hoặc đơn thần hoặc đa thần. Tôi không biết có một tôn giáo đa thần nào mà các thần có quan hệ gần gũi, mật thiết, huống chi đến hiệp một cách trọn vẹn. Còn đơn thần thì có nghĩa gì cho quan hệ? Có nghĩa là trước khi thần đó sáng tạo thiên sứ, sáng tạo các loài sinh động vật, sáng tạo con người thì thần đó không có quan hệ với ai khác ngoài chính mình. Có nghĩa là quan hệ chỉ bắt đầu có sau khi con người được sáng tạo. Vậy quan hệ đến sau sự tạo dựng, quan hệ là hàng thứ phụ, quan hệ chỉ là một sản phẩm thứ phụ.
Nhưng Ba Ngôi ĐCT có nghĩa là quan hệ đã hiện hữu từ đời đời, trước khi mọi vật, mọi loài, gồm cả loài người được sáng tạo. Có nghĩa là ĐCT là một cộng đồng, nếu tôi có thể dùng chữ này để nói về Ba Thân Vị khác nhau nhưng là tuyệt đối là một trong quan hệ, hoàn toàn không có sự bất đồng, không có sự tranh cải, không có sự ganh tị, hờn giận, không có sự so sánh trong việc làm. Hiểu rõ điều này thì khi đọc lời cầu nguyện của ĐCJC cho các môn đồ chúng ta mới hiểu lý do Chúa cầu nguyện: Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hoàn toàn hiệp nhất.
Trong tất cả mọi điều ĐCT tạo dựng, KT cho biết Chúa đều thấy là tốt lành (STK1:10, 12, 18, 21, 25). Đến nỗi sau đó KT viết ĐCT thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành (1:31): Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Tuy nhiên chỉ có một điều ĐCT không thấy là tốt lành. STK 2:18 GHV ĐCT phán rằng: Con người ở một mình không tốt! Ta sẽ dựng nên cho người một kẻ giúp đỡ thích hợp. (STK 2:18)
Ở một mình không tốt, có nghĩa là cần có quan hệ; nếu không có quan hệ là không tốt, là còn thiếu sót, chưa toàn thiện, là chưa giống như hình ĐCT, không phải chỉ Ta số ít, nhưng Chúng ta, Ba Ngôi số nhiều.
Vì loài người được chúng ta, ba ngôi ĐCT tạo dựng nên cần phải có quan hệ. Quan hệ không phải là một cần thiết cho đời sống con người. Loài người phải có quan hệ, nếu không là không tốt! Nên khi A-đam chưa có E-va thì Chúa bảo đó là điều không tốt.
Ở một mình không tốt, có nghĩa là sự cô độc là điều không tốt; vì con người không có quan hệ thì không phản ánh được chúng ta, ba Ngôi hiệp một. Tác giả John Milton nhận xét về điều này như sau: Loneliness is the first thing which God's eye named, not good – Cô đơn là điều đầu tiên mắt Chúa nhìn thấy và Ngài gọi là không tốt.
TỘI LỖI PHÁ HỦY QUAN HỆ
ĐCT tạo dựng con người để có quan hệ với ĐCT và với nhau. Nhưng tội lỗi phá hủy cả hai quan hệ hàng dọc với ĐCT và hàng ngang giữa người và người. Phá hủy bằng cách nào? Bằng cách gây ra sự ngăn cách, chia rẽ, bất hòa, xung đột trong 4 lãnh vực sau đây: 1) Quan hệ với ĐCT (hàng dọc); 2) Quan hệ với nhau (hàng dọc); 3) Nội tâm chúng ta (ai lại không có tranh đấu giữa dục vọng và ý chí, giữa thiện và ác, giữa tiếng lương tâm và đòi hỏi của thể xác… PL, gọi là cuộc chiến tranh trong tôi, cuộc chiến nội tâm; 4) Với thiên nhiên, môi trường. [Bài giảng tới về những biểu hiện cụ thể của tội lôi gây ngăn cách trong quan hệ: ích kỷ, kiêu ngạo, sợ hãi, oán hận (thù hận)]
Sau khi phạm tội, cảm xúc của A-đam & E-va với ĐCT không còn là yêu kính nhưng là sợ hãi, không còn mong đến gần nhưng tránh xa. Giê-hô-va Đức Chúa Trời kêu A-đam và hỏi: “Con ở đâu?” 10A-đam thưa: “Nghe tiếng Chúa trong vườn, con sợ nên đi trốn, vì con trần truồng.” (STK 3:9-10 – BHĐ). Tội lỗi khiến A-đam ý thức lần đầu tiên rằng ông lõa lồ. Không phải chỉ về thể xác nhưng quan trọng hơn là ý thức về điều sai quấy, tội lỗi đã phạm, không muốn ai thấy biết những gì sâu kín nhất trong tâm hồn, suy nghĩ. Trước đó ĐCT đi dạo vào buổi chiều mát cùng 2 người, nay họ lẫn trốn khỏi ĐCT. Quan hệ hàng dọc hoàn toàn bị phá hủy bởi tội lỗi.
Sau khi phạm tội, quan hệ giữa A-đam & E-va, vợ và chồng không còn như khi mới được sáng tạo trong hình ĐCT: hoàn toàn yêu thương, chân thật với nhau, hoàn toàn bình đẳng với nhau, hoàn toàn hiệp một. Ngài phán cùng người nữ rằng: Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn mỗi khi sanh con; sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng, và chồng sẽ cai trị ngươi. 17 Ngài lại phán cùng A-đam rằng: Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn. (3:16-17)
Tội lỗi thay đổi quan hệ từ sự hiệp một, hòa thuận trở nên dục vọng, cai trị. Xu hướng áp chế, thống trị trên nhau. Xu hướng lạm dụng và vượt quá quyền hạn. Quyền hạn Chúa ủy thác trở nên công cụ để áp chế.
Hơn thế nữa, tội lỗi khiến mọi người đổi họ! Nếu có ai hỏi chúng ta có biết họ ông A-đam là gì hay không thì quí vị trả lời sau? Tôi nói ông họ đổ, đổ thừa cho ĐCT, đổ thừa cho vợ mình: Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái cây đó và tôi đã ăn rồi. (STK 3:12) Tại Chúa để người nữ gần bên tôi nên mới có chuyện này! Cả E-va cũng đổi họ đổ: Con rắn dỗ dành tôi và tôi đã ăn rồi. Rồi tội lỗi đầu tiên giữa người và người là gì? Là thảm sát giữa hai anh em ruột thịt trong gia đình, Ca-in và A-bên. Vì lòng ghen tị khi thấy ĐCT nhận của lễ dâng của em A-bên mà Ca-in giết chết em mình.
Sứ đồ Giăng viết: Chúng ta đã biết và tin sự yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Đức Chúa Trời tức là sự yêu thương, ai ở trong sự yêu thương, là ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy. 17 Nầy vì sao mà sự yêu thương được nên trọn vẹn trong chúng ta, hầu cho chúng ta được lòng mạnh bạo trong ngày xét đoán, ấy là Chúa thể nào thì chúng ta cũng thể ấy trong thế gian nầy. 18 Quyết chẳng có điều sợ hãi trong sự yêu thương, nhưng sự yêu thương trọn vẹn thì cắt bỏ sự sợ hãi; vì sự sợ hãi có hình phạt, và kẻ đã sợ hãi thì không được trọn vẹn trong sự yêu thương. (1 Giăng 4:16-18)
Một cụm từ vô cùng trong KTTU là lẫn nhau, cho nhau, cùng nhau, vì nhau, với nhau. ĐCT tạo dựng con người theo hình Ngài để con người sống với quan hệ, trong quan hệ, để sống với nhau, cùng nhau, cho nhau, vì nhau. Vì thời gian tôi chỉ xin chiếu lên đây 31 câu KT gồm các cụm từ này. Tuy nhiên vì tội lỗi nên thay vì sống lẫn nhau, cho nhau, cùng nhau, vì nhau, với nhau, mỗi người chỉ sống cho chính mình.
Tội lỗi làm cho con người sợ hãi, tránh né ĐCT và sợ hãi, xa cách nhau. Tội lỗi phá hủy tình yêu thương mà ĐCT dự định cho chúng ta: một tình yêu thương thật sự trọn vẹn đem đến sự hòa thuận, hiệp một như ĐCT là một.
CĂN BỆNH CÔ ĐƠN
Loài người được Chúa tạo dựng không phải để sống đơn chiếc, lẽ loi, cô độc, tách biệt với nhau, nhưng để có quan hệ. Quan hệ với ĐCT và quan hệ với nhau. Tội lỗi phá hủy quan hệ, gây ra sự cô độc, tách biệt nhau. Sự cô độc, lẽ loi trong đời sống một người là một bất hạnh lớn nhất. Sự trừng phạt ghê sợ nhất trong tù ngục là biệt giam hoàn toàn cách ly với mọi người, tức là người tù chỉ ở một mình, hoàn toàn không được giao tiếp với một ai.
Một căn bịnh nguy hiểm và ngặt nghèo nhất của loài người qua các thời đại không hẳn là ung thư nhưng là căn bệnh cô đơn. Cho đến nay không có một loại thuốc nào có thể chửa được bệnh cô đơn. Bác sĩ không thể cho toa để người bệnh mua thuốc uống. Bác sĩ cũng không thể giải phẩu để lấy ra sự cô độc, trống vắng, lẽ loi trong lòng người mắc bệnh.
Người cô độc khi vui cũng không thể chia sẻ cùng ai, lúc buồn cũng chẳng có ai để hàn huyên, tâm sự. Có cũng không thể san sớt, thiếu cũng đành gánh chịu một mình. Người mang căn bệnh cô đơn như một thân cây bị sâu ăn hại từ trong nên dù có tưới nước, bón phân đến mấy, cây cũng tàn tạ, héo úa, rồi dần dà chết đi.
Chúng ta tự hỏi tại sao trong xã hội văn minh nhất, đầy đủ nhất về vật chất (thậm chí dư thừa), với mọi phương tiện truyền thông toàn cầu dễ dàng, thuận lợi, luôn có sẵn trong tay mà thế hệ trẻ hôm nay lại cảm thấy lẽ loi, cô đơn như vậy? Chẳng phải thanh niên thiếu nữ có hàng 100, 1000 bạn trên mạng Facebook, Snapchat hay sao?
Văn hào nổi tiếng Pearl Buck viết về thảm họa cô đơn như sau: Một người sống cô độc không thể thành công như một con người. Con tim của họ sẽ héo úa nếu không trả lời một con tim khác. Trí tuệ của họ sẽ nhỏ hẹp nếu chỉ nghe tiếng vọng của chính suy nghĩ mình và không tìm được một khích lệ nào nơi người khác. (The person who tries to live alone will not succeed as a human being. His heart withers if it does not answer another heart. His mind shrinks away if he hears only the echoes of his own thoughts and finds no other inspiration.) Mẹ Terasa xác nhận: Sự nghèo khổ kinh khiếp nhất là sự cô độc và cảm giác không được yêu thương. (The most terrible poverty is loneliness, and the feeling of being unloved)
Trong sách Truyền Đạo 4:7-8, vua Sô-lô-môn viết, "Ta bèn xây lại xem thấy sự hư không ở dưới mặt trời: Nầy một người cô độc, chẳng có ai hoặc con trai hay là anh em; dầu vậy, người lao khổ không thôi, mắt chẳng hề chán của cải; người không hề nghĩ rằng: Vậy, ta lao khổ, ta bắt linh hồn nhìn các phước là vì ai? Điều đó cũng là hư không, thật là công việc cực nhọc". Sô-lô-môn đã định rõ căn bệnh cô đơn gồm hai triệu chứng. Triệu chứng thứ nhất là "chẳng có ai" và triệu chứng thứ hai là "chẳng vì ai".
Người cô độc là người chẳng có ai để có thể gọi là thân bằng quyến thuộc hay láng giềng, bè bạn. Họ có thể quen biết nhiều người nhưng khi có chuyện hữu sự không tìm được một người để hàn huyên, tâm sự, tìm được một người để nghe được tiếng động viên, an ủi hay một lời khuyên bảo, dỗ dành.
Người cô độc có triệu chứng "chẳng có ai" có thể bởi vì họ mãi chạy đuổi theo vật chất, của cải như Sô-lô-môn viết, họ "lao khổ không thôi, mắt chẳng hề chán của cải". Của cải có thể mua được cơn vui, làm khuây khoả nỗi buồn chán nhưng không thể nào lấp đầy khoảng trống vắng trong tâm hồn từ sự cô đơn. Người cô độc còn là người sống chẳng vì ai như Sô-lô-môn đã định bệnh, "người không hề nghĩ rằng: vậy, ta lao khổ, bắt linh hồn nhìn các phước là vì ai?"
Chúng ta trở nên cô độc khi chỉ biết sống cho mình, bởi mình, vì mình. Người cô đơn thường là người không đếm xỉa đến người chung quanh, mặc ai ai sống chết thế nào cũng không màng đến. Cũng có thể đây là người độc đoán, chuyên quyền nên mọi người đều sợ hãi xa lánh.
Tìm được triệu chứng của bệnh dù là bước quan trọng nhưng chưa đủ nếu không có cách thức phòng chửa. Liều thuốc chửa cho căn bệnh cô đơn được vua Sô-lô-môn giải thích như sau: Hai người hơn một, vì họ sẽ được công giá tốt về công việc mình. Nếu người này sa ngã, thì người kia sẽ đỡ bạn mình lên; nhưng khốn thay cho kẻ ở một mình mà sa ngã, không có ai đỡ mình lên! Cũng vậy, nếu hai người ngủ chung thì ấm; còn một mình thì làm sao ấm được? Lại nếu kẻ ở một mình bị người khác thắng, thì hai người có thể chống cự nó; một sợi dây ba ta lấy làm khó đứt. (Truyền Đạo 4:9-12)
Đoạn Kinh Thánh này không chỉ dành cho những người đã lập gia đình hay dự định sẽ lập gia đình. Hôn nhân không phải là liều thuốc để chửa căn bệnh cô đơn nếu lấy vợ, lấy chồng chỉ để có người phục vụ, hầu hạ mình, để người phối ngẫu cung phụng mọi điều mình muốn! Lời viết dạy này ứng dụng trong mọi quan hệ của đời sống, từ hôn nhân, tình thân quyến gia đình, tình bạn hữu và cả cho những anh chị em trong hội thánh.
Vua Sô-lô-môn nêu lên ba lý do để giải thích về sự cần thiết và tầm quan trọng của quan hệ với Đức Chúa Trời và người trong đời sống. Lý do thứ nhất là vì tất cả chúng ta chắc chắn có lúc sẽ sa ngã, vấp phạm, Nếu người này sa ngã, thì người kia sẽ đỡ bạn mình lên; nhưng khốn thay cho kẻ ở một mình mà sa ngã, không có ai đỡ mình lên!
Sa ngã vì chính lỗi lầm của mình, hay vì sự yếu đuối, mềm lòng trong một giây phút dại dột, nông nổi nhất thời. Cũng có thể đó là một vấp phạm mà đến giờ khi nghĩ lại vẫn còn thấy tủi hổ. Có ai dám tự hào rằng mình chưa bao giờ và sẽ không bao giờ sa ngã, phạm lỗi lầm? Tuy nhiên người có quan hệ với Đức Chúa Trời và với thân quyến, bè bạn sau khi vấp ngã biết thú tội, ăn năn sẽ được tha thứ, nâng đỡ, hồi phục để có thể đứng lên mà tiếp tục bước tới.
Còn người cô độc thì thật đau khổ như lời Kinh Thánh viết, khốn thay cho kẻ ở một mình (hay kẻ cô độc) mà sa ngã không có ai đỡ mình lên! Chúng ta có thể thay vào từ khốn thay bằng từ đau khổ thay, bất hạnh thay, đáng thương thay. Ai sẽ nâng đỡ chúng ta đứng lên khi vấp ngã? Ai sẽ yêu thương, tha thứ, hồi phục chúng ta sau khi phạm lỗi, phạm tội trong đời sống?
Lý do thứ hai Sô-lô-môn nhắc dạy chúng ta cần có quan hệ với Đức Chúa Trời và người là vì mọi người đều sẽ có lúc nản lòng, thất chí, mất đi sức sống, sự hăng hái phấn khởi lúc ban đầu, Cũng vậy, nếu hai người ngủ chung thì ấm; còn một mình thì làm sao ấm được? Vua Sô-lô-môn dùng hình ảnh của hai người ngủ chung thì ấm. Dĩ nhiên khi nghe lời này lập tức chúng ta nghĩ đến vợ chồng chung giường, chung gối được ấm áp. Nhưng lời viết này còn hàm ý về sự nguội lạnh, mất đi ý chí và cần được giúp đở để hâm nóng lại bầu nhiệt huyết hay sự phấn khởi lúc ban đầu.
Khi bắt đầu một công việc mới, mở một cửa tiệm mới, hay vừa mới lập gia đình, chúng ta vui vẻ, thích thú, nôn nả lắm. Đêm ngủ chỉ mong trời sáng để ra tiệm, để đến hảng xưởng. Mới cưới nhau, trai gái cả ngày bồn chồn chỉ mong về nhà để gặp người vợ, người chồng của mình. Nhưng với thời gian, công việc trở nên bình thường rồi dần dà nhàm chán. Hôn nhân cũng mất đi ngọn lửa ái tình của thưở ban đầu. Lòng chúng ta trở nên nguội lạnh, dững dưng, rồi trở nên nản lòng, thất chí.
Tôi chắc rằng tất cả mọi người đều kinh nghiệm được điều này. Lúc ấy ai sẽ là người giúp chúng ta khơi lại ngọn lửa nhiệt thành trước đó? Có ai bên cạnh chúng ta để động viên, khích lệ? Có ai đó làm ấm lại lòng của quý vị trước cuộc đời đều đặn đến độ tẽ nhạt, buồn chán hằng ngày?
Hay như nhà văn Nguyễn Ngọc Tư trong một câu truyện ngắn “Biển Người Mênh Mông” viết về sự cô đơn, trống vắng dù ngay giữa đám đông người: Ngày ngày kẹt giữa đám đông, chen chút trên những con đường đông nghịt người, nhiều khi tôi giật mình, trời ơi, họ kia, đồng loại mình kia, sao mình lại cô đơn đến rã rời... Lúc ấy, tôi có một cảm giác kỳ lạ, chỉ mình trên đời này, chỉ một mình. Chẳng ai là tri âm, chẳng ai cả.
Có bao giờ quý vị kinh nghiệm như Đa-vít trong lúc hoạn nạn, Kẻ khinh miệt đập lòng con tan nát. Người thông cảm, con tìm nào có thấy, người an ủi, con mong nào có ai. Họ trộn mật đắng cho con ăn, đưa dấm chua, khi con kêu khát!" (Thi Thiên 69:20-21 - BDY). Khi hoạn nạn không tìm ra được người cảm thông, trợ giúp; trái lại chỉ có người gây thêm sầu khổ, đắng cay như cho ăn mật đắng, uống nước dấm chua! Chính trong những giờ phút lẽ loi, cô độc, đau buồn đó chúng ta mới ý thức mình cần Đức Chúa Trời, cần tình thân quyến hơn tất cả vật chất trong đời.
Lý do thứ ba: Lại nếu kẻ ở một mình bị người khác thắng, thì hai người có thể chống cự nó. Vua Sô-lô-môn nhắc rằng tất cả chúng ta rồi cũng sẽ bị chỉ trích, tấn công, thậm chí hãm hại. Bị chỉ trích dù khi biết mình làm sai đã là một điều không dễ chấp nhận, nhưng bị người tấn công vô cớ, bị người hãm hại cách oan uổng thì thật đáng giận lắm.
1 Ta xây lại, xem xét mọi sự hà hiếp làm ra ở dưới mặt trời; kìa, nước mắt của kẻ bị hà hiếp, song không ai an ủi họ! Kẻ hà hiếp có quyền phép, song không ai an ủi cho kẻ bị hà hiếp! (TĐ 4:1)
Có những người hiền hòa, nhân từ, vui vẻ, tử tế với mọi người hết sức mà vẫn bị người ta dèm pha, nói xấu, thậm chí hãm hại. Lúc đó, ai cũng mong được có người bên cạnh để minh oan, bênh vực, thậm chí để chống trả lại những vu khống. Người có mạnh mẽ đến mấy chắc cũng sẽ có lúc kiệt quệ, đuối sức trước những cơn tấn công dồn dập, tưởng như không bao giờ chấm dứt từ những kẻ thù ghét mình.
Tục ngữ Thụy Điển có câu, Niềm vui chung hưởng tăng gấp hai lần, nỗi buồn san sớt vơi phân nữa. Hay một châm ngôn khác: Đi một mình, bạn có thể chạy nhanh, nhưng đi với nhiều người, bạn mới có thể đi xa. Tôi thiết nghĩ không có ơn phước nào lớn hơn trong đời sống là tình thân quyến và quan hệ với Đức Chúa Trời. Người nghèo khó về tài của vẫn cảm thấy giàu có khi được yêu thương, quí trọng bởi gia đình, bạn hữu, khi biết rằng họ được Chúa tha tội và yêu thương. Kẻ giàu có trở nên nghèo khó khi bị gia đình, thân quyến ruồng bỏ, xa lánh, khi không có quan hệ với Chúa.
Không một người nào trong những giờ phút cuối đời lại tiếc nuối được thêm một giờ, một ngày làm việc hay được thêm một căn nhà nghĩ mát. Tất cả những người tôi có dịp chứng kiến trong những ngày tháng, giờ phút cuối đời đều mong mỏi được nhìn thấy những khuôn mặt thân thương, được nghe lại tiếng của những người yêu mến, được nhận một cái vuốt ve, được nghe một lời cầu nguyện.
Có vật chất nào đổi lấy được quan hệ, tình thân trong những giờ phút cô độc, lẽ loi, khi một người sắp từ giả cõi đời? Câu trả lời là trăm lần không, vạn lần không. Đúng như Sô-lô-môn đã viết: Người mở mắt chào đời với hai bàn tay trắng, nhắm mắt lìa đời, trắng đôi bàn tay. Người ra đi, trong tay chẳng mang theo được gì do công lao khó nhọc mình làm ra. 16 Đây quả là một tai họa đau thương: Người vào đời thể nào, cũng sẽ ra đi thể ấy. (Truyền Đạo 5:15-16 – BDM)
Trong thư gởi các tín hữu tại hội thánh thành Cô-rinh-tô, sứ đồ Phao Lô đã viết những lời kêu gọi hết sức cảm động về tình thân: Thưa anh chị em tại Cô-rinh-tô, chúng tôi nói với anh chị em một cách thẳng thắn, lòng chúng tôi rộng mở đối với anh chị em. 12Chúng tôi không hẹp hòi đối với anh chị em, nhưng chính lòng anh chị em hẹp hòi. (2 Cô-rinh-tô 6:11-12 – BHĐ). Tình thân chỉ được xây dựng, bồi đắp khi hai người chân thành mở rộng cánh cửa lòng để có thể tỏ bày, chia sẻ. Khi một bên đóng kín cửa lòng, tình cảm sẽ chết ngột.
Vâng, sứ đồ Phao-lô cũng biết rằng khi chúng ta mở lòng ra thì có thể sẽ gặp thất vọng, chịu tổn thương, thậm chí mất mát. Chính ông cũng đã kinh nghiệm điều này khi bị các tín hữu tại hội thánh phê bình, chỉ trích, dèm pha dù đã hết lòng yêu thương, phục vụ họ.
Đức Chúa Jê-sus Christ cũng đã kinh nghiệm điều này. Dù chính Chúa đã chọn 12 sứ đồ, yêu thương, hết lòng dạy dỗ họ trong suốt ba năm trời, Giu-đa Ít-ca-ri-ốt cuối cùng phản bội, bán thầy mình cho kẻ thù, Phi-e-rơ chối bỏ không nhận thầy, và 10 sứ đồ kia đều bỏ trốn khi Ngài bị bắt và xử tội cách oan uổng. Dù bị bội phản, không nhận, Đức Chúa Giê-xu vẫn yêu thương, tha thứ cho các sứ đồ đến cuối cùng, Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng (Giăng 13:1b).
Dù khi chịu nhục hình trên thập tự giá cho tội lỗi con người, Chúa vẫn yêu thương, tha thứ để mỗi chúng ta có cơ hội ăn năn, được hòa thuận lại cùng Đức Chúa Trời, Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết. (Rô-ma 5:8)
Khi mở lòng ra để tạo tình thân, chúng ta mạo hiểm. Nhưng giữa hai sự lựa chọn: đóng kín cửa lòng và mở rộng cửa lòng, chúng ta phải chọn làm theo lời Kinh Thánh dạy mà mở rộng lòng mình để đón nhận Chúa và người. Căn bệnh cô đơn chỉ được chửa lành khi chúng ta mở rộng lòng để có quan hệ với Chúa và người.
Giáo sư C.S. Lewis phân tích hết sức sâu sắc và ý nghĩa về hai sự chọn lựa này: Hễ yêu thì sẽ bị tổn thương. Yêu thương bất cứ điều gì, con tim của bạn chắc chắn sẽ bị vò xé và có thể tan vỡ. Nếu muốn giữ con tim mình hoàn toàn nguyên vẹn, bạn không nên trao nó cho bất cứ ai, ngay cả cho loài thú vật. Hãy gói tim mình một cách cẩn thận với vài thú vui, một chút xa hoa, hãy tránh tất cả những vướng víu tình cảm, rồi khóa nó an toàn trong quan tài của vị kỷ cá nhân. Trong quan tài ấy, an toàn, tối tăm, không động tĩnh, thiếu dưỡng khí, con tim bạn sẽ thay đổi. Nó sẽ không bao giờ tan vỡ, không bao giờ đau khổ, không bao giờ bị xâm nhập và cũng sẽ không bao giờ được cứu chuộc... Nơi duy nhất ngoài Thiên Đàng mà bạn có thể tuyệt đối an toàn bởi mọi nguy hiểm và sóng gió của tình cảm là Địa ngục. (C.S. Lewis, The Four Loves)
Tôi cầu mong qv hãy mở rộng lòng mình ra để đón nhận tình yêu thương vô bờ bến của Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Jê-sus Christ. Cũng hãy mở rộng lòng mình đối với những người quanh mình, đặc biệt cùng những người thân yêu trong gia đình, hội thánh. Đó chính là phương thuốc hữu hiệu nhất để chửa lành căn bệnh cô đơn.
Chúng ta biết rằng mình đã vượt khỏi sự chết qua sự sống, vì chúng ta yêu anh em mình. Còn ai chẳng yêu thì ở trong sự chết. (1 Giăng 3:14)
