Tấm Lòng Khao Khát Chúa
Một câu hỏi tín đồ thường hỏi mục sư và hỏi lẫn nhau là làm thế nào để biết chắc tôi được Chúa cứu, để biết tôi tăng trưởng trong đức tin, tôi thật sự sống đạo. TT 63 và 1 Giăng 1:1-4 là câu trả lời, là bằng chứng cụ thể, chắc chắn nhất của một người tin Chúa và tăng trưởng trong đức tin, thật sự sống theo lời KT dạy (sống đạo). TT 63 dạy chúng ta là người thật sự tin Chúa và tăng trưởng trong đức tin sẽ luôn có tấm lòng khao khát Chúa. 1 Giăng 1:1-4 dạy người đó có tấm lòng khao khát chia sẻ niềm vui về quan hệ với Chúa cho anh chị em trong Chúa và cho người chưa biết Chúa.
Không có gì quan trọng và cần thiết hơn cho đời sống đạo của một tín đồ là tấm lòng khao khát Chúa, có quan hệ ngày càng gần gũi, mật thiết hơn với Chúa, như Đa-vít thể hiện trong bài TT 63 đã nghe đọc.
Sống Đạo là gì? Sống là đời sống, cách sống. Đạo là đường, nói về lời dạy của ĐCT cho người tin Chúa trong KT. Dĩ nhiên lời dạy KT gồm cả luân lý, đạo đức. Vậy sống đạo có nghĩa là cách sống, đời sống của người tin Chúa dựa theo lời KT dạy, dựa theo đạo đức KT dạy.
Sống đạo là kết quả của quan hệ với Chúa, chứ không phải kết quả của sự cố gắng, nỗ lực cá nhân. Đây là một điểm chính yếu và quan trọng nhất trong niềm tin Cơ Đốc. Nếu ai trong qv đã và đang có niềm tin rằng tôi sống theo lời Chúa dạy trong KT là vì tôi cố gắng, nổ lực hơn các tín đồ khác, vì tôi có đức tin mạnh mẽ hơn; hay nghĩ rằng ĐCT chắc sẽ ban nhiều ơn phước hơn thêm vì tôi vâng giữ lời Chúa, qv đã hiểu sai Tin Lành theo lời KTTU dạy. Tại sao?
KT dạy tất cả mọi người đều được cứu nhờ ân điển bởi đức tin. Có nghĩa là nếu ĐTL không cảm động lòng dạ, tâm linh thì không một người nào tin nhận ĐCJC là Cứu Chúa đời họ cả. Điều này có nghĩa là trước khi tin Chúa, ĐTL đặt để ước muốn trong lòng một người để họ muốn tìm hiểu về Chúa, để tấm lòng của họ mềm mại lắng nghe và bắt đầu hiểu TL, và sau đó ăn năn, xưng tôi và tin Chúa. Bài hát Chạm Lòng Con có câu: Chạm lòng con Chúa ơi, ngay giờ này. Chạm lòng con để con luôn tin Ngài. Chạm lòng con Chúa ơi, ngay giờ này. Chạm lòng con để con luôn yêu Ngài. Nếu ĐTL không chạm lòng thì không ai có tin hay yêu Chúa cả!
Sau khi tin Chúa, chính ĐTL tiếp tục chạm lòng chúng ta để chúng ta có ý muốn sống, làm theo lời Chúa dạy và có lòng ngày càng yêu mến Chúa. Đây là lý do tôi cả quyết: đời sống đạo là kết quả của quan hệ với Chúa, chứ không phải là kết quả của nỗ lực, cố gắng cá nhân. Nói như vậy không có nghĩa là mỗi chúng ta không cố gắng, không nỗ lực.
Có người tóm tắt thế này: Chúng ta không làm việc lành để được cứu nhưng được cứu để làm việc lành. Tôi thêm: chúng ta không sống đạo để được cứu nhưng sau khi được cứu, phải sống đạo.
BỐI CẢNH THI THIÊN 63
Bản dịch cũ có đề tựa là Thơ Đa-vít làm, Khi người ở trong rừng vắng Giu-đa. Các bản dịch khác đều dịch là sa mạc (BDM, BPT, BDY), đồng hoang (BD2011) hay hoang mạc (BHĐ). Tiếng Hê-bơ-rơ là từ miḏbār, đồng vắng, nơi không cây cối, không bóng mát, nơi không có nước. Từ đồng vắng thường được dùng trong KT để nói đến nơi khó khăn, thử thách. Như đồng vắng dân sự đi trong 40 năm là nơi không nước uống, thức ăn, nơi ban ngày nắng nóng cháy da, ban đêm lạnh buốt thấu xương.
Đa-vít ở trong đồng vắng trong 2 giai đoạn của đời ông: trước và sau khi làm vua. Giai đoạn trước khi làm vua: khi bị vua Sau-lơ rượt đuổi, tìm bắt để giết phải bỏ chạy vào đồng vắng. Giai đoạn sau khi đã làm vua: khi bị con trai là Áp-sa-lôm tìm cách giết cha để soán ngôi cha mình mà lên làm vua. Trong câu 11, Đa-vít viết: Nhưng vua sẽ vui vẻ nơi Đức Chúa Trời. Hàm ý vua đây chính là tác giả, là Đa-vít. Nên chúng ta có thể kết luận TT 63 viết khi Đa-vít phải bỏ hoàng cung, chạy trốn vào sa mạc Giu-đa khi bị con trai Áp-sa-lôm tìm cách giết cha để soán ngôi vua.
Hiểu được một phần bối cảnh khi Đa-vít viết TT này giúp chúng ta càng quí giá lời ông viết càng hơn. Có hoàn cảnh nào đen tối hơn, đau thương nào to lớn hơn, nhục nhã nào nặng nề hơn, mất mát nào trầm trọng hơn là khi chính con trai của mình, máu mủ ruột thịt của mình, đứa con mà chính Đa-vít đã tha thứ về tội giết anh em, nay lại phản loạn cùng cha, âm mưu xách động quân dân soán ngôi vua của cha, thậm chí giết chính cha mình? Khi bị vua Sau-lơ ghen tức, tìm bắt, tìm giết vô lý, có thể Đa-vít còn cảm thông được, còn có thể chấp nhận nỗi khổ đau. Nhưng ai thấu hiểu hết được nỗi lòng đau xót, tủi nhục của một vị vua có công thống nhất đất nước, đem lại thái bình, thịnh vượng cho dân chúng, một anh hùng dân tộc lại bị chính con mình tìm giết để soán ngôi như tâm trạng của Đa-vít trong bài TT 63 này?
Tôi cũng tự hỏi tiên tri Na-than hay các thầy tế lễ hiểu biết lời Chúa lấy lời gì từ KT mà yên ủi, động viên, khích lệ vua Đa-vít khi vua bị Áp-sa-lôm xoán ngôi, tìm giết?
Nhưng thay vì trách móc ĐCT, Đa-vít bày tỏ tấm lòng khao khát Chúa trong bài TT này: Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa là Đức Chúa Trời tôi, vừa sáng tôi tìm cầu Chúa; Trong một đất khô khan, cực nhọc, chẳng nước, Linh hồn tôi khát khao Chúa, thân thể tôi mong mỏi về Chúa.
Chú ý Đa-vít không nói: Chúa ở đây ở đó nên tôi tìm cầu Ngài. Trái lại Đa-vít viết: Chúa là Đức Chúa Trời tôi, nên tôi tìm cầu Chúa. KT không bao giờ dạy rằng vì chúng ta tìm cầu Chúa nên Chúa là ĐCT của chúng ta. Trái lại KT dạy Vì ĐCT là Chúa của chúng ta nên chúng ta tìm cầu Ngài. Có nghĩa là quan hệ với Chúa đến trước khi một người có lòng tìm cầu, có lòng khao khát ĐCT. Chính vì có quan hệ nên mới có lòng khao khát tìm kiếm.
Đây chính là lý do tôi có thể cả quyết rằng bằng chứng chắc chắn nhất, rõ ràng, cụ thể nhất về sự cứu rỗi, về đời sống đạo là tấm lòng khao khát tìm kiếm Chúa. Bởi vì một người chỉ có lòng khao khát tìm kiếm ĐCT sau khi đã được cứu, đã được ĐCT nhận là con trai, con gái của Ngài.
Tất cả các tôn giáo trên thế giới dạy: hãy hết lòng tìm kiếm ĐCT, bạn sẽ gặp Ngài. Tin Lành dạy: vì Ngôi Hai ĐCT, ĐCJC đã đến thế gian để tìm và cứu tội nhân nên ai tin nhận Ngài sẽ tìm được Ngài. Qv hỏi: còn Giê-rê-mi 29:13 Các ngươi sẽ tìm ta, và gặp được khi các ngươi tìm kiếm ta hết lòng, thì sao? Chúng ta cần đọc kỹ lại đoạn KT này: Vả, Đức Giê-hô-va phán như vầy: Khi bảy mươi năm sẽ mãn cho Ba-by-lôn, ta sẽ thăm viếng các ngươi, sẽ làm trọn lời tốt lành cho các ngươi, khiến các ngươi trở về đất nầy. 11 Đức Giê-hô-va phán: Vì ta biết ý tưởng ta nghĩ đối cùng các ngươi, là ý tưởng bình an, không phải tai họa, để cho các ngươi được sự trông cậy trong lúc cuối cùng của mình. (Giê-rê-mi 29:10-11). ĐCT nói cùng dân tuyển bị lưu đày, những người Ta sẽ thăm viếng, sẽ làm trọn lời tốt làn cho, sẽ khiến cho họ trở về lại đất này. Nói tóm lại là dân sự đã được Chúa chọn, đã có quan hệ với ĐCT.
Tôi muốn giải thích sự khác biệt rất lớn giữa lòng muốn biết về Chúa, sự tò mò muốn tìm hiểu và lòng khao khát Chúa. Đúng là KT dạy ĐCT đặt để luật pháp Ngài trong tấm lòng con người, để họ có thể có ý muốn biết Ngài. PL xác nhận điều này trong lời với các triết gia thành A-thên: “Thưa quý vị là nguời A-then, tôi nhận thấy bất luận việc gì quý vị cũng rất sùng kính. 23Khi đi qua quan sát các nơi thờ tự của quý vị, tôi có thấy một bàn thờ khắc chữ ‘Thờ Thần Không Biết’. Thần quý vị thờ mà không biết đó chính là thần tôi đang truyền cho quý vị. (Công Vụ 17:22-23 – BDM).
Tuy nhiên vì tội lỗi con người sùng kính, muốn biết Thượng Đế, Ông Trời, ĐCT qua việc cúng tế, dâng của lễ để Trời để yên cho mình sinh sống. Chứ không phải để có một quan hệ cá nhân mật thiết với Chúa. Ngoại trừ khi chính ĐCT tìm đến với con người. Đây là ý nghĩa là việc Chúa chọn Áp-ra-ham để lập nên dân tuyển, để họ biết Ngài và qua đó là ánh sáng cho Ngài.
Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa là Đức Chúa Trời tôi, vừa sáng tôi tìm cầu Chúa; Trong một đất khô khan, cực nhọc, chẳng nước, Linh hồn tôi khát khao Chúa, thân thể tôi mong mỏi về Chúa
Đa-vít gọi ĐCT là ĐCT của tôi. Khi nào qv gọi một người nào, một vật gì là của tôi? Của tôi nói lên một quan hệ gắn bó, gần gủi, mật thiết. Như khi chúng ta gọi chồng, vợ mình là nhà tôi; gọi con cái, các cháu chúng ta là các con cháu tôi. Khi nào một người gọi HT là HT của tôi? Chỉ khi họ có quan hệ gần gủi, thân thiết với anh chị em tín hữu trong HT đó, khi họ xác nhận HT đó là một phần giá trị trong đời sống đức tin, trong bước đường theo Chúa.
Khi gọi ĐCT là ĐCT của tôi, Đa-vít xác nhận ông có mối quan hệ gần gủi, mật thiết với ĐCT và ĐCT với ông. ĐCT không còn là một ông trời xa vời vợi hay một danh xưng mà mỗi tuần nghe khi đến nhà thờ nhưng là Đấng rất gần, Đấng Đa-vít có thể liên hệ, trò chuyện, tâm sự, bày tỏ những nổi niềm sâu kín nhất mà một người mới quen cũng chưa thể nói ra được.
Một mục sư (James Boice) giải thích thì thường có 3 loại người Cơ Đốc. Loại thứ nhất chỉ có danh nhưng không hề biết chắc. Đây là những người như 5 người nữ đồng trinh dại dột trong ngụ ngôn ĐCJC kể trong Ma-thi-ơ 25 nghĩ mình biết nhưng không thật được Chúa biết. Chặp lâu, những người nữ đồng trinh khác cũng đến và xin rằng: Hỡi Chúa, hỡi Chúa, xin mở cho chúng tôi! 12 Nhưng người đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, ta không biết các ngươi đâu. (Ma-thi-ơ 25:11-12). Loại người thứ hai tùy theo hoàn cảnh. Như Phi-e-rơ chối Chúa sau khi ĐCJC bị bắt. Loại tín đồ thứ ba là những người như vua Đa-vít trong TT 63. Tức là dù trong nghịch cảnh, họ vẫn gọi ĐCT là ĐCT của tôi.
Vì Chúa là ĐCT của tôi, nên tôi tìm cầu Chúa. Chứ không phải vì tôi tìm Chúa nên Ngài là ĐCT của tôi! Cũng như khi một người con nói với bạn: vì ông bà là cha mẹ tôi nên tôi tìm đến cha mẹ xin giúp; chứ không phải khi tôi tìm gặp hai người đó thì ông trở nên cha mẹ tôi! Vì ĐCT là Cha chúng ta nên chúng ta tìm đến, cầu nguyện, trò chuyện, hỏi xin, thú tội cùng Ngài. Chứ không phải vì chúng ta tìm Ngài nên Ngài trở nên Cha trên trời của chúng ta. Tôi không lập đi lập lại điều này để chơi chữ hay như chẻ một cộng tóc giáo điều nhưng bởi vì đây là một điểm vô cùng quan trọng và chính yếu cho người có quan hệ với ĐCT. Điều đó là tôi và qv không thể có ý muốn, nói chi đến lòng khao khát tìm kiếm, gặp gở Chúa cho đến khi chính ĐTL của ĐCT tìm đến để chạm lòng, làm mềm lòng, để cảm động lòng chúng ta. Chỉ sau khi ĐTL chạm lòng, một người mới có ý muốn, lòng khao khát tìm kiếm, gặp gở Chúa. Vì vậy Đa-vít viết: Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa là Đức Chúa Trời tôi, vừa sáng tôi tìm cầu Chúa.
Bản dịch cũ dịch là vừa sáng, hừng đông chưa ló dạng (BD2011). Nhưng các bản dịch khác đều không có từ này. Nhưng đây là một từ mang một ý rất quan trọng. Tiếng Hơ-bơ-rơ là šāḥar (shaw-khar') được dùng để nói về sớm theo thời gian như sáng sớm, mới sáng khi hừng đông chưa ló dạng, nhưng cũng được dùng để nói về ưu tiên hàng đầu, về một thái độ thành khẩn vì xem điều đó là điều quan trọng. Đây là lý do có bản dịch là tha thiết hay hết lòng.
Đa-vít bày tỏ tấm lòng thật sự khao khát tìm kiếm Chúa dù là thời gian đầu tiên trong ngày hay là ưu tiên hàng đầu bởi vì quan hệ của ông với ĐCT thật sự quan trọng, thiết yếu. Tôi nhớ có một bài thơ phổ nhạc Thuyền và Biển có câu như sau: Những ngày không gặp nhau biển bạc đầu thương nhớ, Những ngày không gặp nhau lòng thuyền đau - rạn vỡ để nói lên tình yêu thương, sự thương nhớ giữa hai người mà tác giả ví như thuyền và biển.
Có bao giờ qv tự hỏi: tôi tin Chúa, tôi có quan hệ thế nào với Chúa? ĐCT chỉ là một danh xưng, một tên gọi nghe mỗi tuần nhưng không gần gủi, mật thiết gì trong đời sống mỗi ngày? Qv có bao giờ thật sự mong mỏi, khao khát để có quan hệ với Chúa hay không?
Khi nói về lòng khao khát tôi nghĩ về 2 trường hợp trong 2 thời điểm khác nhau trong đời tôi. Sau khi tôi quyết định đi học lại đại học tôi dọn từ TX đến AR và ở trong nhà của dì tôi. Một ngày vợ chồng dì dượng đem tôi đến gặp một vài sinh viên VN đang câu cá. Tôi còn nhớ rõ như hôm qua: khi tôi được giới thiệu với một sinh viên vừa tốt nghiệp cao học, đã có việc làm và có một người bạn gái đang đứng bên cạnh anh cũng sắp xong chương trình cao học. Tôi nhìn hai người mà lòng tôi thật sự khao khát được như họ: được tốt nghiệp đại học, được có việc làm, được có một người bạn gái. Tôi tin chắc nhiều người trong số qv đây đều có thể hiểu rõ điều tôi mong mỏi, khao khát. Chúng ta rất muốn có được điều lòng mình tha thiết ước ao, mong mỏi vì chưa có. Muốn có vì chưa có.
Rồi theo thời gian, tôi tốt nghiệp cao học, tôi có bạn gái. Nhưng đến ngày hôm nay, lòng tha thiết khao khát vì những điều trong đời này mình muốn có nhưng chưa có không còn đó nữa.
Thời điểm thứ 2 là sau khi tôi đã tin Chúa. Thời gian đó tôi sống trong ký túc xá cho sinh viên. Một đêm bên ngoài trời tuyết rất nặng, tôi quỳ gối bên giường cầu nguyện. Tôi không nhớ mình cầu nguyện điều gì. Chỉ biết rằng hằng vài tiếng đồng hồ trôi qua rất nhanh. Và tôi kinh nghiệm được niềm vui, sự bình an, lòng khao khát được gần Chúa khó mà tả được. Và lòng khao khát đó mãi cho hôm nay vẫn còn đó dù những khao khát về tiền của, bằng cấp, thành công đến rồi đi, ngày càng lu mờ thì sự khao khát về Chúa ngày càng mạnh mẽ hơn.
Trong hoàn cảnh của Đa-vít lẽ ra lòng khao khát, mong mỏi, ước nguyện lớn nhất phải là sự an toàn cho đời sống, sự hồi phục ngai vàng, là chiến thắng trước đứa con và quan quân phản phúc, làm loạn đang tìm giết ông. Vậy đó mà trong sa mạc khô cằn, không nước, khi hoàn cảnh bấp bên sống chết không biết thế nào, Đa-vít lại bày tỏ tấm lòng khao khát với ĐCT. Tôi nghĩ đây chính là ý nghĩa của câu: Vì sự nhân từ Chúa tốt hơn mạng sống; Môi tôi sẽ ngợi khen Chúa. 4 Như vậy, tôi sẽ chúc phước Chúa trọn đời tôi; Nhân danh Chúa tôi sẽ giơ tay lên.
Có thể nói gần như tất cả mọi người đầu tiên khi tìm kiếm Chúa đều tìm kiếm Ngài để được một điều gì đó lòng mình mong muốn, khao khát. Tôi tìm kiếm, cầu nguyện cùng ĐCT để Ngài giải cứu khỏi hoàn cảnh khó khăn này, để xin Chúa chửa lành bệnh cho tôi, cho người thân của tôi. Tôi hy vọng khi tôi tìm kiếm, hỏi xin ĐCT thì vì lòng nhân từ Chúa sẽ ban cho tôi điều mà lòng tôi mong ước. Có thể qv tìm kiếm Chúa để được sự bình an trong tâm hồn. Hay với hy vọng Chúa sẽ giải cứu, vùa giúp con cái, chồng vợ chúng ta. Hay ban phước để chúng ta có việc làm tốt hơn, công việc trôi chảy, xuông xẻ hơn. Những điều này không có gì sai quấy cả.
Tuy nhiên nếu qua thời gian, chúng ta tiếp tục tìm kiếm Chúa chỉ để cầu xin, để được Chúa ban cho điều lòng chúng ta mong mỏi mà không nhìn thấy như Đa-vít viết: Vì sự nhân từ Chúa tốt hơn mạng sống, chúng ta cần hỏi lại xem động cơ, mục đích gì chúng ta tin Chúa? Tin Chúa để được Chúa ban cho điều này, điều nọ hay tin Chúa bởi vì thật sự cảm động trước sự nhân từ, tình yêu thương quá lớn của Ngài.
Từ nhân từ (hesed) mang ý nghĩa của một lời cam kết, hứa nguyện. Như khi Đa-vít và Giô-na-than hứa nguyện với nhau sẽ đối với nhau và với hậu tự của nhau với lòng nhân từ, thương xót. Lòng nhân từ, tình yêu thương này không phải chỉ là đầu môi chót lưỡi, khi thuận lợi thì giữ, khi bất lợi thì bỏ. Sự nhân từ của ĐCT chắc chắn như núi non, không thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh, cho dù tình cảm, tấm lòng con người có thay đổi.
Sứ đồ Giăng viết rất ý nghĩa: Tình yêu thương ở trong điều này: Không phải chúng ta đã yêu kính Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đã yêu thương chúng ta và sai Con Ngài làm sinh tế hy sinh chuộc tội lỗi chúng ta… Chúng ta yêu thương vì Đức Chúa Trời đã yêu thương chúng ta trước. (1 Giăng 4:10, 19)
Đây là bằng chứng của người thật sự biết Chúa, thật sự trưởng thành trong đức tin: tin Chúa mặc dù không được điều mà lòng tôi mong muốn, tin Chúa vì tôi hiểu rõ hơn về lòng nhân từ, vì tình yêu thương của ĐCT dành cho tôi.
Một tác giả giải thích: Bằng chứng của đời sống đức tin đích thật là khi bạn thỏa lòng với Đức Chúa Trời vì Ngài là ai chứ không chỉ vì những lợi ích mà Ngài ban cho bạn (The mark of authentic spiritual experience is that you become satisfied with God for Who He is and not just for the benefits He gives you.) (Jonathan Edwards).
Đây cũng là điều Đa-vít viết trong TT 63: Vì sự nhân từ Chúa tốt hơn mạng sống; Môi tôi sẽ ngợi khen Chúa. 4 Như vậy, tôi sẽ chúc phước Chúa trọn đời tôi; Nhân danh Chúa tôi sẽ giơ tay lên. 5 Linh hồn tôi được no nê dường như ăn tủy xương và mỡ; Miệng tôi sẽ lấy môi vui vẻ mà ngợi khen Chúa. Tôi tìm cầu ĐCT, tìm cầu tình yêu thương của Ngài. Nếu tôi có tình yêu thương của ĐCT, tôi sẽ có hy vọng. Chính bởi tình yêu thương của ĐCT mà Đa-vít biết rằng dù trong hoàn cảnh đen tối nhất, ông vẫn có thể ngợi khen, chúc phước ĐCT. Bởi vì Đa-vít biết rõ, hiểu rõ rằng nghịch cảnh, khó khăn, hoạn nạn, mất mát không phải là bằng chứng của sự trừng phạt hay ghét bỏ của ĐCT. Đa-vít và chúng ta vẫn có thể vững tin ĐCT có mục đích, có lý do vì lòng nhân từ khi để nghịch cảnh xảy ra cho con dân Ngài.
Tất cả chúng ta đều quí mạng sống. Thà mất tiền bạc để giữ mạng sống. Chúng ta tìm mọi cách để bảo tồn và kéo dài mạng sống. Nhưng Đa-vít nhận thấy rằng sự nhân từ, tình yêu thương của ĐCT còn giá trị hơn cả mạng sống. Bởi vì dù mạng sống rồi sẽ mất, tình yêu thương của ĐCT còn mãi đời đời.
Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Chúa Cứu Thế? Phải chăng là hoạn nạn, cực khổ, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm hay gươm giáo? 36Như Kinh Thánh chép rằng:
“Vì Ngài mà chúng tôi bị giết suốt cả ngày,
Chúng tôi bị kể như chiên của lò sát sinh.”
37Nhưng trong tất cả những điều này chúng ta hoàn toàn chiến thắng nhờ Đấng đã yêu thương chúng ta. 38Vì chúng tôi tin chắc rằng không có sự chết, sự sống, các thiên sứ, các giới quyền lực, việc bây giờ, việc tương lai, các năng lực, 39bề cao, bề sâu, hay tạo vật nào khác có thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta. (Rô-ma 8:35-39)
