Tại Sao Thử Thách Trăm Bề?
Gia-cơ, đầy tớ của Đức Chúa Trời và của Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, kính gửi mười hai bộ tộc đang sống tản lạc khắp nơi. Chúc anh em an vui! Thưa anh em của tôi, hãy xem sự thử thách trăm chiều xảy đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn, vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sinh ra kiên nhẫn. (1:1-2)
Bài giảng hôm nay chỉ nhằm trả lời câu hỏi: lý do gì, nguyên nhân gì khiến cho thử thách trăm bề xảy đến cho 12 chi bộ (dân DT, cụ thể hơn là các tín đồ người DT) đang sống tản lạc khắp nơi. Bài giảng không trả lời câu hỏi Tại sao ĐCT lại để cho thử thách trăm bề này xảy ra cho con dân Chúa. Đây là 2 câu hỏi khác nhau. Bài giảng tới Chúa nào nỡ vậy sẽ trả lời câu hỏi thứ 2.
Ví dụ: tôi có một cơ sở thương mại (tiệm nail, nhà hàng, tiệm thuốc). Công việc dạo này rất chậm lụt, không có nhiều khách nên thu nhập thấp. Tại sao tiệm không có nhiều khách? Có thể do nhiều lý do: tôi mất người làm (thợ), không đủ người làm (thợ); người mới mướn làm không tốt việc (tay nghề thợ mới mướn không mấy khéo); một số thợ cũ đã nghỉ kéo khách theo nên tiệm mất khách; tiệm cũ cần chỉnh trang lại cho mới hơn; vài tiệm thuốc mới… Cách giải quyết thuần về thương mãi, tổ chức, quản lý.
Câu hỏi: tại sao Chúa lại để cho công việc tôi gặp khó khăn như vậy? Câu trả lời có thể là: để dạy tôi không nên đặt hết tấm lòng, hy vọng vào công việc, hay để dạy cho tôi khiêm nhường vì tôi thường tự phụ: tiệm ai ế chớ tiệm tôi không bao giờ ế! Hay để tôi có thời gian học KT chú tâm vào việc tăng trưởng đức tin, nếp sống đạo thay vì chỉ biết vùi đầu vào công việc. Giải quyết cho câu hỏi này không phải về thương mãi hay tổ chức hay quản lý nhưng hoàn toàn về tâm linh, quan hệ với ĐCT, tham gia vào HT.
ĐCT cũng quan tâm đến đời sống vật chất con cái Ngài. Tuy nhiên trọng tâm đời sống không phải là vật chất nhưng là tâm linh: Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại? (Ma-thi-ơ 16:26)
NGUYÊN NHÂN CỤ THỂ TRƯỚC MẮT
Gia-cơ bị chém đầu; 2) Nạn đói; 3) Khó khăn khi người DT tin Chúa
[Ôn lại diễn tiến quan trọng từ năm 30 – 46 - chart]
Gia-cơ bị chém đầu: Khoảng 1 năm trước khi Gia-cơ viết thư này, tín đồ và HT Giê-ru-sa-lem trải qua những thử thách vô cùng to lớn: sứ đồ Gia-cơ, anh em của sứ đồ Giăng bị vua Hê-rốt chém đầu và tin về nạn đói lớn sẽ xảy ra. Đang lúc ấy, vua Hê-rốt ra tay bức hại một số người trong Hội Thánh. 2 Vua dùng gươm giết Gia-cơ là anh của Giăng; 3 Khi thấy điều đó vừa lòng người Do Thái, vua cũng sai bắt Phi-e-rơ nữa. (12:1-3). Thư được viết giữa hai sự thử thách to lớn này.
KT cũng cho biết sứ đồ Phi-e-rơ bị bắt giam, nhưng trước ngày bị đem ra xử chết, ĐCT thực hiện một phép lạ vô cùng kỳ diệu để cứu ông. Chắc chắn nhiều tín đồ sẽ hỏi: tại sao ĐCT lại để cho thảm cảnh này xảy ra với Gia-cơ một người tận trung với Chúa, 1 trong 12 sứ đồ ĐCJC chọn và theo Ngài 3 năm dài, nhưng lại giải cứu Phi-e-rơ. Đây là câu hỏi tôi sẽ trả lời trong các bài giảng tới.
Nạn đói trong xứ: Trong những ngày đó, có mấy nhà tiên tri từ Giê-ru-sa-lem xuống An-ti-ốt. 28Một người trong số họ tên A-ga-bút đứng dậy bởi Thánh Linh báo trước rằng sẽ có nạn đói lớn xảy ra trên khắp đất; nạn đói nầy xảy ra dưới triều Cơ-lốt. 29Các môn đồ quyết định mỗi người tùy khả năng, gửi quà cứu trợ cho các anh em đang sống tại Giu-đê. 30Họ thực hiện việc ấy và gửi tặng phẩm đến các trưởng lão qua tay Ba-na-ba và Sau-lơ. (11:27-30)
Theo hai tài liệu tôi đọc, trong giai đoạn đó có 2 nạn đói ảnh hưởng đến tín đồ HT Giê-ru-sa-lem và các HT xứ Giu-đe: 1) Nạn đói xảy ra tại xứ Ai-cập vào khoảng 45-46; 2) Nạn đói xứ Giu-đe, là nạn đói được một tiên tri tên A-ba-gút (CV 11) báo trước xảy ra khoảng 46-47. Và dù tình trạng nạn đói xứ Ai-cập khả quan hơn thì nạn đói xứ Giu-đe ngày càng trầm trọng hơn
Khi nói về nạn đói không chỉ có nghĩa là thiếu thóc lúa cho toàn vùng nhưng còn liên hệ trực tiếp đến giá của thóc lúa, về khả năng mua được thóc lúa của dân chúng. Những người giàu hay thuộc thành phần thần thượng lưu có đủ tiền, thế lực để mua và để tồn trử thóc lúa dù khi bên ngoài có thiếu thốn. Khốn khổ nhất là những người bần cùng, thuộc tầng lớn thấp hèn trong xã hội vì không đủ tiền để mùa dù bên ngoài có thóc lúa bán.
HT đầu tiên đa số gồm những người thuộc thành phần nghèo khó, thấp hèn này, như nô lệ, phụ nữ, góa bụa, cô nhi, những người làm việc lao động. Đây là lý do HT An-ti-ốc quyên góp tiền để giúp cho các HT xứ Giu-đê, tức cả một vùng gồm nhiều nơi, nhiều chổ, khi nạn đói xảy ra (CV 11:27-30)
Nhưng lý do cụ thể nhất của sự thử thách trăm bề xảy đến là bởi vì những người DT tin nhận Chúa Giê-xu là Cứu Chúa đời họ. Không chỉ là Đấng Cứu Chuộc tội nhưng còn là Chúa, là chủ của đời sống. Đối với người DT thời đó tin ĐCJC và theo Ngài là một quyết định hệ trọng, thậm chí sống chết. Từ khi lớn lên họ được dạy: Hỡi Y-sơ-ra-ên! hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai (chỉ là một). (PT 6:4).
ĐCT không có con. Và chính vì ĐGHV là Đấng duy nhất và là một ĐCT nên những lời tự nhận của ĐCJC nghe thật lộng ngôn, đáng bị xử chết: Ai thấy Ta thấy Cha, ai biết Ta biết Cha, Ta với Cha là một… Ta là đường đi, lẽ thật, sự sống, không ai đến với Cha ngoài Ta.
Khi ấy nhiều dấu kỳ và phép lạ xảy ra trong dân bởi tay các vị sứ đồ. Tất cả tín hữu đều đồng ý chọn Hành Lang Sa-lô-môn làm nơi nhóm họp. Những người ngoài không ai dám tham dự với họ, mặc dù dân chúng rất coi trọng họ. (CV 5:12-13 – BD2011) Tại sao? Người DT tin Chúa bị đuổi ra khỏi nhà hội, mất việc làm, mất quan hệ từ bè bạn, thân quyến, mất vị trí trong xã hội. Nếu thành viên tòa công luận hay trưởng lão biết Ni-cô-đem đến gặp ĐCJC trong đêm tối chắc họ sẽ dứt phép thông công ông! Họ thường phải trả một giá rất đắt cho niềm tin vào ĐCJC. Ví dụ: người tin Chúa (Cơ Đốc, Tin Lành) tại các xứ thánh Công Giáo sẽ bị từ bỏ, gặp nhiều khó khăn, thử thách; giá trả của người hồi giáo tin Chúa.
Đây là một lý do chính mà các tín đồ DT tại các HT vùng Giu-đe và cả tại Giê-ru-sa-lem thường nghèo khó, phải cần sự trợ giúp tài chánh từ các HT ở các thành phố lớn, gồm nhiều dân tộc, thành phố quốc tế như An-ti-ốt, Cô-rinh-tô, E-phê-sô hay La-mã. Vì tại những nơi đó, không ai màng (care) đến niềm tin tôn giáo (ngoại trừ thờ đại đế Xê-xa) của một người vì có hàng bao nhiêu trăm ngàn giống dân khác nhau mang theo với họ phong tục, tập quán, niềm tin tôn giáo khác nhau.
Tại một thành phố nhỏ, thậm chí tại đây, hầu hết mọi VN người đều biết nhau, tin đồn lan ra rất nhanh và xa. Nhưng ở tại NY ngay khi ngồi chung trên xe điện nhưng mạnh ai đọc sách, xem phone, không ai muốn biết ai. Tín đồ DT tại những nơi đó mưu sinh dễ dàng hơn, tự do hơn, dễ dàng hòa nhập hơn.
Vậy khi nghe thư Gia-cơ đọc tại các HT vùng Giu-đe thì tất cả tín hữu DT đều có liên hệ đến sự thử thách trăm bề viết trong thư vì chính họ cũng đã kinh nghiệm qua. Tôi giải thích điều này để qv hiểu rõ rằng khi Gia-cơ viết về sự thử thách trăm bề thì ông không viết về những điều lý thuyết có thể xảy ra nhưng về những thực tế đang xảy ra trong đời sống của người đọc, người nghe thư.
Thưa anh em của tôi, hãy xem sự thử thách trăm chiều xảy đến cho anh em. Dịch là trăm bề, trăm chiều, rất đúng vì từ này là poikilos (poy-kee-los) có nghĩa đủ muôn màu sắc, muôn dáng vẻ, muôn thứ. Có nghĩa là không phải chỉ là một thử thách nhưng rất nhiều thử thách có thể xảy đến cùng 1 lúc. Cảm giác của người phải trả qua hoàn cảnh như vậy có thể được tả là áp đảo quá mức, overwhelming.
Như tác giả TT viết: Vực gọi vực theo tiếng ào ào của thác nước Chúa; Các lượn sóng và nước lớn của Chúa đã ngập tôi. (TT 42:7) Qv thấy có lượn sóng nào hay thác nước nào ngừng nghỉ hay không? Hết đợt sóng này đến đợt sóng khác, thác nước chảy không ngừng. Các lượn sóng lớn, nước từ thác cao đổ xuống làm chết ngộp người trong cuộc.
Thử thách trăm bề: hôm qua vừa bị đuổi ra khỏi nhà hội (dứt phép thông công của người DT giáo), hôm nay lại bị chủ và những người cùng làm việc chế diễu, nhạo báng vì tin một người thợ mộc bị lột trần truồng, bị đóng đinh cho đến giữa 2 tên trộm cướp là ĐCT! Ngày mai có thể bị gia đình từ bỏ vì đi theo tà giáo. Đời sống vật chất từ khi theo Chúa thiếu thốn vì không tìm được việc làm ổn định, chắc chắn; mất đi quan hệ bè bạn, hàng xóm, láng giềng, thậm chí người thân trong gia đình.
NGUYÊN NHÂN ĐÃ XẢY RA TỪ TRƯỚC
Gia-cơ, đầy tớ của Đức Chúa Trời và của Chúa là Đức Chúa Jêsus Christ, kính gửi mười hai bộ tộc đang sống tản lạc khắp nơi. (1:1)
Nhưng ai là người nhận thư này, đối tượng thư này? 12 bộ tộc (chi phái, chi tộc) đang sống tản lạc khắp nơi. 12 bộ tộc là 12 bộ tộc Ỵ, nói về dân DT, tuyển dân của ĐCT, dân tộc Ỵ. Lý do gì họ lại sống tản lạc khắp nơi? Hai lý do, một gần, một xa:
Gần là khoảng 12-13 năm trước đó (~33-34), 1 trong 7 chấp sự đầu tiên tên Ê-tiên bị ném đá đến chết (CV 7). Sau đó, Lu-ca còn cho biết: Sau-lơ tán thành về việc Ê-tiên bị giết. Trong ngày ấy, Hội Thánh ở Giê-ru-sa-lem gặp cơn bắt bớ dữ dội; ngoại trừ các sứ đồ, tất cả tín hữu đều bị tan lạc trong các miền Giu-đê và Sa-ma-ri [map]. 2Những người tin kính chôn cất Ê-tiên và than khóc ông rất nhiều. 3Nhưng Sau-lơ tàn hại Hội Thánh, xông vào từng nhà bắt cả đàn ông lẫn đàn bà bỏ tù. (CV 8:1-3).
Nhưng không chỉ bị tản lạc ở 2 vùng xa là Giu-đe & Sa-ma-ri, nhưng còn đến nhiều nơi xa hơn nữa: Bấy giờ, những người bị tản lạc do cơn bắt bớ xảy đến sau vụ Ê-tiên đi đến Phê-ni-xi, đảo Síp và An-ti-ốt, nhưng họ chỉ giảng đạo cho người Do Thái mà thôi. 20Tuy nhiên, một vài người trong số họ quê ở đảo Síp và Sy-ren đến An-ti-ốt cũng giảng Tin Lành cho cả người Hi Lạp. [Map] Vậy tín đồ DT phải sống tản lạc khắp nơi là vì tín đồ và HT Giê bị bắt bớ.
Không chỉ vậy, chỉ 25 năm sau đó vào năm 70, quân lính La-mã vây hãm và phá đốt rụi cả thành Giê và đền thờ. Đó là lần cuối cùng dân Ỵ bị lưu đày trên toàn thế giới mãi cho đến 1948 (~1880 năm sau) dân sự mới trở về lại vùng đất ĐCT đã hứa ban cho Áp-ra-ham mấy ngàn năm trước đó!
Nguyên nhân xa xảy ra ~760 năm trước thư:
Từ thời Mô-se khi dân sự ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập và bị phạt phải đi trong đồng vắng 40 năm, ĐCT đã cảnh cáo dân sự rằng nếu họ tiếp tục từ bỏ ĐCT để chạy theo các tà thần, Ngài sẽ làm cho họ tản lạc trên khắp đất: CHÚA sẽ phân tán anh chị em khắp các nước, từ đầu này trái đất cho đến đầu kia. Tại những nơi ấy anh chị em sẽ thờ phượng các thần khác, là thần bằng đá bằng gỗ mà cả anh chị em lẫn các tổ tiên đều không biết. 65Trong các nước đó, anh chị em sẽ không được an nghỉ, không tìm được một chỗ cho gót chân mình nghỉ ngơi. Tại đó, CHÚA sẽ làm cho anh chị em băn khoăn lo lắng, mắt mòn mỏi và tâm trí buồn thảm. 66Anh chị em sẽ ở trong tình trạng bấp bênh liên tục, đêm ngày lo sợ phập phồng, mạng sống không bảo đảm. (PT 28:64-66). Trên 20 lần trong CU, ĐCT lập lại lời tiên tri này.
Không chỉ bị tản lạc khắp nơi, nhưng dân sự còn sẽ gặp bắt bớ, giết hại, kỳ thị tại những nơi họ định cư. Lịch sử của dân DT đã chứng minh điều này. 6 triệu người DT bị Đức Quốc Xã tàn sát bằng những cách thức dã man, khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người. Họ chịu kỳ thị, bị khinh dễ, bị xa lánh, bị đổ thừa là nguyên nhân cho mọi nan đề trong xã hội từ kinh tế đến chính trị, đến xã hội.
Ngay cho đến hôm nay tại các quốc gia văn minh, cấp tiếng nhất tại Âu Châu và tại HK trong các trường đại học nổi tiếng nhất thế giới, sinh viên biểu tình chống đối xứ DT, chống đối người DT. Nhưng lại ủng hộ những người hồi giáo chủ trương, kêu gọi tàn sát cả dân tộc DT. Nhà cầm quyền xứ Iran luôn luôn kêu gào “Death to the Jews”, “Death to America”. Họ hứa sẽ không bao giờ ngừng chính sách này cho đến khi cả dân tộc DT bị tàn sát.
Hiến chương đầu tiên của Hamas vào năm 1988 xác nhận mục đích chính yếu và quan trọng nhất là tiêu diệt và xóa sạch dân tộc và quốc gia Do Thái khỏi bản đồ thế giới để thiết lập một chính quyền theo chế thể Hồi Giáo. Chương Bảy của hiến chương có những lời sau đây: Phong trào Kháng chiến Hồi giáo (Hamas) mong muốn thực hiện lời hứa của Allah, bất kể điều đó sẽ mất bao lâu. Tiên tri (Mô-ha-mét), Allah ban phước cho người và ban cho người sự cứu rỗi, đã nói: “Ngày phán xét sẽ không đến cho đến khi người Hồi giáo chiến đấu với người Do Thái (giết người Do Thái). Khi người Do Thái sẽ trốn sau những tảng đá và cây cối, đá và cây sẽ nói: Hỡi người Hồi giáo, hỡi người Hồi giáo, có một người Do Thái đứng sau tôi, hãy đến và giết nó”.
Đến khi Gia-cơ viết thư, dân sự DT đã phải sống tản lạc khắp nơi trong gần 760 năm: sau Sô-lô-môn đất nước chia cắt ~931BC, xứ Y thất thủ 722 BC (sau 210 năm), xứ Giu-đa thất thủ 586BC (thêm 136 năm tức ~346 năm từ khi Ỵ bị chia cắt), Ma-la-chi 430 BC = 722-430 (292năm) + 400 năm im lặng + 45 năm từ ĐCJC đến thư Gia-cơ). Chắc chắn trong suốt 760 năm dài sống tản lạc, dân Y đã phải trải qua bao nhiêu đau thương, mất mát, thử thách, hoạn nạn.
Ví dụ cụ thể nhất từ CV 2. Người DT có ba lễ lớn nhất. Trong ba lễ này, tất cả nam giới từ 12 tuổi trở lên đều phải một lần đến thành Giê-ru-sa-lem để dự lễ. Trong ngày lễ Ngũ Tuần ngay sau khi ĐTL được ban cho 120 môn đồ trên phòng cao, họ bắt đầu nói những ngôn ngữ của những người DT từ các phương xa đổ về thành Giê-ru-sa-lem để dự lê vượt qua. Ước tính trong ngày lễ Ngũ Tuần có trên dưới từ 200-400 ngàn người DT đến từ khắp các xứ. Các xứ này được tượng trưng qua các ngôn ngữ ngoại quốc các môn đồ nói: Hết thảy người nói đó, há chẳng phải là người Ga-li-lê sao? 8 Vậy thì, sao chúng ta nghe ai nấy đều nói tiếng riêng của xứ chúng ta sanh đẻ? 9 Nào người Bạt-thê, Mê-đi, Ê-la-mít, kẻ ở tại Mê-sô-bô-ta-mi, Giu-đê, Cáp-ba-đốc, Bông, A-si, 10 Phi-ri-gi, Bam-phi-ly, Ê-díp-tô, đất Li-by gần Sy-ren, nào kẻ từ Rô-ma đến, 11 cả người Giu-đa hoặc người mới theo đạo Giu-đa, người Cơ-rết và A-rạp nữa (CV 2:7-11) [Map]
Tuy nhiên Đức Chúa Trời cũng hứa với dân sự một điều vô cùng kỳ diệu: Dù sau khi bị tản lạc trên khắp thế gian, đến đúng thời điểm Chúa đã định trước thì Ngài sẽ tụ họp họ từ bốn phương trời để trở lại vùng đất đã hứa cùng tổ phụ Áp-ra-ham và tái lập lại quốc gia Do Thái: Hãy nói với chúng: ‘CHÚA Toàn Năng phán như vầy: Này, chính Ta sẽ đem con cái Y-sơ-ra-ên từ các nước chúng đã đi đến, Ta sẽ hợp chúng lại từ khắp nơi và đem chúng về vùng đất của chúng. 22Ta sẽ làm cho chúng thành một nước trong xứ, trên các đồi núi Y-sơ-ra-ên. (Ê-xê-chi-ên 37:21-22).
Chính bởi lòng hy vọng và trông cậy vào lời hứa của ĐCT mà ngay giữa những cảnh ngộ tan thương, đau khổ cùng cực, khi thành Giê-ru-sa-lem bị bao vây, dân chúng đói khổ đến nỗi mẹ muốn ăn thịt con mình, xác chết la liệt ngoài đường phố, tiên tri Giê-rê-mi vẫn có thể viết những lời sau đây:
Hãy nhớ đến sự hoạn nạn khốn khổ ta, là ngải cứu và mật đắng. 20 Hồn ta còn nhớ đến, và hao mòn trong ta. 21 Ta nhớ lại sự đó, thì có sự trông mong: 22 Ấy là nhờ sự nhân từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt; 23 Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm. 24 Hồn ta nói: Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp ta, nên ta để lòng trông cậy nơi Ngài. (Ca Thương 3:19-24)
Hy vọng của tiên tri Giê-rê-mi đến nay đã được ứng nghiệm. 1948 đất nước Ỵ được tái xác lập sau hơn 2500 năm dài. Trong lịch sử thế giới, điều này không bao giờ xảy ra cho một quốc gia, dân tộc nào.
Tại sao ĐCT lại để thử thách trăm bề đến với con dân Chúa đang sống tản lạc khắp các xứ:
Thưa anh em của tôi, hãy xem sự thử thách trăm chiều xảy đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn, 3vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sinh ra kiên nhẫn. 4Nhưng sự kiên nhẫn phải phát huy hết hiệu lực của nó, để chính anh em được trưởng thành, hoàn hảo, không thiếu sót điều gì. (Gia-cơ 1:2-3)
Hãy vui mừng về điều ấy, dù bây giờ anh em còn chịu đau buồn trong ít lâu bởi muôn vàn thử thách; 7để đức tin của anh em sau khi được thử nghiệm sẽ quý hơn vàng — dù vàng đã được thử lửa, vẫn có thể hư hoại — đem lại sự ca ngợi, vinh quang và tôn trọng khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện đến. (1 Phi-e-rơ 1:6-7)
