Rất nhiều bài học trong đời không thể dạy qua trường lớp, sách vở, qua bài giảng hay các buổi học KT nhưng chỉ qua kinh nghiệm. Thực tế như việc lái xe: dù biết hết lý thuyết nhưng không hề ngồi trên xe để lái thì cũng không thể nào lái được. Cũng không ai tập thể dục bằng cách đọc hết sách này đến sách nọ, hay chỉ mở xem YouTube mà không hề hành động.
Hay như chủ nghĩa xã hội mà giới trẻ tại HT và các nước Tây Phương đang theo đuổi và nhiệt thành ủng hộ. Nhưng những người đã sống trong 2 chế thể, 2 quốc gia khác nhau: một theo chế thể chủ nghĩa xã hội hay cộng sản và một theo chế thể cộng hòa như tại HK không hề lý tưởng. Kinh nghiệm của đời sống giữa hai chế thể mở mắt, mở tai, mở lòng để họ hiểu được thực giả, đúng sai thế nào.
Sứ đồ PL dạy trong 1 Tê 5:18 Hãy cảm tạ Chúa trong mọi hoàn cảnh, vì đó là ý muốn của Đức Chúa Trời đối với anh em trong Đấng Christ Jêsus. Qv có thể học thuộc lòng câu KT này trong vài phút, đọc lại cho người nghe trong vài ba mươi giây. Nhưng chỉ đến khi trải qua mọi hoàn cảnh trong đời sống, qv mới thật sự học trọn ý nghĩa và biết mình có thể thực hành hay không: cảm tạ Chúa trong mọi hoàn cảnh.
Vấn đề không phải là cảm tạ nhưng cảm tạ trong mọi hoàn cảnh: vui vẻ hay buồn rầu, có được hay mất đi, hạnh phúc hay sầu khổ, mạnh khỏe hay bệnh tật, hy vọng hay tuyệt vọng. Vấn đề không phải là cảm tạ nhưng cảm tạ trong mọi hoàn cảnh: dù khi không có hay chưa có điều lòng mình mong muốn, ước ao, thậm chí mất đi những điều đó. Vấn đề là cho đến khi nào, tôi được điều này, điều nọ: Một người thành công trong công việc làm ăn buôn bán, có hai ba căn nhà cho thuê mướn, nhưng lại buồn vì vợ mình, chồng mình, con cái mình; phải chi ổng được mau nóng giận đến như vậy; bả đừng hay nói hành nói tỏi (câu chuyện đọc đều có hành & tỏi!); phải chi, ước chi con tôi học hành đến nơi đến chốn… Không chỉ phải chi, người không thể cảm tạ Chúa còn nói ước chi… Ước chi… Phải chi
Cũng chính PL viết: Những gì đã được chép từ xưa đều nhằm dạy dỗ chúng ta, để nhờ sự kiên định và khích lệ của Kinh Thánh mà chúng ta có niềm hi vọng. (Rô-ma 15:4). Những gì đã được chép từ xưa có nghĩa là KTCU. Dĩ nhiên hôm nay bên cạnh KTCU chúng ta cảm tạ Chúa vì còn có KTTU: khải thị toàn bộ, trọn vẹn và cuối cùng từ ĐCT.
Câu chuyện của dân sự Ỵ trong đồng vắng trong DSK 11 đã được chép lại để dạy dỗ chúng ta. Tôi xin đọc lại 2 câu theo DSK 11:4-6: Bọn dân tạp trong dân Y-sơ-ra-ên thèm muốn thức ăn đến nỗi dân Y-sơ-ra-ên lại than khóc rằng: “Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt? 5Chúng tôi nhớ cá mà chúng tôi ăn không phải trả tiền tại Ai Cập cùng với dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành và tỏi. 6Bây giờ thể xác chúng tôi hao mòn, không có gì ăn hết, chỉ thấy ma-na mà thôi.” 6 Bây giờ, linh hồn chúng tôi bị khô héo, không có chi hết! Mắt chỉ thấy ma-na mà thôi. (BTT). Chúng ta sẽ trở lại sự khác biệt giữa 2 bản dịch sau.
Nếu theo bản tính tự nhiên của con người thì dù là dân tuyển, người DT ngày xưa hay tín đồ HT hôm nay vẫn không thể cảm tạ ĐCT trong mọi hoàn cảnh. Phải cần thời gian, cần sự dạy dỗ, huấn luyện, trang bị từ ĐTL, phải cần trải nghiệm đồng vắng, thiếu thốn, cần những thử thách trăm bề tín đồ mới có thể sống như lời dạy của PL trong 1 Tê 5:18: Cảm tạ ĐCT trong mọi hoàn cảnh.
BỐI CẢNH
Dân sự Ỵ làm nô lệ trong xứ Ai-cập trong 300 năm. Đời sống cơ cực, khổ sở. Vua Pha-ra-ôn lại còn ra lệnh giết con trai mới sinh. ĐCT sai Mô-se thực hiện 10 phép lạ (10 tai họa) để vua P. cho dân sự tự do ra đi để thờ phượng ĐCT trong đồng vắng. Phép lạ không phải chỉ cho Pha. nhưng còn để dân sự thấy quyền năng của ĐCT, để họ có thể hoàn toàn tin cậy nơi Chúa. Dù thấy 10 phép lạ, dân vẫn không hoàn toàn tin cậy ĐCT hay Mô-se!
Khi ra khỏi Ai-cập, đoàn dân có từ 1-2 triệu người với 3-4 thế hệ khác nhau. Họ ra khỏi xứ sau 300 năm làm nô lệ. Dù bây giờ là người tự do, nhưng chắc chắn họ vẫn còn suy nghĩ, hành động như người nô lệ, trong phong tục, tập quán, ngôn ngữ (trẻ nói tiếng Ai-cập), thói quen... Dù ra khỏi Ai-cập, nhưng Ai-cập vẫn còn trong họ. Điều này không khác gì người VN chúng ta. Dù sinh sống tại đây 30-40 năm nhưng ngôn ngữ, suy nghĩ, phong tục vẫn còn là người VN: đòi hỏi con cháu phải kính trọng, yên lặng khi bị rầy la… Vậy để có vào đất hứa, dân sự phải thay đổi, phải được huấn luyện, dạy dỗ, trang bị… ĐCT dùng đồng vắng để dạy dân sự cũng như ĐCT đã dùng để dạy Mô-se, Đa-vít, Phao-lô. Nhưng dân sự tin rằng ĐCT trừng phạt họ.
Chúng ta gọi năm mà dân sự ra khỏi Ai-cập là năm 1 thì họ ra đi vào tháng 2 năm 1. Một năm 3 tháng sau đó, tức vào tháng 5 năm 2, DSK 14 kể lại câu chuyện sau khi 12 thám tử trở về từ xứ Ca-na-an báo cáo lại xứ thế nào và có nên tiến vào đất đó hay không. 10 thám tử bảo không; chỉ 2 khuyên có thể vào. 1Cả hội chúng cất tiếng la lớn; dân chúng khóc than trong đêm đó, 2Tất cả dân Y-sơ-ra-ên phàn nàn với Môi-se và A-rôn; cả hội chúng nói với hai ông: “Phải chi chúng tôi chết trong đất Ai Cập hay chết trong hoang mạc nầy cho rồi! 3Tại sao Đức Giê-hô-va dẫn chúng tôi vào đất nầy để ngã chết bởi gươm? Vợ con chúng tôi sẽ bị giặc bắt đi. Chúng tôi quay trở lại Ai Cập không tốt hơn sao?” 4Rồi họ nói với nhau: “Chúng ta hãy lập một người lãnh đạo và trở về Ai Cập.” (DSK 14:1-4)
Đọc tiếp đoạn 14 này cho đến câu 22 qv sẽ biết trong vòng 1 năm 3 tháng, tức 15 tháng từ khi ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập (năm 1 tháng 2) đến thời điểm này, dân sự đã thử ĐCT 10 lần. Không phải chỉ có ĐCT thử dân sự nhưng dân sự thử ĐCT! 10 lần trong 15 tháng. tất cả những người đã thấy vinh quang và phép lạ Ta đã làm tại Ai Cập và trong hoang mạc rồi, nhưng đã thử Ta mười lần, cũng như không vâng lời Ta (DSK 14:22).
Thời gian bao lâu? Chỉ 1 năm 3 tháng. Chuyện này xảy ra vào năm thứ 2 tháng 5, tức khoảng 15 tháng từ khi ra khỏi Ai-cập. Cứ mỗi 1 tháng rưỡi dân sự lại thử ĐCT 1 lần! Mặc dù họ thấy vinh quang và phép lạ Chúa đã làm tại Ai-cập và trong hoang mạc. Qua đám mây, trụ lửa, qua thức ăn, nước ăn, qua lều tạm, qua luật pháp. Nhưng vẫn không đủ, chưa đủ; vẫn còn thiếu sót, chưa thỏa lòng!
Mỗi khi gặp khó khăn Thay vì cầu khẩn, van xin, họ phàn nàn, oán trách ĐCT:
Than trách trước Biển Đỏ (Xuất Ê-díp-tô Ký 14:10-12) – Năm 1 từ tháng 1-3
Họ nói với Môi-se: “Ở Ai Cập không đủ mồ chôn hay sao mà ông đem chúng tôi vào chết trong hoang mạc nầy? Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai Cập để làm gì chứ? 12Chẳng phải chúng tôi đã nói với ông tại Ai Cập rằng: ‘Mặc kệ chúng tôi, cứ để chúng tôi phục dịch dân Ai Cập’ đó sao? Vì thà phục dịch họ còn hơn phải chết trong hoang mạc!
Phàn nàn về nước đắng tại Ma-ra (Xuất Ê-díp-tô Ký 15:22-24)
Oán trách Chúa tại đồng vắng Sin (Xuất 16:1-15) – Chúa ban bánh ma-na
Trong hoang mạc, cả hội chúng Y-sơ-ra-ên oán trách Môi-se và A-rôn. 3Dân Y-sơ-ra-ên nói với hai ông: “Ước gì chúng tôi chết bởi tay Đức Giê-hô-va trong đất Ai Cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh no nê! Nhưng hai ông lại dẫn chúng tôi vào trong hoang mạc nầy để cả đoàn dân phải chết đói.”
Bất tuân lời dạy về ma-na và ngày Sa-bát (Xuất 16:27-30)
Gây chuyện với Mô-se về nước uống tại Rê-phi-đim (Xuất Ê-díp-tô Ký 17:1-7)
2Dân chúng gây chuyện với Môi-se rồi nói: “Hãy cho chúng tôi nước uống.” Môi-se đáp rằng: “Tại sao anh em gây chuyện với tôi? Tại sao anh em dám thử Đức Giê-hô-va?” 3Nhưng ở đó dân chúng khát nước và họ oán trách Môi-se: “Tại sao ông đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập rồi để cho chúng tôi, con cái và đàn súc vật của chúng tôi phải chịu chết khát thế nầy?” 4Môi-se kêu cầu Đức Giê-hô-va: “Con phải làm gì với dân nầy? Thiếu điều họ ném đá con!”
Con bò vàng khi Mô-se lên núi Si-nai (Xuất 32:1-6) – Từ Năm 1 tháng 3 - Năm 2 tháng 2
Phàn nàn, bất mãn, ta thán (DSK 11:1-3) – Năm 2 – tháng 2-5
Chê bánh ma-na, muốn ăn thịt – Câu chuyện nghe đọc và trọng tâm bài giảng
A-rôn và Mi-ri-am chống đối Mô-se (DSK 12:1-15)
Nổi loạn sau khi 12 thám tử trở về (hoang mạc Pha-ran tại Ca-đe -Ca-đét Ba-nê)
Vì tội này, dân sự phải đi trong đồng vắng trong 40 năm. Trong thời gian đó, dân sự vẫn phàn nàn, trách móc, nổi loạn, phạm tội. Sách Quan Xét cho thấy rõ điều này.
Vậy cho đến khi dân sự ta thán, trách móc vì ma-na, họ đã thử ĐCT 7 lần! Lần này họ thử ĐCT bằng cách nào? 4Bọn dân tạp trong dân Y-sơ-ra-ên thèm muốn thức ăn đến nỗi dân Y-sơ-ra-ên lại than khóc rằng: “Ai sẽ cho chúng tôi ăn thịt? 5Chúng tôi nhớ cá mà chúng tôi ăn không phải trả tiền tại Ai Cập cùng với dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành và tỏi. 6Bây giờ thể xác chúng tôi hao mòn, không có gì ăn hết, chỉ thấy ma-na mà thôi.”(DSK 11:4-6) Bây giờ, linh hồn chúng tôi bị khô héo, không có chi hết! Mắt chỉ thấy ma-na mà thôi. (BTT)
Từ tạp dân có nghĩa là những người ngoại cùng đi với dân DT khi ra khỏi Ai-câp. DSK 12:38 cho biết đây là những người dân ngoại giàu có: Cũng có một số đông người ngoại bang cùng đi, mang theo rất nhiều đàn chiên và gia súc. Từ thèm là từ dùng trong điều răn thứ 10 chớ tham vợ người lân cận hay tài sản, đất đai, tham muốn, tham lam những điều của người mình không có.
Trong tiếng Hê-bơ-rơ từ dịch thèm muốn này gồm 2 từ 'āvâ - tham lam, dục vọng (thể xác), và ta'ăvâ – thèm khát, thèm muốn. Đây là cách nhấn mạnh theo ngôn ngữ Hê: thèm khát, thèm muốn hết sức mạnh mẽ, không thể không có. Giống như khi Am-nôn nổi lòng thèm khát, tham muốn Ta-ma, em gái cùng cha khác mẹ (2 Sam 13). Khi thỏa mản sự thèm muốn rồi lại chán ngán, thậm chí thù ghét!
Chính nhóm người này vì sự thèm khát quá đổi ảnh hưởng cho đến cả dân sự khiến cho than khóc. Họ thèm thịt, cá, dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành và tỏi; tất cả đều miễn phí! Họ hỏi: ai sẽ cho họ ăn những thứ này? Hàm ý chắc chắn không phải ĐCT! Vì không có các thứ này để ăn nên Bây giờ, linh hồn chúng tôi bị khô héo, không có chi hết! Mắt chỉ thấy ma-na mà thôi. – BTT
Rất tiếc BHĐ dịch câu 6 không chuẩn bằng BTT: Bây giờ, linh hồn chúng tôi bị khô héo, không có chi hết! Mắt chỉ thấy ma-na mà thôi. 3 điều khác nhau quan trọng giữa 2 bản dịch này: 1) thể xác (BHĐ) vs linh hồn (BTT); 2) hao mòn (giảm bớt đi) vs khô héo (không còn tươi, mất sức sống); 3) không có gì ăn hết vs không có chi hết (hoàn toàn không có gì cả) Không phải chỉ có thể xác hao mòn nhưng linh hồn khô héo. Có thực mới vực được đạo: Không có thức ăn thì nói chi đến thờ phượng, lo đến tâm linh!
Bánh ma-na được tả trong câu 7 Ma-na giống như hạt ngò, màu như nhựa thông. ĐCT ban cho dân sự bánh mana một tháng (tháng 2) sau khi ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập nơi đồng vắng Sin sau khi dân sự phàn nàn, ta thán vì không có thức ăn (Xuất 16:1-36).
Từ trời rơi xuống mỗi ngày. Dân Y-sơ-ra-ên làm như vậy, kẻ lượm nhiều, người lượm ít. 18Nhưng khi đong thì theo từng hai lít, ai lượm nhiều chẳng được hơn, ai lượm ít cũng chẳng thiếu. Mỗi người lượm vừa đủ sức mình ăn (Xuất 16:17-18). Nếu để dành đến ngày mai sẽ trở nên hôi thối. Đến ngày Sa-bát (thứ 7) sẽ không có để lượm nên thứ 6 phải lượm gấp đôi.
Câu chuyện trong DSK 11 xảy ra tại Kíp-rốt-Ha-tha-va (mồ của sự tham muốn) vào tháng 2 năm 2 sau khi rời trại đi khỏi núi Si-nai. Vậy cho đến lúc này dân sự đã ăn mana khoảng 1 năm (năm 1, từ tháng 2 cho đến năm 2, tháng 2). Dân sự ăn bánh ma-na từ ngày này qua ngày nọ, tháng này qua tháng kia. Tìm đủ mọi cách để làm bánh này, bánh khác nhưng cũng từ ma-na mà ra! Ngán quá phải không qv? Cũng như khi ở trại tị nạn chỉ có cá mồi với đậu, đậu với cá mồi làm đủ mọi cách nhưng vẫn thấy sợ cá mồi mười mấy năm sau khi đến HK rồi vẫn còn ngán, còn sợ.
Tại sao họ phàn nàn, trách móc vì phải ăn ma-na cả một năm trời (mắt chỉ thấy có ma-na!)? Tôi chỉ xin nêu lên vài điều sau đây:
Dân sự hoàn toàn quên đi nỗi đau khổ, nhọc nhằn khi còn là nô lệ trong xứ Ai-cập
Quên đi ơn phước ĐCT ban cho trước mắt: Sự bảo vệ và hướng dẫn qua đám mây dẫn đường - Lẽ ra dân sự mỗi ngày nhìn thấy đám mây bảo vệ khỏi nắng nóng cháy da, ban đêm nhìn thấy trụ lửa bảo vệ khỏi cơn lạnh thấu xương thì phải tạ ơn Chúa. Khi đám mây dừng, dân đóng trại, dừng lều tạm (trung tâm mọi dân sự) cho đến khi đám mây di chuyển, dân dở trại
Không hiểu ĐCT muốn dạy dỗ, huấn luyện để dân có thể vào đất hứa. 10 điều răn hay luật pháp Chúa ban. Nếu không có đoàn dân này sẽ không bao giờ có thể trở nên một quốc gia kỷ luật, trật tự, mạnh khỏe, can đảm để vào đất hứa Vậy, anh em phải giữ và thực hành các mệnh lệnh và luật lệ nầy, vì nhờ vậy mà các dân tộc sẽ thấy sự khôn ngoan và hiểu biết của anh em. Khi nghe về các mệnh lệnh nầy họ sẽ nói: ‘Chỉ có dân tộc vĩ đại nầy mới thực sự là một dân tộc khôn ngoan và hiểu biết!’ 7Vì có dân tộc vĩ đại nào có được một vị thần ở gần như chúng ta có Giê-hô-va Đức Chúa Trời ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta cầu khẩn Ngài không? 8Có dân tộc vĩ đại nào có được những mệnh lệnh và luật lệ công minh như toàn bộ luật pháp mà ngày nay tôi đặt trước mặt anh em không? (PT 4:6-8)
Xem vật chất trọng hơn tâm linh - Lều tạm – sự hiện diện của ĐCT
Quên rằng trong đồng vắng chính ĐCT đã ban cho thức ăn, nước uống – nhu cầu cần thiết nhất để sống. 4Suốt bốn mươi năm nay áo quần anh em không sờn rách, chân anh em chẳng sưng phù. (PT 8:4) Ma-na đầy đủ chất bổ dưỡng cho cuộc hành trình gian nan trong đồng vắng
Dân sự nghĩ về nhu cầu thể xác, vật chất; ĐCT nghĩ về việc huấn luyện, dạy dỗ, thay đổi đoàn dân nô lệ trở thành một quốc gia, một đạo quân kỷ luật, mạnh mẽ. Dù dân sự đã ra khỏi Ai-cập, nhưng Ai-cập vẫn còn ở trong lòng, trong trí, trong tim họ. 2Hãy nhớ lại suốt chặng đường trong hoang mạc mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dẫn anh em đi trong bốn mươi năm nay, Ngài hạ anh em xuống và thử thách anh em để biết rõ lòng anh em thế nào, có tuân giữ điều răn của Ngài hay không. 3Ngài hạ anh em xuống, khiến anh em gặp cảnh đói khổ rồi cho anh em ăn ma-na mà anh em và tổ phụ anh em chưa từng biết, để dạy anh em biết rằng loài người sống không chỉ nhờ bánh, nhưng nhờ mọi lời phán từ miệng Đức Giê-hô-va. (PT 8:2-3)
NGUYÊN NHÂN PHÀN NÀN - 7 LOẠI PHÀN NÀN TRONG ĐỒNG VẮNG
Phàn nàn về đòi hỏi thể xác, thèm muốn của xác thịt:
Ma-ra – nước đắng (Xuất 15:23-24)
Đồng vắng Sin – thiếu thức ăn (Xuất 16:2-3) ĐCT ban cho ma-na
Rê-phi-đim – thiếu nước uống (Xuất 17:1-7)
Kíp-rốt-Ha-tha-va (mồ của sự tham muốn) – muốn thịt, cá, dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành, và tỏi (DSK 11:4-6)
Mê-ri-ba lần 2 – không nước, Mô-se đập lên hòn đá (DSK 20:2-5)
Phàn nàn về người lãnh đạo (Mô-se, A-rôn, ĐCT)
Phàn nàn vì sợ hãi, hay không tin cậy ĐCT dù đã thấy bao nhiêu phép lạ
Phàn nàn vì nhớ lại 300 năm trong xứ Ai-cập như một thời “vàng son” thay vì là thời kỳ làm nô lệ
Phàn nàn vì sự ban cho, bảo vệ, quan phòng của ĐCT (mana, lãnh đạo, bảo vệ) không đủ, vẫn còn thiếu sót, không làm cho họ thỏa lòng, không như ý muốn
Phàn nàn vì lòng ghen tị, danh vọng con người với Mô-se (DSK 16 nổi loạn của Cô-ra)
Phàn nàn đưa đến việc thờ hình tượng. Tại sao? Vì không thỏa lòng với ĐCT nên sẽ tìm các thần khác (sắc đẹp, tài giỏi, thành công, giàu có…) – mức độ nguy hiểm cao nhất vì thay chổ ĐCT bằng các tà thần. PL tại thành A-thên có nhiều tượng thần hơn số dân!
Không hoàn toàn tin cậy vào ĐCT, tin tưởng người lãnh đạo, nhìn lên, nhìn tới trước là nguyên nhân của sự phàn nàn, trách móc. Sự phàn nàn sẽ dẫn đến việc thờ thần tượng
BÀI HỌC
A. 4 cái nhìn, 4 cách nhìn:
1) Nhìn lên – ơn phước, sự ban cho của ĐCT. Sinh ra lòng biết ơn, dâng lời cảm tạ.
2) Nhìn xuống – chỉ thấy thất vọng, mất mát, đau buồn. Sinh lòng buồn chán, sầu khổ, quẩn quanh, rối loạn không giải quyết gì được. Một thái độ khác là
3) Nhìn sau – phàn nàn, ta thán, so sánh, câu hỏi phải chi, xiềng xích, ngục tù quá khứ giam hãm, trói buộc.
4) Nhìn trước – thực tế với nhiều vấn đề, công việc, trách nhiệm cần giải quyết, tiến tới trước, hy vọng.
B. Cần phân biệt rõ giữa nhu cầu cần thiết và căn bản vs ham muốn, đòi hỏi của xác thịt. ĐCT chỉ hứa đáp ứng nhu cầu cần thiết, căn bản nhưng không hề hứa sẽ cho điều lòng mình mong mỏi
C. Hai mục đích hoàn toàn khác nhau:
Thay vì nhìn những điều ĐCT ban cho, dân sự nghĩ đến những điều xác thịt thèm muốn. ĐCT hạ xuống, thử thách để xem dân sự có vâng phục; khiến đói khỏ rồi cho bánh ma-na để dạy anh em biết rằng loài người sống không chỉ nhờ bánh, nhưng nhờ mọi lời phán từ miệng Đức Giê-hô-va. Sống vâng phục, sống nhờ lời Chúa – Mục đích chính của ĐCT cho dân sự chăm vào những gì thuộc về tâm linh (những gì không thấy được có giá trị đời đời)
Dân sự muốn những gì thỏa mãn nhu cầu, dục vọng, thèm muốn của thể xác. Chăm vào vật chất, xác thịt (những gì thấy được nhưng chỉ là tạm bợ)
DSK 11 cho thấy dân sự phàn nàn, ta thán, lầm bầm vì mắt chỉ thấy có ma-na mà không thấy thứ gì khác, vì chỉ ăn có ma-na. Họ muốn ăn gì thịt, cá những dưa chuột, dưa gang, củ kiệu, hành, và tỏi. 6 Bây giờ, linh hồn chúng tôi bị khô héo, không có chi hết! Mắt chỉ thấy ma-na mà thôi.
Ai quên đi ngôn ngữ của lòng biết ơn không bao giờ có thể nói được tiếng của hạnh phúc.
