Tại Nơi Nước Đắng
Trong đời sống, trong công việc Chúa, chắc chắn có lúc chúng ta sẽ đến nơi vô cùng khó khăn, thử thách tưởng như không vượt qua được, nan đề như không cách nào giải quyết. Chính nơi đó chúng ta mới học được sự nhờ cậy vào Chúa và kết đậu trái TL. Đó là nơi nước đắng như trong đoạn KT chúng ta sẽ đọc trong Xuất 15:22-26.
Đoạn KT này viết về một sự kiện xảy ra khoảng 1-2 tháng sau khi dân sự được giải cứu ra khỏi Ai-cập sau 430 năm nô lệ. Niềm vui lớn khi mới ra khỏi xứ nô lệ. Khi ra khỏi Ai-cập, dân số trên 2 triệu:
37Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Ram-se đến Su-cốt; có khoảng sáu trăm nghìn đàn ông đi bộ, không tính trẻ con. 38Cũng có một số đông người ngoại bang cùng đi, mang theo rất nhiều đàn chiên và gia súc. (12:37-38) Dân sự phải hoàn toàn, tuyệt đối nương cậy vào ĐCT để sống.
KT viết về sự hướng dẫn của ĐCT: Vả, chúng đi khỏi Su-cốt, đóng trại tại Ê-tam, ở cuối đầu đồng vắng. 21 Đức Giê-hô-va đi trước dân sự, ban ngày ở trong một trụ mây, để dẫn đường đi; ban đêm trong một trụ lửa, để soi sáng cho chúng, hầu cho được đi luôn ngày và đêm. 22 Ban ngày trụ mây chẳng bao giờ cách xa dân sự, trụ lửa ban đêm cũng vậy. (13:20-22)
Đoạn KT này cho biết rõ chính ĐCT đi trước dân sự để dẫn đường, chỉ dẫn phương hướng cả ngày lẫn đêm: ngày thì qua trụ mây, đêm thì qua trụ lửa. Cả dân sự, ngoại trừ trẻ con, đều thấy, biết về sự dẫn đường này. Có ai lại không muốn được ĐCT hướng dẫn cách rõ ràng, cụ thể, chắc chắn như vậy?
Muốn biết mình sẽ làm hảng nào: trụ mây ban ngày sẽ dẫn đến đúng nơi, đúng chổ. Muốn biết mình sẽ lấy ai: trụ lửa ban đêm sẽ dẫn đường đến nhà thiếu nữ, thanh niên đó. Muốn biết mình sẽ đi nhà thờ nào: cứ theo đám mây hay trụ lửa!
Qv có biết tại sao ĐCT lại dẫn đường dân sự bằng cách đó hay không? Bởi vì họ vẫn còn là con trẻ trong đức tin. Dù đã ra khỏi xứ Ai-cập, nhưng sau 430 năm nô lệ, Ai-cập vẫn còn ở trong họ. Dân sự vẫn còn suy nghĩ như nô lệ, sinh sống như nô lệ, lo lắng, sợ hãi, mong ước, hoài vọng như nô lệ.
Sau đó, ĐCT sai Mô-se dẫn dân sự: Đức Giê-hô-va phán với Môi-se: 2“Hãy truyền cho dân Y-sơ-ra-ên quay lại đóng trại trước Phi Ha-hi-rốt, giữa Mít-đôn và biển, đối diện Ba-anh Sê-phôn. Các con hãy đóng trại ngang đó, trên bờ biển. 3Vì Pha-ra-ôn sẽ nói về dân Y-sơ-ra-ên rằng: ‘Dân đó đang luẩn quẩn trong xứ; hoang mạc đã vây kín chúng rồi.’ (14:1-3).
Về chiến lược, đây là một địa điểm hết sức nguy hiểm: trước là Biển Đỏ, sau là đội quân.
Nhưng tại sao? Để làm gì, với mục đích gì? Ta sẽ làm cho Pha-ra-ôn cứng lòng, và sẽ đuổi theo dân đó. Nhưng Ta sẽ được tôn vinh vì Pha-ra-ôn và cả quân đội của vua ấy; người Ai Cập sẽ biết Ta là Đức Giê-hô-va.”
Rồi dân sự phải đối diện với Pha-ra-ôn và quân đội Ai-cập. Sau lưng là đội quân, trước mặt là Biển Đỏ. Trước nguy hiểm đe dọa mạng sống của mình, của gia đình mình, họ không thể làm gì hơn là nhờ cậy vào phép lạ của ĐCT. Nhưng cũng lại trách móc Mô-se: “Ở Ai Cập không đủ mồ chôn hay sao mà ông đem chúng tôi vào chết trong hoang mạc nầy? Ông đưa chúng tôi ra khỏi Ai Cập để làm gì chứ? 12Chẳng phải chúng tôi đã nói với ông tại Ai Cập rằng: ‘Mặc kệ chúng tôi, cứ để chúng tôi phục dịch dân Ai Cập’ đó sao? Vì thà phục dịch họ còn hơn phải chết trong hoang mạc!” (13:11-12)
Nhưng cả ĐCT và Mô-se không hề khiển trách dân sự. Tại sao? Bởi vì họ còn là con trẻ. [Cần có sự kiên nhẩn với tín đồ mới]
Rồi họ chứng kiến một phép lạ chưa từng có: trước mắt họ thấy nước biển rẽ làm hai. Họ mọi người đi qua bình an. Nhưng quân đội Ai-cập bị tiêu diệt. Dân Y-sơ-ra-ên thấy việc lớn lao mà Đức Giê-hô-va đã làm cho người Ê-díp-tô, nên kính sợ Ngài, tin Ngài và Môi-se, là tôi tớ Ngài. (14:31)
Chính vì lý do này họ vui mừng, ca hát, tôn vinh, khen ngợi ĐCT đầy quyền năng.
Nhưng chỉ ba ngày sau đó, không nước uống. Khi tìm được lại là nước đắng!
Sau đó, Môi-se đem dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi Biển Đỏ, đi vào hoang mạc Su-rơ. Họ đi trọn ba ngày trong hoang mạc nhưng không tìm thấy nước. 23Khi đến đất Ma-ra, vì nước ở Ma-ra đắng nên họ không thể uống được; do đó nơi nầy có tên là Ma-ra. 24Dân chúng phàn nàn với Môi-se rằng: “Chúng tôi sẽ lấy gì mà uống đây?”
trọn ba ngày đi trong đồng vắng, kiếm chẳng được nước đâu cả. (22). Tôi hy vọng không ai trong qv nghĩ rằng đây là chuyện nhỏ. Ba ngày không nước là một nan đề rất lớn, nhất là dưới ánh nắng nung đốt ban ngày trong đồng vắng. Thử nghĩ cha mẹ có con nhỏ, gia đình có người già yếu; đoàn chiên cừu, gia súc không có nước thì sao sống nổi.
Nhưng khi kiếm được nước lại vô cùng thất vọng. Vì nước nơi đó không uống được, nước đắng nên mới gọi là Ma-ra (như bà Na-ô-mi bảo gọi bà là Ma-ra!) Dân sự bèn oán trách Môi-se rằng: Chúng tôi lấy chi uống? Từ oán trách còn được dịch là phàn nàn, than phiền. Khi còn trong xứ nô lệ Ai-cập, dân sự không bao giờ thiếu nước vì trong xứ nhiều sông ngòi. Họ muốn uống bao nhiêu cũng được. Vậy đây là một kinh nghiệm mới mẻ cho dân sự.
2 địa danh, nơi chốn: Ma-ra và Ê-lim. Tại Ma-ra dân sự tìm được nước nhưng lại là nước đắng. Nhưng tại Ê-lim, họ có được 12 suối nước và 70 cây chà là, mặc sức mà ăn uống. 12 suối để mỗi chi bộ được 1 suối; 70 cây để mỗi trưởng lão được trọn 1 cây. Dưới mắt con người, Ê-lim là nơi phước hạnh hơn Ma-ra. Có thật vậy không?
KT dùng 4 câu để viết về Ma-ra và những gì xảy ra tại nơi nước đắng đó. Nhưng chỉ 1 câu tại Ê-lim. Có phải Ma-ra 4 lần lợi ích, quan trọng cho dân sự hơn là Ê-lim không? Không biết mấy lần, nhưng chắc rằng Ma-ra đem lại lợi ích và có ý nghĩa hơn Ê-lim. Tại Ê-lim không hề có phép lạ như tại Ma-ra. Tại Ma-ra ĐCT ban phát cho dân sự luật lê và quy tắc.
Tại đây Đức Giê-hô-va lập luật lệ và quy tắc cho dân chúng, và cũng tại đây Ngài thử lòng họ. 26Ngài phán: “Nếu các con chăm chú nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các con, làm điều ngay thẳng trước mặt Ta, lắng tai nghe các điều răn và gìn giữ mọi luật lệ Ta thì Ta sẽ không giáng trên các con một bệnh nào trong các bệnh mà Ta đã giáng trên dân Ai Cập. Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bệnh cho các con.”
Hễ khi nào dân Ỵ còn là 1 dân tộc thì luật lệ và quy tắc vẫn còn. Tại Ma-ra ĐCT dạy dỗ, nhắc nhở và ban cho dân sự lời hứa rằng nếu dân sự trung tín, làm theo điều Chúa dạy thì chính Ngài sẽ là Đấng sẽ chửa lành bệnh cho họ khỏi mọi tật bệnh mang từ Ê-díp-tô. Đây cũng là một danh xưng mới của ĐCT: Giê-hô-va rāp̄ā' (raw-faw') ĐCT chửa lành cho con.
Dân sự có thể tự hỏi: tại sao ĐCT dẫn đường ban ngày qua đám mây, ban đêm qua trụ lửa mà lại đem họ đến nơi nước đắng này.
Tai sao ĐCT lại dẫn dân sự đến Ma-ra? Câu 25 để thử họ. Mô-se giải thích cho dân sự về lý do của đồng vắng, thử thách trong đồng vắng, Ma-ra như sau: Hãy nhớ lại suốt chặng đường trong hoang mạc mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã dẫn anh em đi trong bốn mươi năm nay, Ngài hạ anh em xuống và thử thách anh em để biết rõ lòng anh em thế nào, có tuân giữ điều răn của Ngài hay không. (PT 8:2) Không phải để ĐCT biết rõ lòng dân sự thế nào, nhưng để dân sự biết rõ lòng của chính họ.
Biết rõ lòng có nghĩa gì? Biết điều gì thật sự quí báu, quan trọng, chính yếu, điều gì chúng ta coi trọng hơn hết, dành thời gian nhiều nhất, đặt hết tâm trí vào, điều gì thật sự làm chủ, làm chúa của đời sống. [Ở lại học tiếp cao học, tiến sĩ để có cơ hội hầu việc Chúa. Nhưng các bạn anh đều thấy rõ không phải vậy!]
Thông thường chúng ta hay phàn nàn, ta thán về cảnh khổ, khó khăn, mất mát; ít hơn là cảm tạ, có lòng biết ơn khi hanh thông, thuận lợi, thành công. Nhưng chúng ta cũng thường nhớ về những kinh nghiệm, bài học trong nghịch cảnh hơn; thời gian sung sướng, dễ dàng ít khi đem lại kinh nghiệm, bài học gì đáng nhớ. Đây là lý do ĐCT dẫn đường cho dân sự đi vào đồng vắng. Để dạy dỗ, huấn luyện.
Trong đồng vắng Chúa dạy dân sự biết lắng nghe tiếng Ngài, biết nhờ cậy nơi Ngài trong mọi thứ cần thiết cho đời sống: nước, bánh, thịt, quần áo mặc, sức khỏe. Trong đồng vắng, họ không thể trồng trọt, cũng không có lúa cỏ để nuôi chiên cừu, gia súc dù khi rời Ê-díp-tô họ có mang theo.
Tôi xin hỏi qv: mỗi người chúng ta cần bao nhiêu Ma-ra, hay Biển Đỏ hay đồng vắng Sin để có thể biết rõ lòng dạ của chính mình? Dù câu trả lời là tùy theo từng người nhưng một điều chắc chắn là cần nhiều lắm, trong thời gian lâu lắm để mỗi chúng ta mới thật sự biết rõ chính lòng mình. Mô-se cần 40 năm chăn chiên trong đồng vắng dù 40 năm trước đó là hoàng tử Ai-cập. Dân sự cần 40 năm trong đồng vắng trước khi vào đất hứa. Áp-ra-ham 25 năm để có Y-sắc. Y-sắc 20 năm để có Ê-sau và Gia-cốp. Đa-vít bị Sau-lơ đuổi bắt để giết trong khoảng 10-12 năm.
Đây cũng là câu hỏi của nhiều người trong số qv đây: tại sao ĐCT lại đem HT Ngài đến nơi nước đắng, đem gia đình con, cá nhân con đến Ma-ra? Khi hỏi, qv có thể quên về những ơn phước Chúa đã ban. Đang đi khó khăn, hoạn nạn, đau đớn, rất khó cho chúng ta hành động, lời nói, thái độ chín chắn, có lòng bình tịnh. Tại sao? Bởi vì môi trường, hoàn cảnh sẽ chi phối, ảnh hưởng cảm xúc: buồn, giận, chán nản, thất vọng. Rồi chúng ta sẽ nói, làm, nghĩ theo cảm xúc nhất thời đó.
Tại nơi nước đắng, chúng ta xin ĐTL giúp bình tâm, đừng để cảm xúc nhất thời ảnh hưởng tiêu cực đến lời nói, thái độ, hành động, trong các cư xử, sinh sống. Đồng vắng, nơi nước đắng hoặc giúp chúng ta khiêm nhường hơn, nhân từ hơn, kiên nhẫn hơn, tin cậy hơn vào Chúa; nhưng cũng có thể làm cho chúng ta trở nên cay đắng, nghi ngờ, tức giận với người và với Chúa.
Để biết rõ chúng ta yêu mến Chúa vì Ngài biết nước đắng thành nước ngọn, vì phép lạ Ngài làm, vì ơn phước Chúa ban hay chỉ vì Ngài là Chúa, vì Ngài yêu thương, hy sinh cho tôi. Phải cần thời gian, cần đồng vắng, cần Ma-ra chúng ta mới thật sự biết rõ lòng mình.
Giữa Ê-lim và Ma-ra dân sự chắc chọn Ê-lim vì có 12 suối, 70 cây chà-là. Còn qv thì sao? Luật pháp, điều lệ có ý nghĩa gì, giá trị gì? Lời hứa của ĐCT có giá trị gì hơn 12 suối, 70 cây không? Ơn phước tại Ê-lim chỉ ngắn hạn, tạm thời, để giúp dân sự đi tiếp qua đồng vắng Sin cho đến núi Si-nai, nơi dân sự cắm trại lâu nhất. Có gì ở đó? Đó là nơi ĐCT ban cho dân sự 10 điều răn và chi tiết để xây cất đền thờ di động.
Tại sao Ma-ra và đồng vắng? Bởi vì ĐCT muốn lấy Ai-cập ra khỏi tấm lòng của dân sự, để họ không còn suy nghĩ, ăn nói, cư xử, sinh sống như nô lệ, nhưng như con trai, con gái của ĐCT trước khi đưa họ vào đất hứa. Tôi chắc qv có thể liên hệ được điều này trong những lời dạy TU về cuộc đời của người được ĐCJC tha thứ, cứu tội trước khi gặp Ngài nơi thiên đàng.
Để biến nước đắng thành nước ngọt, ĐCT làm gì? Môi-se kêu van Đức Giê-hô-va; Ngài bèn chỉ cho người một cây gỗ, người lấy liệng xuống nước, nước bèn hóa ra ngọt (25). Tôi đọc một sách giải kinh giải thích rằng cây gỗ này có chất hóa học đặc biệt khiến cho nước đắng nên ngọt: Các hóa chất trong nhựa cây của cây gỗ đã kéo hàm lượng khoáng chất xuống đáy hồ và chỉ để lại nước tốt phía trên mặt (The chemicals in the sap of the broken limb drew the mineral content down to the bottom of the pools and left only good water on top). Hơn thế nữa: Ông suy đoán thêm rằng mặc dù nước bây giờ có thể uống được, nhưng vẫn có một hàm lượng magiê (magnesium) và canxi (calcium) đáng kể trong nước. Tác dụng nhuận tràng của việc này sẽ làm sạch hệ thống tiêu hóa của dân sự Israel, làm sạch chúng khỏi các bệnh thông thường của Ai Cập như kiết lỵ amip và bilharzia, một căn bệnh suy yếu phổ biến ở nông dân Ai Cập. Ngoài ra, canxi và magiê cùng nhau tạo thành cơ sở của một loại thuốc gọi là dolomite - được sử dụng bởi một số vận động viên như một chất tăng cường hiệu suất trong điều kiện thời tiết nóng. Tại Ma-ra, Đức Chúa Trời đã cung cấp liều thuốc thích hợp để vừa làm sạch hệ thống của họ, vừa chuẩn bị cho họ một chuyến đi dài và nóng đến Sinai.
Tôi tin vào phép lạ ĐCT thực hiện hơn lời giải thích này. Tại sao? Rất đơn giản: 37Dân Y-sơ-ra-ên đi từ Ram-se đến Su-cốt; có khoảng sáu trăm nghìn đàn ông đi bộ, không tính trẻ con. 38Cũng có một số đông người ngoại bang cùng đi, mang theo rất nhiều đàn chiên và gia súc. (12:37-38) Khoảng 600 ngàn đàn ông, chưa tính phụ nữ, trẻ con nên có thể lên hơn 1 triệu người, có người ước tính 2 triệu. Bên cạnh đó có rất nhiều đàn chiên và gia súc. 1 triệu người lớn nhỏ, cộng thêm vài chục ngàn chiên cừu, gia súc. Qv nghĩ bao nhiêu nước mới đủ cho số người và thú vật này? Làm thế nào chỉ một cây mà có thể lọc sạch cả hồ nước lớn?
Nhưng có một cây gỗ có thể biến nước đắng thành ngọt không chỉ cho 1-2 triệu người, nhưng hiện nay cho bao nhiêu triệu người trên thế giới này (2.4 tỉ người, tức gần 1/3 dân số trên trái đất). Cây gỗ đó là thập tự giá mà ĐCJC đã vác lên đồi Gô-gô-tha, rồi bị đóng đinh, treo lên cho đến chết. Ngài gánh tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội lỗi, được sống cho sự công bình; lại nhân những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bịnh. (1 Phi-e-rơ 2:24)
[Không cần phải đến nước đắng, ĐCT cũng có thể dùng những điều nhỏ nhoi, tưởng không có gì đáng kể, nhưng gây khó chịu xảy ra trong HỘI THÁNH trong gia đình, nơi làm việc…]
Chính huyết của ĐCJC đã biến cho nước đắng từ những cuộc đời tội lỗi, đáng chết sang nước ngọt từ con trai, con gái yêu dấu của ĐCT. Và bởi huyết Ngài trên thập tự giá, thì đã làm nên hòa bình, khiến muôn vật dưới đất trên trời đều nhờ Ngài mà hòa thuận cùng chính mình Đức Chúa Trời. (Cô-lô-se 1:20)
Dù dân sự Ỵ không uống nước đắng nhưng chính ĐCJC đã uống chén đắng ghê sợ chứa đựng nhớp nhơ từ tội lỗi con người, chén đắng mà Chúa xin Cha lấy khỏi Ngài nhưng không theo ý con mà theo ý Cha. “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén nầy khỏi Con! Dù vậy, xin ý Cha được nên, chứ không theo ý Con!” (Lu-ca 22:42) Chính vì Chúa uống chén đắng đó mà cây gỗ Ngài bị đóng đinh mới biến nước đắng thành nước ngọt. Đây chính là điều tôi mong chúng ta suy nghĩ đến!
Một ngày kia, Đức Chúa Jêsus xuống thuyền với các môn đồ và bảo: “Chúng ta hãy qua bên kia hồ.” Vậy, họ chèo thuyền đi. 23Trong khi họ đang chèo thuyền thì Ngài ngủ. Một cơn bão nổi lên trên hồ, nước vào đầy thuyền, và họ đang gặp nguy hiểm. 24Các môn đồ đến đánh thức Ngài và nói: “Thầy ơi, Thầy ơi, chúng ta chết mất!” Ngài thức dậy, quở gió và sóng, chúng liền ngừng lại và yên lặng như tờ. 25Ngài phán với các môn đồ: “Đức tin các con ở đâu?” Môn đồ sợ hãi và kinh ngạc hỏi nhau: “Ngài là ai mà khiến cả gió lẫn nước cũng phải vâng lệnh Ngài?” (Lu-ca 8:22-25)
Bấy giờ một trận bão lớn nổi lên, sóng đập vào thuyền dữ dội, nước tràn vào đến nỗi thuyền gần chìm, 38trong khi đó Ngài ở đuôi thuyền, tựa đầu vào chiếc gối mà ngủ. Họ đến đánh thức Ngài dậy và nói, “Thưa Thầy, chúng ta sắp chết rồi mà Thầy không lo gì sao?”
Các môn đồ hỏi như trách ĐCJC: Thưa Thầy, chúng ta sắp chết rồi mà Thầy không lo gì sao?” Sau khi làm yên cơn giông bão, Chúa hỏi các môn đồ: đức tin các con ở đâu? Sao các ngươi sợ? Chưa có đức tin sao? (Mác 4:40) Câu hỏi hàm ý rằng các môn đồ đã được ban cho đức tin; họ đã có đức tin. Nhưng trước hiểm nguy, họ quên điều này.
Khi ĐCT im lặng không có nghĩa là vắng mặt. Khi ĐCT không hành động không có nghĩa là Ngài không làm gì cả, không có chương trình, dự tính; không hành động hôm nay vì chưa đúng thời điểm, theo ý chỉ của Ngài. 10Hãy yên lặng và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời. Ta sẽ được tôn cao trong các nước, cũng sẽ được tôn cao trên đất. (TT 46:10)
Trong cơn giông bão hãi hùng này, dù các môn đồ có đức tin to lớn, sâu rộng đến mấy nhưng tin vào chiếc thuyền, vào khả năng lèo lái của họ, thì cũng không được giải thoát. Đức tin của họ phải vào Đấng đang ở cùng họ trên thuyền, vào ĐCJC.
Tại nơi nước đắng, dân sự đã quên đi phép lạ ĐCT đã làm để giúp họ qua biển đỏ. Có đức tin vào Chúa là phải nhớ lại Ngài là ai – Đấng có thể rẽ biển để giải thoát dân sự. Đấng đó chắc cũng sẽ biến nước đắng thành nước ngọt cho dân sự. Không chỉ vậy, Ngài còn ban cho luật pháp, điều lệ, lời dạy dỗ và lời hứa chắc chắn sẽ chửa lành.
Đây chính là Đấng chúng ta tin cậy trong lúc hội thánh có khó khăn tại nơi nước đắng.
Giê-rê-mi 29:11
