Ta Sẽ Không Lìa Con
Tựa đề bài giảng hôm nay là Ta sẽ không lìa ngươi, dựa theo Giô-suê 1:5 Ta sẽ ở cùng ngươi như ta đã ở cùng Môi-se; ta sẽ không lìa ngươi, không bỏ ngươi đâu. Tôi xin được đọc lời Chúa trong G1:1-9
5 Trót đời ngươi sống, sẽ chẳng ai chống cự được trước mặt ngươi. Ta sẽ ở cùng ngươi như ta đã ở cùng Môi-se; ta sẽ không lìa ngươi, không bỏ ngươi đâu. 6 Hãy vững lòng bền chí, vì ngươi sẽ dẫn dân nầy đi nhận lấy xứ mà ta đã thề cùng tổ phụ ban cho chúng nó. 7 Chỉ hãy vững lòng bền chí, và cẩn thận làm theo hết thảy luật pháp mà Môi-se, tôi tớ ta, đã truyền cho ngươi; chớ xây qua bên hữu hoặc bên tả, để hễ ngươi đi đâu cũng đều được thạnh vượng. 8 Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước. 9 Ta há không có phán dặn ngươi sao? Hãy vững lòng bền chí, chớ run sợ, chớ kinh khủng; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi. (Giô-suê 1:5-9)
Hai phần chính trong bài giảng sáng nay: 1) Những khó khăn đối diện. G. và dân sự Chúa phải đối diện với những khó khăn gì và liên hệ thế nào đến hoàn cảnh chúng ta trong năm mới này; 2) Lời hứa và dạy bảo của ĐCT. Biết rõ về hoàn cảnh của dân sự ĐCT có lời hứa gì và dạy họ gì để có thể khắc phục những khó khăn trước mắt.
NHỮNG KHÓ KHĂN ĐỐI DIỆN
G. và dân sự Chúa đối diện với những khó khăn gì và trong hoàn cảnh thế nào? Trong đoạn KT này, sau 40 năm dài lang thang trong đồng vắng, dân sự Ỵ đang đứng trước thềm của vùng đất hứa. Đây là vùng đất mà gần 500 năm trước đó ĐCT đã hứa ban cho tổ phụ họ là Áp-ra-ham, vùng đất được gọi là đất đượm sữa và mật. ĐCT cũng ra lệnh cho Giô-suê chuẩn bị dân sự vượt qua sông Giô-đanh để chinh phục đất hứa. G. là ai mà ĐCT dùng để lãnh đạo dân sự vào đất hứa.
G. là một cận tướng, phụ tá của Mô-se trong suốt 40 năm trời từ khi dân sự ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập. Đến lúc này G. khoảng 80. Lý do là theo lời của Ca-lép, một người bạn đồng lứa tuổi với G. trong Giô-suê 14:7 Khi Môi-se, tôi tớ của Đức Giê-hô-va, ở Ca-đe-Ba-nê-a sai tôi đi do thám xứ, thì tôi đã được bốn mươi tuổi. Ca-lép được Mô-se sai đi thám sát xứ Ca-na-an cùng với 11 người khác, trong số đó có G. Từ đó đến nay 38 năm đã qua, nên đến khi dân sự sắp vào đất hứa thì C. đã khoảng 78 tuổi. Vậy G. cũng khoảng tuổi của C., khoảng 80.
Trong 80 năm đời đó, 40 năm đầu tiên G. lớn lên trong xứ Ai-cập như một nô lệ sống đời nhục nhã, cơ cực. 40 năm sau lại bước đi dưới sự lãnh đạo của Mô-se trong đồng vắng. G. là một người trưởng thành và tôi luyện trong nghịch cảnh, khó khăn.
Đây cũng là một điều tương tự như giai đoạn thứ 2 trong cuộc đời của Mô-se đã phải trải qua 40 năm chăn chiên trong đồng vắng. ĐCT đã dùng khoảng thời gian này để chuẩn bị Mô-se cho việc lãnh đạo dân sự Ỵ ra khỏi xứ nô lệ thì ĐCT cũng đã dùng khoảng thời gian 40 năm dân sự lang thang trong đồng vắng để chuẩn bị và rèn luyện cho G. để có thể lãnh đạo dân sự Chúa chinh phục đất hứa.
Lần đầu tiên KT viết về G. như một vị tướng, một người lãnh đạo quân đội trong XÊDTK 17:8-9: Người A-ma-léc đến tấn công dân Y-sơ-ra-ên tại Rê-phi-đim. 9 Môi-se bảo Giô-suê: “Hãy tuyển chọn người của chúng ta để ra chiến đấu chống lại dân A-ma-léc. Ngày mai tôi sẽ đứng trên ngọn đồi với cây gậy của Đức Chúa Trời trong tay.” Trong cuộc chiến đầu tiên với A-ma-léc, G. học được một bài học vô cùng quí báu về quyền năng của ĐCT. Khi cây gậy trong tay của Mô-se được nâng cao thì quân Ỵ chiến thắng, khi gậy hạ xuống, quân A-ma-léc thắng. Dù ĐCT dùng binh tướng để chiến đấu với kẻ thù, nhưng cuối cùng chính ĐCT là Đấng ban cho dân sự chiến thắng. G. học biết rằng trong mỗi cuộc chiến, dân sự Chúa đều cần ĐCT. Có Chúa ở cùng, họ sẽ thắng; mất Chúa sẽ họ thua.
Đây cũng là bài học mà con cái Chúa trong HT cũng đã kinh nghiệm trong suốt năm 2020 qua. Trãi qua bao nhiêu khó khăn về công việc, kinh tế, lại thêm bệnh hoạn, các con không thể đến trường học phải học trên mạng tuyến, HT đóng cửa. Hết khó khăn này đến thử thách khác. Nhưng trong buổi cầu nguyện cuối năm tuần qua, tôi rất cảm động khi nghe lời cầu nguyện từ những anh chị em đã qua đồng vắng, qua trũng than khóc: họ dâng lời cảm tạ vì có Chúa ở cùng trong những trận chiến gian nan đã qua năm 2020.
Hơn một năm sau cuộc chiến với A-ma-léc tại Rê-phi-đim, G. thuộc chi phái Ép-ra-im, được Mô-se sai phái đi dọ thám vùng đất hứa cùng với 11 thám tử của các chi phái khác của Y. Mục đích là để xem xét vùng đất hứa, tươi tốt, màu mở, trù phú thế nào và dân sự, thành trì, đồn lũy trong xứ thế nào.
Khi trở về chỉ G. và C. trong số 12 thám tử cả quyết cùng dân sự rằng họ nên tin cậy ĐCT mà chinh phục đất hứa. Nhưng dân sự nghe lời số đông của 10 người kia mà sinh lòng sợ hãi. Rồi họ nổi loạn cùng Mô-se và ĐCT. Họ muốn trở lại xứ nô lệ Ai-cập.
Khi thấy dân sự sợ hãi rồi nổi loạn, chính G. can gián họ như sau: Xứ mà chúng tôi đã đi khắp đặng do thám thật là một xứ rất tốt; 8 nếu Đức Giê-hô-va đẹp lòng cùng chúng ta, ắt sẽ đem chúng ta vào xứ nầy mà ban cho; ấy là một xứ đượm sữa và mật. 9 Chỉ các ngươi chớ dấy loạn cùng Đức Giê-hô-va, và đừng sợ dân của xứ, vì dân đó sẽ là đồ nuôi chúng ta, bóng che chở họ đã rút đi khỏi họ rồi, và Đức Giê-hô-va ở cùng ta. Chớ sợ chi. (DSK 14:7-9). G. khuyên dân sự hãy tin vào quyền năng của ĐCT sẽ trợ giúp họ chinh phục xứ và đừng sợ. Hai lần G. bảo dân sự đừng sợ hãi. Nhưng dân sự không nghe rồi nổi loạn. Vì vậy ĐCT phạt dân sự phải đi trong đồng vắng 40 năm trời.
KT viết về G. sau 40 năm trong đồng vắng, phụ tá cho Mô-se: Giô-suê con trai của Nun được đầy dẫy thần trí khôn ngoan, vì Môi-se có đặt tay trên ông. Như vậy toàn dân Y-sơ-ra-ên vâng phục Giô-suê và làm theo điều CHÚA đã truyền dạy Môi-se. (PT 34:9 – BDM)
Khi G. nhận được những lời phán dạy này từ ĐGHV, G. và dân sự phải đối diện với nhiều khó khăn trước mắt. Rất nhiều khó khăn, nhưng tựu chung là bốn khó khăn lớn sau đây.
Khó khăn đầu tiên là Mô-se đã qua đời. KT viết về Mô-se thế này: Về sau, trong dân Y-sơ-ra-ên không có tiên tri nào như Môi-se, là người được CHÚA biết mặt đối mặt, Ngoài Môi-se ra không có tiên tri nào được CHÚA sai thực hiện những dấu kỳ, phép lạ như vậy trong xứ Ai-cập, trước mặt vua, tất cả quần thần và toàn dân Ai-cập. Không một ai bầy tỏ quyền năng phi thường hay làm những việc vĩ đại đáng kinh sợ như công việc Môi-se đã làm trước mắt toàn dân Y-sơ-ra-ên. (PT 34:10-12 – BDM)
Cái chết của Mô-se là mất mát hết sức to lớn cho G. G. mất đi một người thầy, một người cha, một người cố vấn G. hoàn toàn tin cậy để tham hỏi ý kiến khi có nan đề trong việc lãnh đạo dân sự. Mô-se cũng là một người G. học hỏi về quan hệ với ĐGHV, về đức tin trong Ngài. 40 năm trong đồng vắng, G. học được bao nhiêu điều từ người lãnh đạo tài ba đó. Từ việc lãnh đạo đến cách cư xử với dân sự, từ quan hệ với ĐCT đến đức tin trong Chúa của Mô-se.
Giờ G. không còn M. để tham khảo, chia sẻ, san sớt khi phải đối diện với những khó khăn trước mắt. Dù khó khăn có lớn đến mấy nhưng nếu có người san sớt, chia sẻ thì vẫn thấy nhẹ đi bao lần. Dù đường đi có dài, khó khăn đến mấy nhưng nếu có người đồng hành thì vẫn thấy ngắn hơn, dễ hơn.
Liên hệ: mất đi một quan hệ, một tình cảm quí báu, một điểm tựa quan trọng khiến chúng ta hoàn toàn hụt hẳn, chới với. Trước đây tôi còn có bầu bạn, có người trợ giúp, có người tâm sự, nhưng nay người đó không còn đó mỗi khi tôi cần. Khi có nỗi lo lắng, buồn phiền, tôi không còn có người để lắng nghe, thông cảm. Khi có khó khăn, tôi không còn có người để thảo luận và giúp đở để tìm ra biện pháp giải quyết. Tôi đã mất đi một người bạn, một người chồng, người vợ, người tôi yêu quí, kính trọng. Đây là một mất mát to lớn nhất trong đời.
Nguyên tắc rút ra từ quan hệ giữa Mô-se & Giô-suê, PL & Timothy, Phi-e-rơ & Mác rất quan trọng cho môn đồ hóa. PL giải thích như sau: Những điều con đã nghe nơi ta ở trước mặt nhiều người chứng, hãy giao phó cho mấy người trung thành, cũng có tài dạy dỗ kẻ khác. (2 Ti-mô-thê 2:2). Chương trình Tấm Lòng Hầu Việc cũng chú ý áp dụng nguyên tắc này.
Khó khăn lớn thứ hai là làm thế nào để có thể lãnh đạo một số dân trên 2 triệu người. DSK cho biết số người nam có thể cầm vũ khí để đánh giặc là khoảng 600 ngàn. Nên nếu tính cả phụ nữ, trẻ em, người già, thầy tế lễ thì tổng số dân trên 2 triệu. Chưa tính đến súc vật cùng di chuyển với dân sự. Cung cấp lương thực cho 2 triệu người không phải là việc nhỏ. Vấn đề vệ sinh, y tế cho 2 triệu người sống trong lều trại cùng súc vật là một điều hết sức khó khăn. Bên cạnh thức ăn, nước uống cho 2 triệu người, dân sự cần có lãnh đạo các cấp để giải quyết những vấn đề hình sự, luật pháp. Dân Ỵ cũng cần có một đội quân trang bị đầy đủ vũ khí và được huấn luyện sẵn sàng đối đầu với giặc thù.
Dù đã học được rất nhiều điều từ M. nhưng G. vẫn không thể nào sánh được với thầy, như lời viết trong PT: Không một ai bầy tỏ quyền năng phi thường hay làm những việc vĩ đại đáng kinh sợ như công việc Môi-se đã làm trước mắt toàn dân Y-sơ-ra-ên. Trách nhiệm lãnh đạo dân sự Y giờ trên vai của G. Một trách nhiệm khó khăn và nặng nề. Chắc chắn G. cũng sẽ tự hỏi mình: liệu ta có thể làm tròn trách nhiệm ĐGHV giao phó hay không? Liệu ta có thể lãnh đạo dân sự này hay không? Nếu Mô-se và A-rôn đã gặp biết bao nhiêu khó khăn với dân sự thì liệu ta có thể khắc phục những khó khăn trong tương lai hay không? G. cũng biết rằng dân sự sẽ luôn luôn so sánh ông với Mô-se để đánh giá, phê bình, chỉ trích.
Liên hệ: nan đề tôi đang đối diện quá to lớn, khó khăn, không biết có khả năng giải quyết hay không. Trước đây tôi còn có người để dạy dỗ, hướng dẫn nhưng nay chính tôi phải gánh vác mọi sự việc. Liệu tôi có đủ khả năng lãnh đạo, có đủ đức tin không? Liệu đời sống tôi có là tấm gương tốt hay không?
Khó khăn lớn thứ ba là đất hứa mà dân sự phải chinh phục. Hai năm sau khi ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập, dân sự có cơ hội để vào vùng đất hứa. Khi 12 thám tử trở về sau khi dọ thám đất hứa, họ báo cáo cùng dân sự: Chúng tôi đã vào đất ấy như ông sai bảo chúng tôi; thật là đất tràn đầy sữa và mật. Đây là hoa quả xứ ấy. 28 Tuy nhiên, cư dân xứ này thật mạnh mẽ; các thành họ rất lớn và có lũy bao bọc. Chúng tôi thấy dòng dõi của A-nác tại đó nữa. (DSK 13:27-28 – BM) Người A-nác là người to lớn và họ ví mình như cào cào bé nhỏ so với con người: Chúng tôi thấy mình bé nhỏ như cào cào, và dưới mắt họ chúng tôi cũng thế. (DSK 13:33)
Vấn đề là ở chữ tuy nhiên. Đất tràn đầy sữa và mật, tuy nhiên cư dân xứ rất mạnh mẽ, các thành họ rất lớn và vững chắc. Hơn thế nữa còn có những người to lớn mạnh mẽ mà khi so với họ, chúng ta nhỏ bé như cào cào, châu chấu. Thay vì nghe lời khuyên của G & C họ nghe theo lời số đông của 10 người kia
Nhưng vì thiếu đức tin vào ĐCT họ sinh lòng sợ hãi rồi nổi loạn cùng ĐCT. Thiếu đức tin, sợ hãi nên họ quên sự khốn cùng, nỗi nhọc nhằn, đau khổ, nhục nhã của thân phận người làm nô lệ. Nên quên sự vui mừng khi được tự do. Quên đi sự hiện diện và chăm sóc của ĐCT qua đám mây ban ngày, trụ lửa ban đêm. Thiếu đức tin, sợ hãi làm cho dân sự như mất lý trí, thiếu suy nghĩ, và hơn hết quên rằng chính Đấng đã giải cứu họ khỏi vòng nô lệ cũng chính là Đấng hứa sẽ đem họ vào đất hứa. Thiếu đức tin, sợ hãi làm cho họ trở nên những người hèn nhát.
Chúng ta đọc trong KH 21 về những người sẽ bị ném vào hồ lửa, nơi bị trừng phạt đời đời. Còn những kẻ hèn nhát, vô tín, đáng ghê tởm, giết người, gian dâm, phù thủy, thờ thần tượng và tất cả những người giả dối thì số phận chúng nó ở trong hồ lửa cháy phừng với diêm sinh; đó là sự chết thứ hai. (KH 21:8) Khi đọc đoạn KT này chúng ta có thể nghĩ, phải lắm, đáng cho những người này bị trừng phạt trong hồ lửa đời đời vì họ là những kẻ tội lỗi, giết người, dâm loạn, phù phép, thờ thần tượng. Nhưng đầu danh sách của những người đáng bị trừng phạt là những người hèn nhát.
Tại sao hèn nhát, lo sợ lại cùng một danh sách với giết người, dâm loạn, phù phép, thờ thần tượng? Tại sao lại bị xử phạt nặng nề trong hồ lửa đời đời như những trọng tội kia? Câu trả lời nằm trong ý nghĩa của từ hèn nhát, lo sợ theo lời KT dạy. KT dạy sự lo sợ sanh ra hèn nhát là thể hiện của lòng không có đức tin vào ĐCT; và sự can đảm là thể hiện của đức tin vào Chúa.
Một điều rất ngạc nhiên là từ hèn nhát đây cũng là từ lo sợ ĐCJC dùng khi nói cùng các môn đồ khi họ lo sợ trước cơn giông bão trên biển Ga-li-lê dù có Chúa trên thuyền: Hỡi kẻ ít đức tin kia, cớ sao các ngươi sợ? (Ma-thi-ơ 8:26). Lời trách của ĐCJC cùng các môn đồ cho thấy liên hệ giữa đức tin và sự sợ hãi, hèn nhát. Sợ vì không mất đức tin, sợ vì thiếu đức tin.
40 năm đã qua từ khi các thám tử trở về báo cáo cho dân sự về đất và những tuy nhiên trong xứ. Nhưng ai biết đến nay khi dân sự vượt qua bên kia sông Giô-đanh vào đất Ca-na-an thì có những tuy nhiên mới nào, có những khó khăn, thử thách gì sẽ xảy đến? Dân trong xứ mạnh mẽ, can đảm, tài giỏi để chống trả lại hay không? Họ có vũ khí đầy đủ, nguy hiểm thế nào? Thành lũy kiên cố, cao lớn thế nào? Những cuộc chiến tranh trong những tháng năm tới sẽ nguy hiểm, đẩm máu đến thế nào? Liệu G. có thể là một lãnh đạo tài giỏi như Mô-se để điều binh, khiển tướng, để có những chiến thuật khôn ngoan đem lại chiến thắng cho dân Chúa hay không?
Vâng ĐCT hứa Ngài sẽ luôn ở cùng họ, sẽ không lìa bỏ họ. Đây là một lời hứa vô cùng quí báu đem lại niềm tin, hy vọng, và yên ủi to lớn cho G. và dân sự. Nhưng chính dân sự phải chiến đấu, phải đổ mồ hôi, cả xương máu để chinh phục đất hứa.
Liên hệ: Những khó khăn, thử thách của năm qua vẫn còn trong năm mới 2021 này. Tình hình covid trong năm mới này sẽ ảnh hưởng thế nào đến công ăn việc làm, việc học hành của con em còn tiếp tục trên mạng hay sẽ có thể trở lại trường. Hội thánh sẽ nhóm họp lại thế nào? Những tuy nhiên nào đang chờ đợi chúng ta trong năm mới này?
Khó khăn lớn thứ tư là liệu dân sự Y có đủ can đảm, đủ sự kiên trường, đủ đức tin, nghị lực, đủ trang bị để chinh phục đất hứa hay không? Họ có đức tin trong Chúa hay không? Hay khi đối diện với kẻ thù, khi thua một cuộc chiến, họ sẽ than vãn, trách móc, nhũn chí, bỏ cuộc cũng như tổ phụ của họ đã từng than vãn, trách móc Mô-se và ĐCT mỗi khi gặp khó khăn, thử thách.
Khi Mô-se qua đời thì cả một thế hệ của những người trên 20 tuổi khi dân sự ra khỏi xứ nô lệ cũng đã qua đời. Dưới sự lãnh đạo của G. là một thế hệ trẻ. Ngoại trừ G. & C. trong khoảng 80, người lớn tuổi nhất trong số nam không quá 60. Đây là thế hệ được trang bị và huấn luyện trong và bởi đồng vắng. Cả đời họ chỉ biết có đồng vắng, xa mạc: ban ngày nắng nồng, ban đêm giá buốt, đất cát khô cằn, không cây cối xanh tươi, không sông ngòi nhiều nước. Đây là thế hệ được tôi luyện và trưởng thành trong đồng vắng.
Nhiều bài giảng trích dẫn lời của ĐCT cùng dân sự trong PT 29:5 để chứng minh rằng ĐCT đã gìn giữ, quan phòng cho họ: Ta đã dẫn dắt các ngươi bốn mươi năm trong đồng vắng, áo xống không cũ trên mình ngươi, giày không mòn dưới chân ngươi. Thật Chúa đã gìn giữ, quan phòng dân Ngài như con người của mắt Ngài. Nhưng không có nghĩa là đời sống trong đồng vắng hoang vu, xa mạc cằn cỏi, khô hạn dễ dàng hay sung sướng.
Trái lại đời sống trong đồng vắng đòi hỏi rất nhiều kỷ luật cá nhân, bởi vì dân sự chỉ sống với những điều họ cần chứ không được điều họ muốn. Các ngươi không ăn bánh, uống rượu hay thức uống có men để các ngươi biết rằng Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi. (v6) Trong đồng vắng ĐCT chỉ ban cho dân sự những điều căn bản, cần thiết nhất cho đời sống. Đây là lý do dân sự thường lằm bằm, phàn nàn, than vãn, trách móc Chúa và Mô-se. Vậy đức tin trong đồng vắng là đức tin vào ĐCT, chớ không vào những điều họ muốn có được từ ĐCT.
Câu hỏi là dân sự thay đổi thế nào trong đồng vắng? Chắc chắn nhiều người sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, can trường hơn, vững tin vào ĐGHV hơn, sẵn sàng để chinh phục đất hứa. Nhưng chắc chắn cũng sẽ có nhiều người trở nên cay đắng hơn, hờn trách ĐGHV và tự hỏi nhau tại sao Chúa lại để họ phải khổ sở, nhọc nhằn trong đồng vắng suốt 40 năm trời. ĐCT không phải Đấng nhân từ, chậm giận, hay làm ơn, ban phước nhưng là Đấng khó khăn, khe khắt, mau phạt.
Đồng vắng khiến một số người tin tưởng, cảm tạ, yêu mến Chúa nhiều hơn. Nhưng đồng vắng cũng khiến một số người trở nên cay đắng, xa cách, mất đức tin vào Chúa. Cũng vậy hoạn nạn, mất mát trong đời sống đem nhiều người đến với Chúa và gần Chúa hơn. Nhưng hoạn nạn, mất mát cũng khiến người ta mất đức tin, xa cách Chúa, từ bỏ HT.
Sách DSK 14:22-23 cho biết chỉ sau 2 năm trời sau khi ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập dân sự đã thử ĐCT ít nhất 10 lần: Họ đã thấy các phép lạ Ta làm tại Ai-cập cũng như trong sa mạc, nhưng đã mười lần họ vẫn thử Ta và không vâng lời Ta. (DSK 14:22-23). Qv có thể xem trên màng hình tóm tắt về 10 lần dân sự thử Chúa sau 2 năm trong đồng vắng sau khi ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập.
XÊDTK 14:10-12 - Tại biển đỏ khi ra khỏi xứ Ai-cập –
Xuất 15:22-24 - Sau khi qua biển đỏ vào sa-mạc Su-rơ, 3 ngày không tìm được nước. Khi tìm được nước thì lại đắng, không uống được nên dân sự thất vọng, cáo trách ĐCT vì thiếu nước. Nơi đó gọi là Ma-ra có nghĩa là nước đắng –
Xuất 16:1-3 – Tại đồng vắng Xin 45 ngày sau khi ra khỏi xứ Ai-cập, dân sự trách Mô-se Thà chúng tôi chết vì bàn tay của CHÚA trong xứ Ai-cập khi ngồi quanh nồi thịt và muốn chi có nấy còn hơn là để hai ông đem vào sa mạc để chết đói cả đám! (X 16:3). Chúa ban cho họ ma-na.
Xuất 16:11-30 – ĐCT căn dặn dân sự đừng lấy bánh nhiều hơn số dùng vì để bánh ma-na qua đêm sẽ hư thối và đừng lấy bánh trong ngày Sa-bát nhưng dân sự vẫn làm trái lại lời dạy.
Xuất 17:1-4 – Tại Rê-phi-đim không nước uống, dân sự cãi với Mô-se và muốn ném đá ông vì không có nước. ĐCT sai Mô-se lấy cây trượng đập vào hòn đá để dân sự có nước uống
Xuất 32:1-35 – Tại núi Si-nai (Hô-rép) khi Mô-se lên núi nhận 10 điều răn trong 40 ngày, dân sự xúi A-rôn làm con bò vàng để họ thờ lạy.
DSK 11:1-3 – Tại Ta-bê-ra dân sự phàn nàn về những cảnh gian khổ khó khăn (cực nhọc trong cuộc hành trình). ĐCT nghe và nổi giận. Chúa giáng lửa thiêu đốt ở bìa doanh trại. Mô-se cầu xin Chúa dập tắt lửa.
DSK 11:4-34 – Tại Kíp-rốt-Ha-tha-va (mồ của sự tham muốn) dân sự khóc lóc và than thở: “Ước gì chúng ta có thịt mà ăn! 5 Chúng ta nhớ ngày nào được ăn cá ở Ai-cập mà chẳng tốn một đồng tiền, rồi nào là dưa leo, dưa hấu, củ kiệu, củ hành, và củ tỏi. 6 Bây giờ thì linh hồn chúng ta khô cằn. Chẳng có món gì cả; ngày nào cũng chỉ thấy có mỗi một món man-na nầy.” (4-6). Chúa đổ thịt từ trời cho họ ăn cả tháng cho đến ngán và trừng phạt họ.
DSK 12:1-15 – Miriam & A-rôn chống đối Mô-se. Thật sự là họ chống đối sự chọn lựa Mô-se làm người lãnh đạo. Họ nói, “Chẳng lẽ CHÚA chỉ phán qua một mình Mô-sê sao? Ngài há chẳng đã phán qua chúng ta nữa sao?” CHÚA đã nghe những lời ấy. (v 2)
DSK 13:25-14: Tại đồng vắng Pa-ran sau khi 12 thám tử vào xứ Ca-na-an trở về thuật lại tình hình về xứ, dân chúng lằm bằm rồi nổi loạn. Chúa phạt cả thế hệ của những người trên 20 tuổi sẽ chết trong đồng vắng và không được vào đất hứa. Con cháu các ngươi sẽ phải đi lang thang chăn bầy trong đồng hoang bốn mươi năm, và phải gánh lấy nỗi khổ cực do sự bất trung của các ngươi, cho đến khi người cuối cùng của các ngươi bỏ thây trong đồng hoang. (14:33)
Sau 10 lần này dân sự vẫn tiếp tục than vãn, trách móc ĐCT. Nếu đọc tiếp trong DSK thì có ít nhất 4 lần nữa, dân sự tiếp tục thử Chúa. DSK 16:1-40 – 250 người cấp lãnh đạo, những người có quyền thế, danh tiếng trong vòng dân sự chống đối Mô-se và A-rôn. Một người lại nói thế này: Ông đã đem chúng tôi ra khỏi một xứ đượm sữa và mật để giết chúng tôi trong đồng hoang, như vậy vẫn chưa đủ sao mà ông còn muốn làm chúa trên tất cả chúng tôi nữa? (16:13) Họ gọi về xứ nô lệ là xứ đượm sữa và mật! Họ thà làm nô lệ mà no bụng còn hơn là có ĐCT. DSK 20 & 21 dân sự lại phàn nàn, trách móc vì thiếu nước, thiếu bánh.
Đồng vắng có thể tôi luyện người tin Chúa trở nên mạnh mẽ hơn trong đức tin, nhưng cũng có thể khiến họ trở nên cay đắng, bỏ cuộc. Vậy tại sao ĐCT lại để dân sự vào đồng vắng? Bởi vì đồng vắng là nơi phơi bày rõ nhất về đức tin của một người trong Chúa. Trong đồng vắng, khi chỉ có ma-na, thịt chim cút, nước lã, tức chỉ có những điều căn bản, cần thiết và đơn giản nhất cho đời sống, thì dân sự tin Chúa không phải vì bánh, vì rượu, vì dư dật nhưng vì Chúa là ĐCT.
Bây giờ trước mắt G. là sông Giô-đanh. Bên kia sông là đất hứa. Liệu dân sự gồm thế hệ trẻ lớn lên trong 40 năm đồng vắng này có mạnh dạng, can đảm vâng lời ĐCT mà chinh phục đất hứa hay như tổ phụ của họ chỉ muốn trở về lại xứ nô lệ?
G. phải đối diện với 4 nan đề khó khăn, thử thách: 1) Mô-se vừa mới qua đời; 2) Lãnh đạo một đoàn dân trên 2 triệu người; 3) Đất hứa mà dân sự phải chinh phục; 4) Thế hệ lớn lên trong đồng vắng có thể chinh phục đất hứa hay không. Ai lại không lo lắng, hoang mang, chùn lòng trước 4 khó khăn quá lớn này.
LỜI HỨA VÀ LỜI DẠY CỦA ĐCT
ĐCT biết những khó khăn G. và dân sự phải đối diện bên kia sông Giô-đanh nên có những lời hứa và lời khuyên dạy họ trong đoạn KT này. Phàm nơi nào bàn chân các ngươi đạp đến, thì ta ban cho các ngươi, y như ta đã phán cùng Môi-se. 4 Địa phận các ngươi sẽ lan ra từ đồng vắng và Li-ban nầy cho đến sông cái, là sông Ơ-phơ-rát, tràn cả xứ dân Hê-tít cho đến biển cả về hướng mặt trời lặn. 5 Trót đời ngươi sống, sẽ chẳng ai chống cự được trước mặt ngươi. Ta sẽ ở cùng ngươi như ta đã ở cùng Môi-se; ta sẽ không lìa ngươi, không bỏ ngươi đâu.
Chú ý câu 1-5, ĐCT hứa với Giô-suê 3 điều: 1) Chúa sẽ ban cho dân sự toàn lãnh thổ đã hứa cùng Mô-se; 2) Hễ khi nào G. còn sống thì đất đó sẽ không mất; 3) Ta sẽ không lìa ngươi, không bỏ ngươi đâu. Hai lời hứa đầu tiên hoàn toàn tùy thuộc vào lời hứa thứ 3: bởi vì cho đến khi nào ĐCT còn ở cùng G. và dân sự thì dân sự còn chiến thắng, nhưng nếu ĐCT không ở cùng họ, lìa bỏ họ thì dân sự cũng sẽ không được đất. Đây là điều chúng ta cần dừng lại và suy gẫm.
Thường thì chúng ta muốn được điều lòng mình ao ước nhưng không muốn, không cần đến ĐCT. Chúng ta làm mọi cách để đẹp lòng Chúa, không phải để có Chúa ở cùng, nhưng để Chúa ban cho mình điều mong ước. Như một sự đổi chác, một dịch vụ: tôi vâng phục Chúa, làm mọi điều Chúa dạy, giờ đến phiên Chúa ban cho tôi điều tôi ao ước. Đây là cách suy nghĩ, tính toán của người theo Chúa, theo đạo chỉ để được lợi, được phước, chớ không phải để được Chúa.
Tổ phụ của dân tộc Y là Áp-ra-ham. Áp-ra-ham nhận được lời hứa của ĐCT sẽ ban cho ông hậu tự đông như sao trên trời, như cát dưới biển và ban cho hậu tự đất đai phì nhiêu. Trong STK 15, ĐCT hiện đến, nhắc lại những điều Ngài đã hứa ban cho hậu tự Ạ và lập một giao ước không điều kiện.
ĐCT bảo Ạ lấy bò, dê, chiên và chim, cắt chúng làm 2 rồi để mỗi nữa một bên. A hiểu rằng ĐCT muốn lập một giao ước với ông. Nhưng thay vì Ạ phải đi qua giữa các con thú cắt đôi, thì chính ĐCT lại đi qua. Chúa muốn nói rằng dù Ạ và hậu tự của ông không giữ trọn lời hứa thì ĐCT sẽ chịu cắt đôi để thực hiện giao ước đó. Giao ước này là giao ước đầu tiên hoàn toàn không điều kiện, là bóng mà hình trong ĐCJC.
Lời ĐCT phán cùng Ạ trước khi lập giao ước: Hỡi Áp-ram! ngươi chớ sợ chi; ta đây là một cái thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn. (STK 15:1). Thuẫn dùng để bảo vệ người lính trong chiến trận. Chỉ khi đang chiến đấu hay dưới sự tấn công của quân thù, người ta mới dùng thuẫn. Vậy hình ảnh của thuẫn đở không chỉ nói lên sự bảo vệ của ĐCT nhưng quan trọng hơn sự bảo vệ giữa vòng chiến trận, khi đang chiến đấu với quân thù, khi đang bị tên bắn, trong vòng gươm kiếm. Thuẫn không có ích lợi gì nếu không dùng trong chiến trận.
Trong lời hứa cùng G. ĐCT không hứa là cái thuẫn đở cho G. và dân sự, nhưng tôi tin chắc rằng Chúa sẽ bảo vệ, che chở họ như thuẫn đở trong những cuộc chiến chinh phục đất hứa. Vậy trong năm mới này cũng như G. chúng ta nắm chặt lời hứa của Chúa: Ta sẽ không lìa ngươi, không bỏ ngươi đâu và cầu xin sự bảo vệ, che chở như thuẫn đở khi giông bão đời sống ụp đến, khi ma quỉ hay người đời tấn công.
Bên cạnh lời hứa quí báu là ta sẽ không bao giờ lìa con, ĐCT còn dạy dân sự hai điều vô cùng quan trọng. Thứ nhất là lời nhắc dạy: Hãy vững lòng bền chí. Chúa lập lại cùng G. 3 lần lời dạy này: Hãy vững lòng bền chí, đừng sợ hãi, kinh khiếp.
Thứ hai là lời dạy: Quyển sách luật pháp nầy chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước (1:8).
2020 là một năm đầy khó khăn, thử thách cho con cái Chúa trong HT và cho HT Chúa tại đây. Bước vào một năm mới chúng ta tràn đầy hy vọng. Hy vọng rằng thuốc vaccine sẽ giúp dân cư, đất nước chúng ta đang sinh sống trở lại đời sống bình thường như trước covid-19. Trường học sẽ mở lại để con em chúng ta có thể đến trường thay vì tiếp tục học trên mạng tuyến. Cửa tiệm, thương mãi sẽ mở lại, không còn phải sắp hàng chờ đợi để mua thức ăn, đồ dùng. Hy vọng an ninh, trật tự xã hội, nền kinh tế sẽ được hồi phục.
Bên cạnh bao nhiêu hy vọng, cũng có nhiều khó khăn, những nỗi lo lắng. Liệu virus covid có biến dạng khiến vaccine kém hiệu quả hay không? Liệu khi tiệm mở lại bình thường thì số khách và lợi nhuận vẫn như trước hay sẽ giảm đi? Sau khi đã qua những tình huống, biến chuyển bất ngờ của 2020, ai dám bảo mình biết chắc 2021 sẽ ra thế nào?
