Ta Sẽ Gìn Giữ Con Khỏi Giờ Thử Thách
Tựa đề của bài giảng sáng nay dựa theo lời của ĐCJC trong thư gởi cho HT P., là 1 trong 7 thư gởi các HT xứ Tiểu Á trong sách KH. Trong thư này ĐCJC hứa với HT P. 3 điều vô cùng quí báu: 1) Chúa sẽ mở cho họ cửa mà không ai có thể đóng. Không phải chỉ là cửa thiên đàng, cửa cứu rỗi qua ĐCJC nhưng còn là cửa cơ hội để chia sẻ TL, để phục vụ; 2) Sẽ gìn giữ HT và tín đồ HT khỏi giờ thử thách. Đây là lời hứa chúng ta sẽ tìm hiểu và áp dụng trong bài giảng sáng nay; 3) Sẽ ban cho họ làm trụ cột trong đền thờ trên trời của ĐCT và ban cho họ 3 danh Chúa. Trong bài giảng vài tuần trước đây về thư tôi đã giải thích về ý nghĩa và giá trị của lời hứa 1 và thứ 3. Trọng tâm của bài giảng sáng nay là về lời hứa thứ 2 rằng Chúa sẽ gìn giữ con dân Ngài khỏi giờ thử thách sẽ đến trong khắp thế gian. Tôi xin được đọc lời Chúa từ câu 10-13:
Vì con đã vâng giữ lời kiên nhẫn Ta, nên Ta sẽ gìn giữ con khỏi giờ thử thách là giờ sẽ đến trong khắp thế gian để thử những người sống trên mặt đất. 11 Ta đến mau chóng, con hãy giữ điều con có để không ai cất lấy mão của con. 12 Người nào thắng, Ta sẽ cho làm cột trụ trong điện thờ Đức Chúa Trời Ta và người sẽ chẳng bao giờ ra khỏi đó nữa. Ta sẽ viết trên người danh của Đức Chúa Trời Ta, và danh của thành phố Đức Chúa Trời Ta, là Giê-ru-sa-lem mới gốc ở trên trời, từ Đức Chúa Trời Ta mà xuống, và danh mới của Ta. 13 Ai có tai hãy lắng nghe lời của Thánh Linh phán dạy các hội thánh. (3:10-13-BDM)
KH được viết trong 1 thời điểm đen tối, khó khăn, nguy hiểm cho người tin Chúa và các HT Chúa trong xứ Tiểu Á. Thư viết bởi sứ đồ Giăng khi ông bị đại đế Domitian bắt đầy ra 1 đảo nhỏ tên đảo Bát-mô. Tín đồ bị bắt buộc, cưỡng ép phải thờ lạy đại đế La-mã. Họ phải đến đền thờ của các đại đế La-mã, phải rải tro trước bàn thờ và miệng phải xưng Sê-xa là trời, là chúa trước nhân viên chính quyền. Nếu làm những điều này, họ sẽ được cấp giấy chứng nhận là công dân trung thành. Nếu từ chối, sẽ bị xử phạt, nhẹ thì đóng tiền phạt, bỏ vào tù, nặng thì sẽ bị xử tử, bị bỏ vào các đấu trường cho thú dữ xé xác khi hàng ngàn người chứng kiến, reo hò, cổ võ. Người tin Chúa cũng gặp rất nhiều khó khăn, thử thách trong đời sống hằng ngày: mất việc làm, bị hàng xóm láng giềng kỳ thị, bị đuổi ra khỏi nhà hội nếu là người DT. Tín đồ Chúa không thể tham gia vào các hội đoàn thương mãi, nghề nghiệp vì phải thờ cúng các thần bảo hộ nghề, phải ăn của cúng thờ các thần, phải ăn uống, nhậu nhẹt, phóng đảng như những người trong hội. Trước thử thách, khó khăn, hoạn nạn trăm bề đó xảy ra cho người tin Chúa thì ĐTL khải thị cho sứ đồ Giăng viết sách KH để động viên, khích lệ, trấn an con cái Chúa trong các HT.
Sứ điệp chính của KH là dù tín đồ trong các HT thời đó trải qua những bắt bớ, mất mát, hoạn nạn, thậm chí sự chết nhưng sẽ được Chúa gìn giữ, bảo vệ trước những cơn thử thách, hoạn nạn đang xảy ra. Hơn thế nữa Chúa hứa sẽ bảo vệ họ trước những đại nạn kinh khiếp sẽ xảy ra trên toàn thế giới khi ĐCT trừng phạt dân sự trên đất trong những ngày sau rốt. Nhưng quan trọng hơn sự bảo vệ về thể xác, là lời hứa về sự cứu rỗi cho tâm linh, về cuộc sống đời đời nơi thiên đàng phước hạnh, nơi mà không có chiến tranh, bệnh tật, khóc than vì những khổ đau này trong đời sống dưới trời này sẽ qua đi. Chính hy vọng và niềm tin này là nguồn yên ủi to lớn nhất cho người tin Chúa cho dù trong cảnh ngộ nào của đời sống.
Chúng ta đang sống trong cơn đại dịch toàn cầu covid-19 hay coronavirus. Số người nhiễm bệnh tại HK đã tăng lên trên 24,000 và số tử vong trên 200. Các thành phố lớn mà trước đó không bao giờ đi ngủ như NY, LA, DC, SF hôm nay ngày và đêm vắng lặng, không người. Các tiệm ăn, nail, shoppings, rạp hát, khách sạn đóng cửa. Các hảng xưởng đóng cửa layoff nhân viên. 1 ước tính là chỉ trong vòng 2 tuần qua cơn đại dịch này đã làm tổn hại kinh tế HK đến khoảng 4 ngàn tỉ. Luật mới nhất của quốc hội để trợ giúp tài chánh cho dân chúng và các công xưởng nhỏ tuần qua tốn gần 1 ngàn tỉ. Tin mừng là mỗi người có thể sẽ nhận được $1000-1200.
Và hễ cơn dịch này càng kéo dài bao nhiêu thì số người nhiễm bệnh, số tử vong và thiệt hại kinh tế càng tăng với cấp nhân thay vì mức cộng. Cho đến bao lâu, không ai có thể biết chắc được. Một lý do là vì kết quả của nạn dịch này không chỉ tùy thuộc vào những giải pháp của chính quyền nhưng còn tùy mỗi cá nhân. Qv cũng đã xem hình ảnh của những người trẻ tuổi vẫn còn đi vacation trên các bãi biển Florida vì tin rằng dù có mắc bệnh nhưng họ vẫn không sao. Vấn đề là họ sẽ lây sang cho bao nhiêu người khác.
Trước tình trạng khó khăn, nguy hiểm này mỗi người chúng ta cần hoàn toàn tin cậy vào Chúa và cần tương trợ, động viên nhau. Đây chính là thời gian mà chúng ta cần đến với Chúa qua việc đọc KT và cầu nguyện để nhận được sự yên ủi, bình an và sức mới. Đây chính là thời gian mà chúng ta cần thông công, chia sẻ, khích lệ, tương trợ nhau, không chỉ về tâm linh nhưng cả về những nhu cầu vật chất khi cần. HT Chúa sẽ tìm mọi cách để giúp đở cho con cái Chúa trong HT khi cần thức ăn, cần tài chánh cho những chi phí căn bản và cần thiết. Như lời dạy của Gia-cơ: Ví thử có anh em hoặc chị em nào không quần áo mặc, thiếu của ăn uống hằng ngày, 16 mà một kẻ trong anh em nói với họ rằng: Hãy đi cho bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác, thì có ích gì chăng? (Jas 4:15-16)
Vì con đã vâng giữ lời kiên nhẫn Ta, nên Ta sẽ gìn giữ con khỏi giờ thử thách là giờ sẽ đến trong khắp thế gian để thử những người sống trên mặt đất.
Từ kiên nhẫn trong câu 10 là 1 từ ghé hypomonē: monē có nghĩa là đứng, chịu đựng; hypo, hyper, là quá mức, vượt trội. Vậy từ kiên nhẫn đây có nghĩa là đứng vững, chịu đựng nổi cho dù sức nặng, áp lực tưởng như quá mức. Đây là từ dùng trong Gia-cơ khi nói về sự kiên nhẫn của Gióp vì có mấy ai có thể chịu đựng, đứng vững như Gióp trước những mất mát quá to lớn trong đời. Đây cũng là từ dùng trong Hê-bơ-rơ 12:1-2 khi nói về sự chịu đựng gian khổ, thử thách của ĐCJC: Thế thì, vì chúng ta được nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn, chúng ta cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta, 2 nhìn xem Đức Chúa Jêsus, là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Đấng vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời.
Qv nhớ đây là một HT ít năng lực nhưng giữ lời Chúa và không chối danh Chúa. Vậy khi Chúa nói HT P. ít năng lực có nghĩa rằng đây là một HT nhỏ, tầm thường, với tín đồ thuộc tầng lớp bình dân trong xã hội nên không có 1 tiếng nói, 1 ảnh hưởng gì đáng kể với dân chúng và chính quyền thành phố. Nhưng chỉ vì sự kiên trì, trung tín với Chúa và với lời Chúa dạy nên tín đồ HT P. nhận được lời hứa vô cùng quí báu này. Lời hứa là Ta sẽ gìn giữ con khỏi giờ thử thách là giờ sẽ đến trong khắp thế gian để thử những người sống trên mặt đất.
Câu KT này có 2 từ giữ: vì con đã vâng giữ và ta sẽ gìn giữ. Cả 2 từ này dù được dịch khác nhau nhưng trong tiếng nguyên thủy Hy-lạp đều là một từ tēreō. Đây cũng chính là từ dùng trong câu 8: vì con có ít quyền năng mà vẫn giữ lời Ta và không chối danh Ta. Lời Chúa chủ ý dạy rằng nếu tín đồ HT P. đã giữ lời Chúa nên Chúa cũng sẽ giữ họ. Có thể, chỉ có thể là sự gìn giữ của Chúa với tín đồ tương xứng với mức độ họ gìn giữ lời Chúa và danh Chúa. Chúa hứa sẽ gìn giữ những người gìn giữ lời Chúa và danh Chúa khỏi giờ thử thách sẽ đến trong khắp thế gian.
Chú ý đây là sự thử thách trong khắp thế gian, tức cả thế giới, trên mọi quốc gia, đối với mọi giống người. Và đối tượng là những người sống trên mặt đất. Cụm từ này được dùng 9 lần khác trong KH (6:10, 8:13; 11:10, 12:12, 13:8, 13:12; 13:14, 17:2, 17:8) để nói về những người từ chối Chúa, những người thờ lạy con thú, chống đối, bắt bớ dân Chúa, những người không có tên trong sách sự sống.
KH 4-19 viết về 7 ấn, 7 kèn, 7 bát thạnh nộ của sự trừng phạt của ĐCT trên thế gian từ chối tin nhận, chống đối Chúa, những kẻ tôn thờ -ma quỉ mà KH gọi là con thú. Biểu tượng về những thử thách, đại nạn toàn cầu mà nhiều người biết hơn hết, dù là người không tin Chúa là hình ảnh 4 con ngựa với 4 màu xuất hiện trên thế giới. 4 đại nạn toàn cầu này viết trong KH 6 xảy ra sau khi Chiên Con, là ĐCJC mở 4 ấn đầu tiên của 1 cuộn sách niêm phong với 7 ấn .
Khi Chúa mở ấn đầu tiên, 1 con ngựa trắng xuất hiện tượng trưng cho kẻ chống Chúa, kẻ giả hình là Christ. Ấn 2 ra ngựa đỏ tượng trưng cho chiến tranh tàn phá thế giới. Ấn 3 ra ngựa đen tượng trưng cho thiếu ăn, nạn đói lớn trên thế giới. Ấn 4 ra ngựa xanh xao (BTT – vàng vàng!) tượng trưng cho sự chết và âm phủ Người cưỡi ngựa tên là Tử Vong, có Âm Phủ theo sau, được quyền trên một phần tư dân số thế giới để tàn sát họ bằng gươm đao, đói kém, nạn dịch và các loài thú dữ trên đất (KH 6:8 – BDM). Thật vậy, chiến tranh (gương đao), đói kém và nạn dịch đã, đang và sẽ còn giết hại biết bao nhiêu dân sự trên thế gian này.
Nhưng những thử thách, đại nạn từ 4 con ngựa này chỉ là bắt đầu và không đáng kể so với những đại nạn sẽ xảy ra khi ấn thứ 6 & thứ 7 được mở ra. Kinh khủng đến nỗi KH 9:6 viết: Trong những ngày ấy người ta sẽ tìm cái chết nhưng tìm không được; họ mong cho được chết, nhưng tử thần đã trốn khỏi họ.
ĐCJC hứa sẽ gìn giữ con khỏi giờ thử thách. Sự gìn giữ này có nghĩa gì? Là gìn giữ, bảo vệ, chở che, ban bình an, ban thêm sức mới, nghị lực, đức tin cho họ trong cơn thử thách, như cho tôi và qv trong cơn nạn dịch covid-19 này. Hay là để họ không phải trải qua cơn thử thách, cất họ ra khỏi tình trạng nguy hiểm trước khi cơn thử thách xảy đến. Dĩ nhiên sự gìn giữ của Chúa đối với chúng ta trong cơn nạn dịch toàn cầu này là theo nghĩa thứ nhất, chứ không theo nghĩa thứ 2.
Trong bài giảng đầu tiên về KH tôi có chia sẻ với qv về 4 quan điểm khác nhau khi giải thích KH. Và 1 quan điểm được hầu hết hầu hết các HT Báp-tít Nam Phương (Southern Baptist) và HTTLVN đều tin vào cách giải thích này. Tôi sẽ giải thích chi tiết hơn về quan điểm này trong các bài giảng sau về KH. Theo quan điểm này thì lời hứa của ĐCJC cùng HT P. theo nghĩa thứ 2, tức là Chúa sẽ không để cho con dân Ngài phải trải qua, sẽ cất họ ra khỏi cơn đại nạn toàn thế giới. Điều này sẽ xảy ra cho người tin Chúa khi Ngài trở lại thế gian để cất mọi người tin Chúa về trời trước khi cơn đại nạn hay giờ thử thách là giờ sẽ đến trong khắp thế gian để thử những người sống trên mặt đất.
Vả, nầy là điều chúng tôi nhờ lời Chúa mà rao bảo cho anh em: chúng ta là kẻ sống, còn ở lại cho đến kỳ Chúa đến, thì không lên trước những người đã ngủ rồi. 16 Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết. 17 Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn. 18 Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau. (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:15-18)
Trong đêm cuối ĐCJC cầu nguyện cho các môn đồ và những người tin Chúa sau này, tức cho cả chúng ta: Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! (Giăng 16:33) Và Con chẳng cầu Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ cho khỏi điều ác. (Giăng 17:15). Từ gìn giữ trong câu KT này cũng là từ dùng trong KH 3:8 & 10. Đây là một lời hứa hết sức quí báu cho người tin Chúa. Rằng dù trong thế gian này sẽ có những khổ nạn nhưng Chúa hứa Ngài sẽ gìn giữ con dân Ngài. Hai lời hứa này chắc chắn là cho tôi và qv cùng tất cả con dân Chúa trên toàn thế giới đang trải qua cơn đại dịch covid-19.
Về mặt ít năng lực con cái Chúa trong HT đây hôm nay cũng có thể so sánh với các tín đồ HT P. ngày xưa. Câu hỏi là chúng ta có giữ lời Chúa và giữ danh Chúa như HT P. hay không. Chúa đòi hỏi gì ở tôi và qv trong thời gian thử thách, khó khăn. Kiên trì, đứng vững, chịu đựng dù sức nặng, áp lực tưởng như quá mức. Là người làm cha mẹ chúng ta phải là người làm gương kiên trì, nhẫn nại cho con cháu, về niềm tin trong Chúa. Dù có lo lắng, thậm chí dù có lúc sợ hãi, nản lòng, chúng ta dâng trọn những nỗi lo lắng, sợ hãi đó cho Chúa qua sự cầu nguyện, qua lời Chúa.
Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân. 2 Vì vậy, chúng tôi chẳng sợ dầu đất bị biến cải, Núi lay động và bị quăng vào lòng biển; 3 Dầu nước biển ầm ầm sôi bọt, Và các núi rúng động vì cớ sự chuyển dậy của nó... Hãy yên lặng và biết rằng ta là Đức Chúa Trời; Ta sẽ được tôn cao trong các nước, cũng sẽ được tôn cao trên đất. 11 Đức Giê-hô-va vạn quân ở cùng chúng tôi; Đức Chúa Trời Gia-cốp, là nơi nương náu của chúng tôi. (TT 46:1-3, 10-11)
