Ta Hy Sinh Vì Con Hết – Rô-ma 8:32
Ngài đă không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao? (Rô-ma 8:32)
BA CÂU HỎI VỀ THƯƠNG KHÓ
Buổi tối nay chúng ta cùng đến đây để kỷ niệm sự thương khó, hy sinh của ĐCJC. Một số trong chúng ta có thể hỏi: sự thương khó, hy sinh của Chúa Jêsus là gì? Một số khác lại hỏi: tại sao Jêsus lại phải trải qua những thương khó, tại sao Chúa phải hy sinh? Mục đích để làm gì? Và có thể một số khác trong chúng ta thực tế hơn hỏi: tôi nhận được gì qua sự hy sinh, thương khó của Chúa Jêsus?
THƯƠNG KHÓ, Ý NGHĨA VÀ BÀI HỌC
Buổi Ăn Cuối Trên Phòng Cao
Câu chuyện chúng ta đã nghe đọc xảy ra vào đêm thứ năm trong tuần lễ cuối cùng của Jêsus. Sáng Chúa nhật trước đó, Chúa cởi lừa vào thành Jêrusalem. Một đoàn dân rất đông hò reo, ca ngợi Ngài. Họ lấy lá, cởi áo trải trên đường cho Chúa. Họ mừng rở, chào đón Ngài như một khách quí, một anh hùng, một cứu tinh của dân sự trong ngày họ kỷ niệm lễ độc lập, ngày ĐCT đem dân sự ra khỏi xứ nô lệ để vào vùng đất hứa, đượm sữa và mật.
Nhưng đến thứ Năm, mọi tiếng hò reo, ca ngợi đều chấm dứt. Vì Chúa vào đền thờ lật đổ các bàn buôn bán. Ngài dạy dân chúng phải trả thuế. Ngài khen người đàn bà góa nghèo dâng nhiều hơn những người khác. Vì Ngài không làm phép lạ, chửa bệnh, ban bánh. Chúa còn tiên đoán về sự phá hủy, đổ nát của thành Jêrusalem, điều không ai muốn nghe trong ngày kỷ niệm lễ độc lập này.
Đến tối thứ năm Ngài chỉ còn lại 12 môn đồ cùng dự buổi ăn tối trước lễ Vượt Qua trên một phòng mượn. Đến đêm cuối đời đó, Jêsus không có nhà riêng, cũng không có của cải gì để lại. Trong số 12 môn đồ, Judas sẽ bán thầy mình với giá 30 miếng bạc, Phi-e-rơ sẽ chối Ngài, và 10 người còn lại sẽ bỏ chạy trốn khi Jêsus bị bắt. Dù biết rõ những điều này Chúa vẫn yêu thương họ cho đến lúc cuối cùng. Ngài cởi áo ngoài, rồi rửa chân cho từng người. Trong đêm cuối đời, Chúa phục vụ họ như một tôi tớ. Cũng trong bửa ăn đó, Ngài thiếp lập nghi lễ tiệc thánh.
Gết-sê-ma-nê
Sau buổi ăn, Jêsus cùng các môn đồ đến vườn Gết-sê-ma-nê. Trước đó Judas rời khỏi phòng cao để đi báo cho lính La-mã và các thầy thông giáo về nơi đến bắt Chúa. Giăng 13:30 viết như sau: Còn Giu-đa, khi lănh lấy miếng bánh rồi, liền đi ra. Khi ấy đă tối. Khi ấy trời đã tối rồi. Bóng tối giúp che đậy Judas và việc bội phản của hắn. Bóng tối che đậy, đồng lõa với tội ác. Tâm hồn, suy nghĩ của tôi và quí vị cũng có bóng tối nếu không để Chúa ngự vào. Bóng tối của ích kỷ, thù hận, của dục vọng bất chính, của những tội lỗi dấu kín không ai thấy, biết. Cũng chính sứ đồ Giăng viết: Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người. Sự sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng (1:4-5)
Giăng 18:1 cho biết: Đức Chúa Jêsus đi với môn đồ mình sang bên kia khe Xết-rôn; tại đó có một cái vườn, Ngài bèn vào, môn đồ cũng vậy. Trong tuần lễ trước lễ Vượt Qua, hàng trăm ngàn người có mặt tại thành Jêrusalem. Theo lễ, họ sẽ dâng chiên làm của vật cúng. Ước tính trong tuần lễ này có trên 200 ngàn chiên giết làm lễ cúng. Và khe Xết-rôn là trũng mà mọi thứ tải từ đền thờ đổ xuống gồm cả máu của hàng trăm ngàn con chiên. Khi Chúa cùng các môn đồ đi ngang qua trũng đầy máu đó, chắc chắn Chúa đã biết rằng chỉ sáng mai chính Ngài cũng sẽ đổ máu trên thập tự giá. Lần đầu gặp Chúa Jêsus, Giăng Báp-tít đã gọi Ngài là Chiên Con của ĐCT. Chính Chiên Con đó sẽ đổ huyết trên thập giá sáng mai để chuộc tội cho cả nhân loại.
Trong vườn Gết-sê-ma-nê, Mathiơ cho biết Chúa Jêsus buồn bực và sầu năo lắm (26:37). Chính Chúa nói: Linh hồn ta buồn bực cho đến chết. Và Ngài gọi môn đồ: các ngươi hăy ở đây và tỉnh thức với ta (26:38). Nhưng các môn đồ không thức nổi. Chỉ còn lại Chúa cầu nguyện một mình. Chúa cô độc biết đến chừng nào.
Chúng ta có thể tương phản giữa hai vườn: Ê-đen và Gết-sê-ma-nê.
Ê-đen, tượng trưng cho vườn địa đường, vườn sự sống, nơi ở phước hạnh của A-đam. Gết-sê-ma-nê, hình ảnh của nơi bị phản bội, nơi khổ đau, sầu muộn Chúa chịu một mình
Trong vườn Ê-đen, A-đam, con người đầu tiên nhận sự sống. Trong vườn Gết-sê-ma-nê, Jêsus, A-đam thứ hai hy sinh sự sống.
Tại Ê-đen, con người đầu tiên đã phạm tội. Tại Gết-sê-ma-nê, Jêsus Christ cầu nguyện xin Cha cho các môn đồ, cho những người thuộc về Ngài. Rồi từ vườn, Chúa chuộc tội cho con người.
Thường thì trong đời sống chúng ta có người cạnh bên để yên ủi, động viên, khích lệ. Khi có nỗi khổ, niềm đau, cha mẹ, chồng vợ, con cái, anh em, bè bạn sẽ đến yên ủi. Đây là khích lệ, hy vọng lớn trong đời sống. Chúng ta phục hồi sức lực, lấy lại niềm tin, hy vọng từ nguồn trợ giúp đó. Nhưng không phải lúc nào trong cuộc sống này chúng ta cũng có thể nương tựa vào những trợ giúp đó.
Hình ảnh Chúa cầu nguyện một mình trong vườn G. cũng dạy chúng ta rằng chắc chắn cũng có lúc trong đời sống, tôi và mỗi quí vị phải trải qua khổ đau, mất mát một mình. Một mình qua sự cầu nguyện với Chúa. Có lúc chúng ta cần bè bạn, người thân nhất thì họ không có đó cho chúng ta. Vì bận rộn, vì có chuyện riêng. Vì bàn quan, cứ nghĩ rằng mọi sự việc đều tốt đẹp. Hay vì không hiểu được, không cảm thông được, hay không quan tâm đến nỗi niềm chúng ta đang mang. Thậm chí có thể hiểu lầm, buồn phiền chúng ta. Có lúc trong đời sống, dường như tất cả bè bạn, người thân đều ngủ cả rồi. Cũng như các môn đồ đã ngủ trong vườn G. khi Chúa thống khổ một mình. Dù chúng ta có nài nỉ để họ cùng thức với mình thì họ vẫn ngủ.
Những lúc đó, quí vị làm gì? Bày tỏ nỗi niềm của mình cho ai? Phải chăng chỉ cùng với ĐCT qua sự cầu nguyện? Và quí vị ơi, chính ĐCJC đã trải qua những giờ phút cô đơn đó, đau khổ đó nên Ngài hiểu và cảm thông cùng những ai đang trải qua cảnh ngộ đó. Hãy đến Chúa trong giờ phút này nếu có ai đang mang tâm trạng cô đơn, buồn bực như đến chết.
Đến gần giữa đêm, trong khu vườn im lặng, tĩnh mịch, cô đơn đó có tiếng ồn ào từ tiếng chân đi của một đoàn người đông. Giữa đêm tối, ánh đuốc chập chờn của đám lính La-mã và các thầy thông giáo làm sáng một góc vườn. Trong tay của lính là vũ khí. Một đoàn lính đông (cơ binh) đem vũ khí đi đến chỉ để bắt Jêsus, người dạy cho dân chúng đừng chống cự kẻ dữ. Trái lại, nếu ai vả má bên hữu ngươi, hăy đưa má bên kia cho họ luôn. Họ đi bắt Chúa như đi bắt một tội nhân nguy hiểm nhất, xấu xa, tàn bạo nhất. Và đi đầu đám người đó là Judas, một trong 12 môn đồ thân tín. Rồi với các hôn hắn chỉ cho bọn lính ai là Jêsus. Thật mai mỉa và chua chát khi người ta phản bội mình với cái hôn, một hành động lẽ ra bày tỏ tình yêu thương, lòng trìu mến, sự chân thành.
Sau khi Chúa bị bắt, giải đi thì tất cả các môn đồ đều bỏ chạy.
Sáu Phiên Xử Từ Giữa Khuya Đến Sáng Sớm
Cũng có khi chúng ta bị bội phản, từ chối, xa lánh như Chúa đã trải qua. Khi đứng trước 6 phiên xử từ giữa khuya cho đến sáng: 3 phiên xử trước người Do Thái, 3 phiên xử theo người La-mã, Jêsus không có ai biện hộ, bênh vực, bào chửa cho Ngài. Khi bị vu oan, ai minh giải cho Chúa? Khi bị chế diễu, làm nhục, ai che chở cho Ngài? Phải chăng sự thương khó này cũng là hình ảnh, bài học cho các môn đồ rằng khi theo Chúa, họ có lúc sẽ bị hiểu lầm, vu oan, mạ lị.
Những người Pha-ri-si và thông giáo, trước đó nghịch cùng nhau nay là bạn vì họ có cùng một kẻ thù là Jêsus Christ. Họ xử Chúa trong đêm, 3 lần. Đến lần cuối cùng, để kết án họ phải mướn nhân chứng làm chứng dối. Rồi vì không có quyền giết Chúa, họ mượn tay chính quyền La-mã. Đầu tiên là tổng trấn Phi-lát. Khi trời vừa tờ mờ sáng họ đã giải Chúa đến Phi-lát để xử chết. Sau khi Phi-lát không tìm thấy gì có tội nơi Chúa, nhưng cũng không muốn làm mất lòng dân chúng nên hắn mượn tay vị vua độc ác Hê-rốt để buộc tội Jêsus. Hê-rốt xem Chúa như một trò hề, chỉ muốn xem phép lạ.
Khi gặp Hê-rốt ĐCJC không hề mở miệng nói một lời, dù một chữ. Tại sao? Bởi vì Hê-rốt đã quá mức cứu rỗi. Mọi lời của ĐCT, mọi phép lạ đều vô ích với hắn. Tấm lòng của hắn đã chai lì, trở nên sắt đá. Hê-rốt đã quá mức cứu rỗi. Phải hết sức thận trọng khi quí vị không còn nghe tiếng Chúa.
Cuối cùng dưới áp lực của dân chúng Phi-lát phải thả một tên tù tử tội Ba-ra-ba và xử đóng đinh Jêsus. Chúa bị lính lột áo, đánh đập tàn nhẫn. Họ đội mão gai, mặc áo tía để chế diễu. Họ nhổ vào mặt Chúa, tát má Chúa. Rồi họ đóng đinh Chúa trên thập tự giá giữa hai tên trộm cướp.
Những anh chị em đang hầu việc Chúa hãy nhớ đến ĐCJC và hàm oan Ngài trải qua. Cũng hãy nhớ đến lời này của sứ đồ Phao-lô trong thư cuối đời cho Ti-mô-thê: Con biết rằng mọi người ở xứ A-si đă lìa bỏ ta (2 Tim 1:15) và Khi ta binh vực mình lần thứ nhứt, chẳng có ai giúp đỡ; hết thảy đều lìa bỏ ta. Nguyền xin điều đó đừng đổ tội về họ! (4:16). Tôi chia xẻ những điều này không phải để làm nản lòng, tạo hoài nghi nhưng để nhắc tất cả chúng ta rằng trò không hơn thầy. Nếu điều này đã xảy ra với Chúa, với Phao-lô thì chắc cũng sẽ xảy ra với chúng ta khi hầu việc Ngài.
Jêsus có tội gì? Chính Phi-lát cũng đã khẳng định: Phi-lát bèn nói với các thầy tế lễ cả và dân chúng rằng: Ta không thấy người nầy có tội gì. (Lu-ca 23:4) Không phải vì tội lỗi, vì nghiệp chướng mà Jêsus phải trải qua những thương khó, khổ đau này. Chúa chịu nhận những điều đó vì Ngài hy sinh cho chúng ta, vì yêu thương chúng ta.
Một số trong quí vị có thể hoài nghi: phải chăng những điều Chúa Jêsus đã làm và trải qua trên phòng cao, trong vườn Gết-sê-ma-nê, trước 6 phiên xử, trên đường lên đồi sọ và cái chết đau thương, nhục nhả trên thập giá là những cực đoan hiếm xảy ra trong đời sống? Đúng. Có thể đó là những cực đoan trong cuộc đời. Nhưng đó cũng là ý nghĩa của sự hy sinh, thương khó của Jêsus: Rằng dù trong những cảnh ngộ cùng cực nhất trong đời thì Chúa cũng đã trải qua. Vì vậy Ngài hiểu rõ, cảm thông, yêu thương và có thể an ủi chúng ta.
Trong đoạn KT cảm động nói về tình yêu thương bền vững của ĐCT với chúng ta trong Rô-ma 8, PL bắt đầu với lời: Ngài đă không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao? Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. (8:32-33).
Khi đã có Chúa Jêsus trong đời rồi thì có nghĩa là chúng ta cũng đã nhận được ân điển lớn nhất, mầu nhiệm nhất, lạ lùng nhất của ĐCT. Có Chúa chúng ta cũng sẽ có tất cả. Mất Ngài chúng ta cũng sẽ mất tất cả.
1. Ta hi sinh vì con hết, Huyết tuôn tim nầy tan tành,
Ðem con ra từ nơi chết, Chuộc tội đặng con lại sanh;
Ta đã phó tánh mạng cho con rồi, Phó chi cho ta, con ôi?
2. Nơi Cha ta ngự đẹp đẽ, Ngôi ta sang trọng vô cùng,
Nhưng ta vui lòng lâm thế, Ðê hèn, buồn thảm, hư không;
Ta đã bỏ hết vì con kia rồi, Bỏ chi cho ta, con ôi?
3. Thương con ta chịu đau khổ, Trí con đâu kịp suy lường,
Ðem con lên từ âm phủ, Thân nầy chịu bao đau thương;
Ta đã gánh hết vì con kia rồi, Gánh chi cho ta, con ôi?
4. Ta vui xa lìa thiên quốc, Giáng sinh đem đầy ơn hồng,
Yêu thương, tha tội ban phước, Hoàn toàn đều ban nhưng không;
Ta phó hết bữu vật cho con rồi, Ðem chi cho ta, con ôi?
