Suy Gẫm Về Tình Yêu Thương Chúa
Chúng ta vui mừng vì hôm nay là ngày mùng một Tết của năm Quý Mão. Lẽ ra trong bài giảng đầu năm âm lịch, tôi thường có vài lời về con thú tượng trưng cho năm, như năm nay là năm con mèo. Tuy nhiên bài giảng đầu năm Quý Mão sẽ hoàn toàn không có gì về mèo cả. Tại sao? Rất đơn giản: Bởi vì nhà tôi tuổi con chuột! Mèo bắt gì, ăn gì qv? Chính xác! Đây là lý do MS sẽ hoàn toàn không nói gì về mèo cả. Nói không đúng thì trọn năm sẽ hết sức khổ sở. Nên ngày đầu năm tốt nhất là nếu có ai hỏi nghĩ gì về năm Quý Mão, tôi sẽ nói tốt nhưng không tốt bằng hai năm trước là năm Canh Tý 2020 và ra dấu thế này là chắc ăn nhất, khỏi phải đính chính, phân trần, giải thích.
Bài giảng sáng nay dựa theo đoạn KT chúng ta đã nghe đọc trong TT 107. Tựa đề bài giảng dựa theo câu cuối 43 của bài: Phàm kẻ nào khôn ngoan sẽ chú ý về điều nầy, và suy gẫm sự nhân từ của Đức Giê-hô-va. 3 bản dịch khác dùng từ tình yêu thương thay vì sự nhân từ. Tôi sẽ giải thích thêm về từ này.
TT 107 là bài hát ca ngợi ĐCT của những người đã được Ngài cứu chuộc. Theo một số sách giải kinh thì TT 107 cùng với 105 & 106 là 3 bài hát ngợi ca ĐCT: 105 nhắc lại lịch sử của dân tuyển Y-sơ-ra-ên từ khi ĐCT lập giao ước cùng Áp-ra-ham cho đến khi dân sự vào đất hứa; 106 cảm tạ ĐCT vì sự thành tín của Ngài khi thuật lại những bội nghịch của dân sự trong suốt thời gian nô lệ, trong đồng vắng và cả sau khi đã được vào đất hứa cho đến khi dân sự bị lưu đày nơi xứ xa; và 107 ca ngợi Chúa vì sự giải cứu của ĐCT khi đem dân sự từ nơi lưu đày tại xứ xa Babylon trở về.
TT 107 có lẽ được viết sau khi ĐCT đã đem dân sự từ xứ xa Babylon nơi họ làm phu tù, nô lệ về lại thành Giê-ru-sa-lem và xứ Giu-đa để xây lại đền thờ, và tường thành đã bị giặc tàn phá hơn 70 năm trước đó. Và được hát khi dân sự thờ phượng, bày tỏ lòng biết ơn về sự giải cứu của ĐCT.
Tại sao TT 107 cho Tết, cho năm mới? Tôi xin được giải thích với một câu chuyện. Chuyện kể về một mục sư tuyên úy (chaplain) đang ngủ giữa khuya nhận được một cú điện thoại bất ngờ, yêu cầu ông lập tức đến bệnh viện để gặp một bệnh nhân rất mong mỏi được cầu nguyện. Người bệnh nhân yêu cầu gặp MS là một người đàn ông tuổi trung niên, đạo mạo, dáng vẻ như một người trung lưu, học thức. Khi gặp MS thì ông ta có vẻ bối rối, ngập ngừng và nói với MS: tôi chân thành xin lỗi đã làm phiền mục sư phải đến gặp tôi lúc ban khuya này. MS giải thích rằng ông sẵn lòng làm việc này. Người đàn ông giải thích: Thưa ms tôi muốn nói là bây giờ tôi không cần lời cầu nguyện của ms nữa. Rất đỗi ngạc nhiên, người ms hỏi lý do. Thưa ms lý do là trước đó các bác sĩ khi xem kết quả hình chụp nghĩ rằng tôi có một khối u trong ngực có lẽ là ung thư nên tôi vô cùng lo lắng, buồn phiền và xin gặp ms để ms cầu nguyện với Thượng Đế cho tôi. Nhưng giờ các bác sĩ xem lại hình chụp và cho biết kết quả tốt, chẳng qua chỉ là một hiểu lầm. Nên tôi không cần ms cầu nguyện với ĐCT cho bệnh trạng của tôi nữa!
Câu chuyện này nói lên một sự thật trong đời sống: tất cả mọi người sẽ có lúc phải đối diện với những cảnh ngộ, nan đề mà tự mình, hay ngay cả người chung quanh cũng không thể giải quyết được, nên cần cầu khẩn Thượng Đế, ông Trời, ĐCT để xin được cứu trợ. Nhưng khi biết trong khả năng con người có thể tự giải quyết nan đề thì cũng không cần đến ĐCT!
Tuy nhiên người đàn ông đó quên một điều. Sớm hay muộn, cuối cùng ông sẽ phải đối diện với nan đề mà trong khả năng con người không ai có thể giải quyết được. Đó là tuổi già, sức yếu, cuối cùng sự chết!
Vậy bài giảng hôm nay nhằm để nhắc qv về thực tế này trong năm mới: dĩ nhiên chúng ta sẽ chúc nhau những lời chúc ngọt ngào, tốt đẹp, thuận với ước nguyện của lòng người nhất, nhưng hiểu rõ một thực tế chắc chắn trong năm Quý Mão mới đến này là không ai có thể tránh được những cảnh ngộ, nan đề quá lớn không giải quyết được. Khi đó, chớ như người đàn ông trong câu chuyện trên nhưng cần kêu cầu cùng ĐCT để xin giải thoát, cứu chuộc. Và một bài học quan trọng TT 107 dạy là ĐCT là Đấng đầy quyền năng, giàu lòng nhân từ, thương xót cứu chuộc dân sự Ngài ngay trong những cảnh ngộ đen tối, tuyệt vọng nhất, ngay khi dân sự bội nghịch, không vâng lời dạy của Ngài.
Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va vì Ngài là thiện;
Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.
2Những người Đức Giê-hô-va đã cứu chuộc khỏi tay kẻ thù
Hãy nói như vậy;
3Tức là những người Ngài đã tập hợp từ các xứ;
Từ phương đông và phương tây,
Phương bắc và phương nam. (BHD)
Hai từ quan trọng trong câu 1 & 2 tôi muốn giải thích.
Từ thứ nhất là sự nhân từ (hesed - kheh'-sed) dùng 6 lần trong TT 107 (1, 8, 15, 21, 31). BDM mới dịch là lòng yêu thương kiên trì. Từ này cũng được dùng thường xuyên (248 lần) trong KTCU để nói lên lòng nhân từ, tình yêu thương không phải dựa theo cảm xúc nhưng theo lời giao ước của ĐGHV đối với dân sự Y-sơ-ra-ên. Cũng được dịch là sự thương xót như câu KT rất quen thuộc trong TT 23:6: Quả thật, trọn đời tôi, phước hạnh và sự thương xót sẽ thôi tôi. Từ thương xót chính là kheh’-sed.
Từ thứ hai trong câu 2: Những người Đức Giê-hô-va đã cứu chuộc khỏi tay kẻ thù. Từ Những người Đức Giê-hô-va đã cứu chuộc – gā'al được dùng trên 100 lần trong KTCU để nói về người được ĐCT giải cứu khỏi sự chết, giải cứu khỏi xứ nô lệ Ai-cập, giải cứu từ xứ xa nơi bị bắt làm phu tù, nô lệ như xứ Babylon. Những người được giải cứu từ khắp các xứ, khắp bốn phương. Dĩ nhiên tôi và qv cũng là những người được ĐCJC cứu khỏi tội lôi để được trở nên con trai, con gái sáng láng của Ngài.
TT 107 là lời cảm tạ của những người được ĐGHV cứu chuộc. ĐCT bày tỏ lòng nhân từ, thương xót, tình yêu thương với những người Chúa cứu chuộc, một tình yêu thương không thay đổi, không dựa theo cảm xúc nhưng theo lời giao ước Chúa đã thiết lập với dân Ngài. Người tin Chúa cần tạc dạ, ghi lòng bài học quý báu này là dù khi trải qua những thử thách, khó khăn, khi đối diện với cảnh ngộ tưởng như tuyệt vọng, Chúa không bao giờ lìa bỏ con dân Ngài. Trái lại chính trong những hoàn cảnh tưởng như tuyệt vọng, ĐCT sẽ bày tỏ quyền năng để giải cứu dân Ngài. TT 107 cũng nhắc dạy những người được ĐCT cứu chuộc khỏi tay kẻ thù phải biết cảm tạ, ca ngợi lòng tốt và sự nhân từ của Ngài.
Dù được viết hơn 2500 năm trước đây, TT 107 dạy người tin Chúa hôm nay những bài học cụ thể và thực tế qua hình ảnh 4 nhóm người trong 4 cảnh ngộ tuyệt vọng, tượng trưng cho những khó khăn, thử thách trong cuộc đời của mọi người tin kính Chúa. Hoàn cảnh của mỗi nhóm ghi lại trong 6 câu:
4-9: Nhóm người thứ nhất Chúa cứu chuộc là những người hoàn toàn lạc lối, không tìm được đường đi đến thành.
10-16: Nhóm người thứ hai Chúa cứu chuộc là những người bị giam cầm trong ngục tối, trong bóng của sự chết.
17-22: Nhóm người thứ ba Chúa cứu chuộc là những người bệnh tật sắp chết, tưởng như hoàn toàn tuyệt vọng, không phương cứu chửa.
23-30: Nhóm người thứ tư Chúa cứu chuộc là những người phải đối diện với giông tố nguy hiểm giữa biển khơi sâu thẳm, mênh mông.
Hình ảnh về 4 nhóm người với 4 cảnh ngộ, nan đề không giải quyết được cũng là hình ảnh thực tế và chính xác với con người hiện đại.
Có 4 từ bắt đầu với vần C để giúp qv có thể nhớ về lời dạy trong TT 107: 1) Cảnh ngộ. Mọi người sẽ phải đối diện với những gian nan, hiểm nguy, tuyệt vọng; 2) Cầu khẩn. Trước cảnh ngộ tuyệt vọng, người được cứu cầu khẩn, cầu nguyện cùng ĐCT để xin giải cứu; 3) Cứu chuộc. ĐCT lắng nghe và giải cứu; 4) Cảm tạ. Sau khi được Chúa lắng nghe lời cầu khẩn và giải cứu, dân sự phải biết dâng lời ca ngợi, cảm tạ.
Cảnh ngộ: Họ lưu lạc nơi đồng vắng, trong con đường hiu quạnh [nơi hoang mạc quạnh hiu], không tìm thành ở được; 5 Họ bị đói khát, linh hồn bèn nao sờn trong mình họ [tâm hồn mỏi mòn tuyệt vọng].
Cầu khẩn: Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va;
Cứu chuộc: Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan, 7 Dẫn họ theo đường ngay thẳng, đặng đi đến một thành ở được.
Cảm tạ, Ca ngợi: Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người! 9 Vì Ngài làm cho lòng khao khát được thỏa thích, Khiến cho hồn đói được đầy dẫy vật tốt.
Tất cả bốn nhóm người trong cảnh ngộ gian nan này làm gì để được Chúa cứu? Họ cầu khẩn cùng Ngài để xin được cứu chuộc: Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va; Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan, (6, 13, 19, 28)
Nhóm người thứ nhất được Chúa cứu chuộc là những người hoàn toàn lạc lối, không tìm được đường đi đến thành. Thời đó, thành là hình ảnh của nơi an toàn, bảo vệ dân chúng khỏi giặc thù nhờ bức tường bao chung quanh. Sáng cửa thành mở để dân chúng đi lại, buôn bán, tối tất cả các cửa đóng lại để giữ an ninh cho dân bên trong thành. Thành cũng là nơi mọi người đến để mua bán, trao đổi hàng hóa như người chăn chiên có thể bán chiên, bán cừu để đổi lấy gạo thóc, thịt thà.
Câu 5 nói về linh hồn nao sờn trong mình họ [tâm hồn mỏi mòn tuyệt vọng] nói lên sự mệt mỏi, chán chường, gần như tuyệt vọng vì không tìm được ý nghĩa, mục đích cho đời mình. Khi đọc đoạn KT về nhóm người này tôi nhớ đến bài hát của Trịnh Công Sơn có tựa là một cõi đi về, có mấy câu như sau: bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt.
Đây là những người mà cuộc sống hoàn toàn mất phương hướng, lạc lối, không mục đích, ý nghĩa, mệt mỏi, chán chường, tâm linh, linh hồn nao sờn, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt. Đây là những người mong mỏi tìm được một quan hệ thân tình lòng mình ao ước nhưng chỉ thấy những quan hệ hời hợt, giả tạo. Tìm một thành phố, một nơi chốn có mái ấm gia đình nơi có tình yêu thương chân thật, nhưng tìm mãi cũng chẳng tìm được đường về một thành ở được.
KT tương phản hai thành do loài người xây mà tiêu biểu là thành Babylon và thành do chính ĐCT xây. KH 18 dạy rõ rằng thành Babylon do tay con người xây, dù vĩ đại, vinh quang, phồn thịnh đến mấy rồi cũng sẽ ngã đổ. Đầu tiên đó là một trung tâm kinh tế, văn hóa, niềm hảnh diện của loài người nhưng cuối cùng nó trở nên chỗ ở của ma quỉ, hang hố của tà thần, ngày càng trụy lạc, đầy dẫy tội lỗi, tham lam, tàn ác: Sau điều đó, tôi thấy một vị thiên sứ khác ở trên trời xuống, người có quyền lớn, và sự vinh hiển người chiếu rực rỡ trên đất. 2 Người kêu lớn tiếng rằng: Ba-by-lôn lớn đã đổ rồi, đã đổ rồi! Thành ấy đã trở nên chỗ ở của các ma quỉ, nơi hang hố của mọi tà thần, hang hố của mọi giống chim dơ dáy mà người ta gớm ghiếc, 3 vì mọi dân tộc đều uống rượu dâm loạn buông tuồng của nó, vì các vua thế gian đã cùng nó phạm tội tà dâm, và vì các nhà buôn trên đất đã nên giàu có bởi sự quá xa hoa của nó. (KH 18:1-3) Và chính ĐCT gọi dân Ngài ra khỏi nơi tội lỗi đó như Chúa đã gọi Lót và gia đình ông ngày xưa ra khỏi thành Sô-đôm và Gô-mơ-rê: Tôi lại nghe một tiếng khác từ trên trời đến rằng: Hỡi dân ta, hãy ra khỏi Ba-by-lôn, kẻo các ngươi dự phần tội lỗi với nó, cũng chịu những tai họa nó nữa chăng; 5 vì tội lỗi nó chất cao tày trời, và Đức Chúa Trời đã nhớ đến các sự gian ác nó. (KH 18:4-5)
Nhưng thành thánh Giê-ru-sa-lem trên trời không xây bởi tay con người nhưng do chính ĐCJC: Bởi đức tin, người kiều ngụ trong xứ đã hứa cho mình, như trên đất ngoại quốc, ở trong các trại, cũng như Y-sác và Gia-cốp, là kẻ đồng kế tự một lời hứa với người. 10 Vì người chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập… Ví thử họ đã tưởng đến nơi quê hương mà mình từ đó đi ra, thì cũng có ngày trở lại, 16 nhưng họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời; nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Đức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã sắm sẵn cho họ một thành. (Hê-bơ-rơ 11:9-10, 15-16)
Nhóm người thứ hai Chúa cứu chuộc là những người bị giam cầm trong ngục tối, trong bóng của sự chết. Lý do? Vì họ xem thường, khinh dễ, và hơn thế nữa thậm chí chống lại, nghịch lại chính lời nhắc nhở, dạy dỗ của ĐCT. Những kẻ ở trong tối tăm và bóng sự chết, Bị khốn khổ và xích sắt bắt buộc, 11 Bởi vì đã bội nghịch lời Đức Chúa Trời, Và khinh dể sự khuyên dạy của Đấng Chí cao. 12 Nhân đó Ngài lấy sự lao khổ hạ lòng họ xuống; Họ vấp ngã không ai giúp đỡ.
Một ví dụ cụ thể là dân sự Y-sơ-ra-ên trong thời các Quan Xét. Hai lần trong sách Các Quan Xét, lời Chúa viết: Đương lúc đó, không có vua trong Y-sơ-ra-ên; ai nấy làm theo ý mình lấy làm phải (17:6, 21:25). Không có vua đây không phải vì xứ đã có vua. Chúng ta biết thời đó, dân sự không có vua vì vua của dân sự chính là ĐCT. Nhưng họ từ chối quyền cai trị của ĐCT. Họ muốn ai nấy làm theo ý mình lấy làm phải. Chúng ta đọc trong QX 17 thấy một người lấy cắp tiền của mẹ rồi sau đó dùng số tiền đó để lập một nơi thờ phượng tại nhà với tượng hình; rồi cũng dùng số tiền đó thuê một thầy tế lễ để phục vụ cho đền thờ chính họ lập, thầy tế lễ do chính họ trả công. Chúng ta đọc về một chi bộ Y-sơ-ra-ên cướp đất, giết thường dân vô tội để chiếm đoạt đất đai, thành ở. Chúng ta đọc về một người thuộc dòng dõi thầy tế lễ nhẫn tâm để người vợ bé bị hãm hiếp cho đến chết, rồi cắt xác bà ra 12 phần để gởi đến các chi bộ Y-sơ-ra-ên và gây nên cuộc nội chiến tương tàn giữa anh chị em cùng một giòng máu. Chúng ta đọc về một chi bộ muốn có vợ phải bắt cóc, chiếm đoạt phụ nữ từ chi bộ khác.
Chúng ta tự hỏi có phải đây cũng là hình ảnh của con người hiện đại đang ngồi trong tù ngục đen tối vì từ chối, khinh dễ lời dạy của ĐCT. Tù ngục của tội ác, của gia đình tan rã, hôn nhân tan rã, của tệ nạn trong xã hội, của nghiện ngập.
Đây cũng chính là hình ảnh con người văn minh hiện đại sinh sống trong những xã hội tự hào là cấp tiến. Trí tuệ, khả năng suy luận của con người là chúa nên không cần đến ĐCT trong KT. Đất nước, dân cư và xã hội Hoa Kỳ là một điển hình cụ thể, rõ ràng trước mắt. Một điều lạ lùng là xã hội càng văn minh, con người càng có nhiều nan đề không giải quyết được. Một trong những nan đề trầm trọng nhất trong xã hội HK ngày nay là tình trạng thối hóa của gia đình và tội ác trong xã hội.
Khi các con tôi còn nhỏ, chúng tôi sống gần một trường trung học. Mỗi cuối tuần tôi có thể đạp xe đạp với các con chung quanh trường. Hôm nay phần nào của trường cũng có rào cao bảo vệ. Sáng sớm khi học sinh đến trường cũng có những nhân viên bảo vệ. Nhiều trường trung học nơi các thành phố lớn còn có máy x-quang, máy dò kim khí.
Tôi chắc qv nghe, biết về những vụ xả súng bắn chết học sinh, thầy cô tại các trường trung tiểu học xảy ra hàng năm. Theo thống kê, năm 2022 có 51 vụ xả súng, con số cao nhất từ năm 2018. Gần nhất là vụ xả súng 5/24 tại trường tiểu học Uvalde, TX khiến 21 học sinh và giáo viên thiệt mạng.
Dù đời sống vật chất trong xã hội HK hôm nay đầy đủ, dư dật nhưng ít người cảm thấy hạnh phúc. Khi xã hội càng chối bỏ, bội nghịch với lời dạy của ĐCT thì dân sự sẽ trở nên nạn nhân trong ngục tù của ma quỉ bởi vì KT dạy rõ ma quỉ chính là chúa của thế gian này. Hoặc chúng ta để ĐCT và lời dạy KT làm chủ đời sống, hoặc chúng ta để ma quỉ.
Cầu khẩn: Nhưng nếu kẻ khốn khổ ý thức tình trạng tuyệt vọng, cầu khẩn cùng Chúa, Ngài sẽ lắng nghe và giải cứu họ: Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va; Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan, 14 Rút họ khỏi sự tối tăm và bóng sự chết, Cũng bẻ gãy xiềng của họ.
Cảm tạ, ca ngợi: Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người! 16 Vì Ngài đã phá cửa đồng, Và gãy các song sắt.
Nhóm người thứ ba Chúa cứu chuộc là những người bệnh tật sắp chết, tưởng như hoàn toàn tuyệt vọng, không phương cứu chửa.
Kẻ ngu dại bị khốn khổ vì sự vi phạm và sự gian ác mình; 18 Lòng chúng nó gớm ghê các thứ đồ ăn; Họ đến gần cửa sự chết. Chú ý cũng như nhóm thứ hai bị giam trong ngục tối vì bội nghịch và khinh dễ lời dạy ĐCT, nhóm người thứ ba này gặp khốn khổ bệnh hoạn như sắp chết vì chính sự vi phạm và gian ác của mình.
Nhiều lần tôi có dịp ngồi cạnh những người bệnh sắp chết. Họ không còn tha thiết gì đến thức ăn. Cơn đau đớn khiến họ chỉ muốn chết đi còn hơn. Mọi lạc thú trong đời hoàn toàn tiêu mất. Cơn bệnh hủy diệt mọi ước mơ, hy vọng trong cuộc sống. Y khoa hiện đại dù tiến bộ ngàn lần hơn so với vài ba mươi năm trước đây cũng chỉ có thể làm giảm đi phần nào nỗi đau nhưng không cứu được rất nhiều căn bệnh ung thư.
Bên cạnh những căn bệnh thể xác, mỗi chúng ta không phân biệt giống người, trình độ học vấn, giàu nghèo, giỏi dở, đẹp xấu đều mang một căn bệnh tâm linh do chính tội lỗi mình. Vì tiền công của tội lỗi là sự chết (Rô-ma 6:23). Chúng ta tự hỏi bao nhiêu nỗi đau đớn trong đời đến từ tội lỗi? Không ai phủ nhận nỗi đau đớn về thể xác do tật bệnh gây ra. Nhưng cũng không ai có thể phủ nôi đau đớn về tinh thần, về tâm linh do tội lỗi của chính chúng ta gây ra: đỗ vỡ trong hôn nhân, trong quan hệ, thù hận gây nên chiến tranh. Nỗi đau tâm linh có lúc dường như dai dẳng và đáng sợ hơn cả nỗi đau từ tật bệnh thể xác.
Cầu khẩn & Cứu chuộc: 19 Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan. 20 Ngài ra lịnh chữa họ lành, Rút họ khỏi cái huyệt.
Họ cần làm gì? Cũng như những người được Chúa cứu khác, họ cầu khẩn cùng Ngài. Thú nhận tội lỗi, xin tha thứ và xin được hồi phục.
Cảm tạ, ca ngợi: 21 Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người! 22 Nguyện chúng dâng của lễ thù ân, Lấy bài hát vui mừng mà thuật các công việc Ngài.
Nhóm người thứ tư Chúa cứu chuộc là những người phải đối diện với giông tố nguy hiểm giữa biển khơi sâu thẳm, mênh mông.
Có người đi xuống tàu trong biển, Và làm việc nơi nước cả; 24 Kẻ ấy thấy công việc Đức Giê-hô-va, Xem phép lạ Ngài trong nước sâu. 25 Ngài biểu, bèn có trận gió bão, Nổi các lượn sóng lên. 26 Đưa cao đến các từng trời, rồi hụp xuống tới vực sâu: Lòng họ tiêu tan vì khốn khổ. 27 Họ choáng váng xiêu tó như một người say, Sự khôn ngoan họ đều mất hết.
Biển là nơi đầy hiểm nguy đối với dân sự. Đây là hình ảnh của người phải đối diện với những nguy hiểm trong cuộc sống hằng ngày:
Kinh tế suy sụp, công việc thua lỗ, thất bại
Cú điện thoại lúc giữa khuya báo cho biết chồng vợ, con cái, anh chị em bị tai nạn bất ngờ, trầm trọng không biết sống chết thế nào
Kết quả thử nghiệm cho biết ung thư giai đoạn cuối
Hôn nhân gãy vỡ không phương hàn gắn
Em bé mới sinh với khuyết tật, hay căn bệnh dại khờ (down) hay có thể kéo dài cả đời không phương trị liệu
Như biển bao la, mênh mông, sâu thẳm, những bất ngờ, tai nạn, mất mát, khổ đau xảy ra trong đời sống hằng ngày cũng vậy. Ai biết trước, nói trước, tiên đoán trước được?
28 Bấy giờ trong cơn gian truân họ kêu cầu Đức Giê-hô-va, Ngài bèn giải cứu họ khỏi điều gian nan. 29 Ngài ngừng bão-tố, đổi nó ra bình tịnh, Và sóng êm lặng. 30 Họ bèn vui mừng vì sóng êm lặng; Chúa dẫn họ vào bến họ ước ao. 31 Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, Và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con loài người! 32 Người ta cũng hãy tôn cao Ngài trong hội dân sự, Và ngợi khen, Ngài tại nơi hiệp tập các trưởng lão.
Cả bốn nhóm người này làm gì để được cứu? trong cơn gian truân họ kêu cầu ĐGHV, Ngài bèn giải cứu họ. Việc kêu cầu tưởng như dễ như lại khó cho con người hiện đại. Tại sao? Vì lòng tự cao, tự phụ: tôi không cần ĐCT, tôi là chủ của đời sống tôi, tôi có thể giải quyết được mọi nan đề.
Tác giả TT 107 lập lại trong phần cuối về quyền năng của ĐCT, để nhắc nhở họ Ngài thật là Đấng sáng tạo và quyết định kết quả cuối cùng của muôn vật: Ngài đổi sông ra đồng vắng, Suối nước thành đất khô, 34 Và đất màu mỡ ra đất mặn, Vì cớ sự gian ác của dân ở tại đó. 35 Ngài biến đồng vắng thành ao nước, Đất khô ra những suối nước; 36 Ngài làm cho những kẻ đói được ở tại đó, Họ xây lập thành đặng ở. 37 Họ gieo ruộng và trồng nho, Ruộng và nho sanh bông trái. 38 Đức Chúa Trời ban phước cho họ đến đỗi họ sanh sản nhiều thêm; Ngài không để cho súc vật họ bị hao hớt. 39 Họ lại bị hạ số và phải cực lòng Vì sự hà hiếp, sự gian nan, và sự buồn rầu. 40 Ngài đổ sự nhuốc nhơ trên vua chúa, Khiến họ phải lưu lạc trong nơi vắng vẻ không đường. 41 Nhưng Ngài vớt kẻ thiếu thốn khỏi hoạn nạn, Làm cho người ấy được gia quyến đông như bầy chiên. Các người ngay thẳng sẽ thấy điều ấy, và vui vẻ, Còn các kẻ ác đều phải ngậm miệng lại.
Sông ra đồng vắng, suối nước thành đất khô, đất màu mỡ ra đất mặn. Vì gian ác của dân
Tuy nhiên Chúa cũng khiến đồng vắng thành ao nước, đất khô ra suối nước, kẻ đói được no, kẻ không nhà có thành để ở.
Con người gieo trồng nhưng chính ĐCT giúp cho ruộng và nho sinh bông trái.
Các người ngay thẳng sẽ thấy điều ấy, và vui vẻ, Còn các kẻ ác đều phải ngậm miệng lại. Phàm kẻ nào khôn ngoan sẽ chú ý về điều nầy, Và suy gẫm sự nhân từ của Đức Giê-hô-va. (107:42-43)
Người khôn ngoan suy gẫm những điều này để nhớ về quyền năng và lòng nhân từ, tình yêu thương của ĐCT. Kẻ dại từ chối Chúa: Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: chẳng có Đức Chúa Trời. (TT 14:1)
ĐCJC hứa: Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. 29 Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. 30 Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng. (Ma-thi-ơ 11:28-30). Xin hãy lắng nghe lời mời gọi và đến với Ngài.
