Sự Thương Khó của Chúa
Hễ đến Phục Sinh hay Giáng Sinh là chúng ta có thể nghe về những điều mà người ta gọi là khám phá mới nhất về Giê-xu Christ. Mười năm trước đây đài truyền hình Discovery Channel có chiếu cuốn phim tài liệu Ngôi mồ đã mất của Jesus (The Lost Tomb of Jesus). Theo phim thì ngôi mộ của Jesus Christ đã được khám phá và người ta đã tìm được xác của Ngài cùng cha, mẹ, vợ và con trai tên trong những hộp đựng xác tại ngôi mồ đó. Nếu sự khám phá trong phim là thật thì theo lời của một giáo sĩ Do Thái Giáo, Cơ Đốc Giáo (Christianity) thật là một lừa dối thật độc ác.
Tại sao nếu mộ của Jesus có xác Ngài thì đạo Đức Chúa Trời lại là một sự lừa dối thật độc ác? Bởi vì niềm tin của người Cơ Đốc căn cứ vào sự Đức Chúa Jê-sus Christ chịu chết, chôn đi rồi đến ngày thứ ba Chúa sống lại một cách mầu nhiệm. Cũng chính vì vậy mà một người đã viết, Sự khác biệt giữa người Cơ Đốc (Christian) và người ngoại không phải giữa những người nghĩ rằng yêu thương mọi người là điều tốt và những người nghĩ rằng không yêu thương mọi người là xấu. Sự khác biệt thật sự là giữa những người tin rằng Jesus đã sống lại từ cõi chết vào ngày thứ ba như một chứng cớ Ngài thật sự là Đấng Cứu Rỗi được Đức Chúa Trời sai đến, và những người không tin vào niềm tin và sự kiện lịch sử kỳ lạ này.
Dĩ nhiên cuốn phim đó hoàn toàn sai lầm và đã bị các khảo cổ gia chỉ trích, chỉ coi như một cuốn phim giải trí thay vì phim tài liệu. Đến nỗi một khảo cổ gia nổi tiếng của Hoa Kỳ tên William Dever có lời phê phán, Tôi không phải là người Cơ Đốc. Tôi không phải là người tin Chúa. Tôi hoàn toàn không có một phần nào trong cuộc tranh cải này. Nhưng tôi đã biết về những hộp đựng xác này trong nhiều năm cũng như nhiều nhà khảo cổ gia khác, và không có ai trong chúng tôi nghĩ rằng đây là một câu chuyện đáng kể bởi vì những tên trên hộp là những tên rất phổ thông trong thời kỳ đó. Kết luận là mãi cho đến hôm nay chưa ai phủ nhận được sự thật về ngôi mồ trống của Jê-sus Christ.
Niềm tin vào sự sống lại của Đức Chúa Jê-sus Christ là một niềm tin căn bản và quan trọng nhất của người Cơ Đốc. Sứ đồ Phao Lô đã nhấn mạnh với Hội Thánh thành Cô-rinh như sau, "Lại nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công, và đức tin của anh em cũng vô ích" (I Cô-rinh-tô 15:12). Phao Lô khẳng định rằng nếu Jê-sus Christ đã không sống lại từ cõi chết, nếu ai đó tìm được xác của Ngài thì mọi điều ông và các sứ đồ khác dạy trong Kinh Thánh về sự cứu rỗi đều vô nghĩa, thì đức tin của người theo Chúa hoàn toàn vô ích. Nếu Đức Chúa Jê-sus Christ đã không sống lại thì đạo của Chúa chỉ là một câu chuyện huyền thoại, chẳng có giá trị gì, chẳng có gì là mầu nhiệm để cứu chúng ta ra khỏi tội và ban cho chúng ta một cuộc sống đời đời về sau.
Trong bài giảng này, tôi muốn cùng qv suy nghĩ về sự thương khó và sự chết của Đức Chúa Jê-sus Christ. Sự thương khó và sự chết của Jê-sus Christ được ghi lại một cách cẩn thận và chi tiết trong bốn sách đầu tiên của Kinh Thánh Tân Ước. Bốn sách đó là Tin Lành hay Phúc Âm Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng. Chính xác hơn tên của các phúc âm này là tên của bốn tác giả đã viết lại về cuộc đời của Đức Chúa Jê-sus Christ. Khi mới đọc qua, có người tự hỏi tại sao các chi tiết về sự thương khó, sự chết và sự sống lại của Jê-sus Christ lại không hoàn toàn giống nhau. Thậm chí có vài chi tiết tưởng như mâu thuẫn với nhau.
Câu trả lời rất đơn giản: bởi vì mỗi tác giả của sách đều có một đối tượng và một mục đích khác nhau khi viết về Đức Chúa Jê-sus. Ma-thi-ơ viết sách tin lành hay phúc âm cho người Do Thái để giải thích cho họ rằng Jê-sus quả thật là Đấng Mê-si hay là Đấng cứu tinh đã tiên đoán trước đó hằng trăm nay trong Kinh Thánh Cựu Ước. Mác viết cho người không phải là người Do Thái, gọi là người ngoại, đặc biệt cho người La Mã. Chính vì vậy ông chú trọng rất nhiều về những hành động của Đức Chúa Jê-sus. Lu-ca là người Hy Lạp nên ông viết về Chúa chủ yếu cho người Hy Lạp. Cũng bởi vì Lu-ca là một bác sĩ nên ông rất chi tiết trong việc thuật lại về cuộc đời Chúa Jê-sus. Giăng chủ yếu viết cho những người đã đặt niềm tin vào Chúa. Ông xem như người đọc đã biết phần nào về cuộc đời, sự thương khó, sự chết và sống lại của Chúa. Do đó mục đích của sách là nhằm để giúp người đọc hiểu rõ hơn về lời Chúa dạy hơn là kể lại về cuộc đời Ngài.
Nói tóm lại, câu chuyện về sự thương khó, sự chết và sống lại của Chúa đều thống nhất với nhau trong bốn sách phúc âm của Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng dù các chi tiết trong mỗi sách được chọn lựa với mục đích khác nhau.
Một điều hết sức kỳ diệu là chính Đức Chúa Jê-sus Christ đã tiên đoán trước về những ngày giờ cuối cùng và sự sống lại của Ngài. Bác sĩ Lu-ca ghi lại lời Chúa như sau, Kế đó, Đức Chúa Jê-sus đem mười hai sứ đồ riêng ra mà phán rằng: Nầy, chúng ta lên thành Giê-ru-sa-lem, mọi điều mà các đấng tiên tri đã chép về Con người sẽ ứng nghiệm. Vì Ngài sẽ bị nộp cho dân ngoại; họ sẽ nhạo báng Ngài, mắng nhiếc Ngài, nhổ trên Ngài, sau khi đánh đòn rồi, thì giết Ngài đi; đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại" (Lu-ca 18:31-33). Dù biết trước về những nhục hình mình phải gánh chịu, Chúa vẫn lên thành Giê-ru-sa-lem để bị bội phản, bị nộp, bị tra tấn, rồi đóng đinh trên thập tự giá cho đến chết. Lý do gì khiến Chúa chịu nhận những đau thương đó? Chỉ bởi vì Ngài yêu thương tôi và quý thính giả, yêu thương đến độ có thể cam lòng chịu nhục hình, yêu thương đến nỗi đổ huyết ra hầu chuộc tội chúng ta.
Chúa nhật trước tuần lễ cuối cùng, trước khi Đức Chúa Jê-sus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá, thì Ngài đã cùng các môn đồ vào thành Giê-ru-sa-lem. Dân chúng trong thành mừng đón Chúa. Người thì cởi áo mình đang mặc để trải trên đường cho Chúa. Kẻ thì hò reo, lớn tiếng mà ngợi khen Ngài. Họ tung hô Jê-sus, "Đáng ngợi khen Vua nhơn danh Chúa mà đến! Bình an ở trên trời, và vinh hiển trên các nơi rất cao!" (Lu-ca 19:33). Lúc này thành phố Giê-ru-sa-lem được xem như một thủ đô thánh của dân tộc Do Thái bởi vì đền thờ của Đức Chúa Trời ở tại đó. Lại nữa, Đức Chúa Jê-sus Christ cùng các môn đồ vào thành nhân một dịp lễ quan trọng nhất, là lễ Vượt Qua. Lễ này kỷ niệm sự giải thoát mầu nhiệm cho dân sự khỏi vòng nô lệ trong xứ Ai Cập gần 2000 năm trước đó. Bởi vì đây là thủ đô thánh nhằm dịp lễ lớn nên số người trong thành phố rất đông. Hằng chục ngàn người từ phương xa đổ về Giê-ru-sa-lem để cử hành lễ tại đền thờ, là nơi thánh mà họ tin rằng Đức Chúa Trời hiện diện, nơi linh thiên mà họ tin rằng mọi điều cầu nguyện tại đó sẽ được nhậm lời. Nhưng họ không biết rằng Con Trời đã ở trong vòng của họ.
Khi được dân chúng đón mừng, khen hô, ca tụng thầy mình, chắc lòng các môn đồ như mở cờ. Họ chắc nghĩ rằng rồi từ nay đời của họ sẽ lên hương. Có thể họ tự nhủ trong lòng: "Bây giờ chúng tôi không còn là những người đánh cá tầm thường ở vùng biển Ga-li-lê hay người thu thuế cho quân La Mã bị mọi người khinh bỉ nữa. Nhưng chúng tôi sẽ là quan cho vua Jê-sus". Nhưng họ đâu ngờ lòng con người đổi trắng thay đen vô cùng nhanh chóng.
Cũng chính đoàn dân đông hò reo, khen ngợi Đức Chúa Jê-sus Christ ngày Chúa nhật trước đó thì vào sáng thứ Sáu tuần sau đã gào thét, "Hãy giết người này đi, mà tha Ba-ra-ba cho chúng tôi!" Họ gào thét đòi tổng trấn La Mã là Phi-lát xử giết Jê-sus, và thế vào chổ Chúa là tên cướp giết người tên Ba-ra-ba được thả.
Qv có thể tự hỏi: Tại sao dân chúng lại đòi giết Chúa? Không phải mới Chúa nhật trước đó họ mừng rỡ đón Ngài và còn xưng tụng là "Vua nhân danh Chúa mà đến" hay sao? Lý do là vì họ bị thuyết phục bởi một số người có quyền chức, địa vị trong số đó có cả những người lãnh đạo tôn giáo rằng Jê-sus Christ đáng chết, phải chết vì Ngài tự nhận mình là Thượng Đế, có thể cứu tội chúng sinh. Ngày hôm nay chúng ta cũng có thể bị thuyết phục bởi một số người có học vấn, có địa vị, có quyền chức, có tôn giáo mà từ chối Chúa, thậm chí đóng đinh Ngài trong đời sống.
Nhưng trước khi nói về ngày thứ sáu cuối đời của Đức Chúa Jê-sus Christ, tôi muốn dẫn qv ngược lại thời gian trở về buổi tối thứ năm trước đó. Thứ năm đó dân chúng trong thành Giê-ru-sa-lem cử hành lễ Vượt qua. Chúa cùng 12 sứ đồ cũng cử hành lễ ấy tại một căn phòng rộng và cao (Lu-ca 22:12). Trong bửa ăn đó, Jê-sus đã tiên đoán rằng một người sẽ bội phản, bán thầy mình, một người sẽ chối bỏ không nhìn nhận và số còn lại sẽ chạy trốn, tản lạc khi Ngài bị bắt.
Lời Chúa hoàn toàn ứng nghiệm. Giu-đa Ít-ca-ri-ốt đã nhẫn tâm bán thầy mình với giá ba mươi đồng bạc. Phi-e-rơ từ chối Chúa ba lần khi bị người ta hỏi có phải ông là người theo Chúa hay không. Mười sứ đồ còn lại chạy trốn khi Chúa bị quân lính La Mã đến bắt trong vườn Ghết-sê-ma-nê. Dân chúng trong thành thay lòng đổi dạ theo lời thuyết phục của những người lãnh đạo mà bội phản, chối từ Chúa là một chuyện. Nhưng sứ đồ của Ngài mà lại bội phản, bán chính thầy mình, chối bỏ thầy mình, chạy trốn khi thấy thầy bị bắt lại là một chuyện khác. Ai cam lòng khi bị chính những người gần gũi, thân yêu nhất phản bội, chối từ? Nỗi đau này dù được nói ra từ tháng này qua năm nọ cũng vẫn chưa giảm bớt. Sự tủi nhục này lấy gì mà rữa sạch được.
Một lần nọ hồi còn trong đại học có cho một người đàn ông quá giang xe. Tôi thấy ông ngồi như người mất hồn, thẩn thờ bên ngoài cửa tiệm của một trạm xăng. Khi lên xe chạy cả gần một tiếng đồng hồ dù tôi cố hỏi chuyện ông vẫn trả lời chỉ cho có lệ nhưng rõ ràng rằng ông không muốn nói chuyện. Chỉ nghe giọng nói, nhìn ánh mắt cũng đủ biết rằng ông đang mang một tâm trạng gì đó rất thương tâm. Mãi vài tiếng đồng hồ sau đó ông mới thố lộ rằng trưa hôm đó khi có việc phải trở về nhà ông bắt quả tang vợ mình đang ngoại tình trên giường ngủ. Lúc đầu trong cơn nóng giận ông định giết cả hai người nhưng nghĩ lại ông chỉ mắng chửi thậm tệ rồi bỏ đi thật xa cái thành phố đau buồn đó.
Bị người phụ bỏ là một nỗi đau rất lớn trong đời. Hễ người phụ mình càng thân cận, càng yêu mến, gần gũi chừng nào,cảm giác bị phản bội càng đau đớn chừng ấy. Chính Đức Chúa Jê-sus Christ đã tuyển chọn 12 sứ đồ. Suốt ba năm trời, Ngài dạy dỗ, yêu thương họ. Vậy đó mà trong một phút chốt vì lòng tham của, vì sự sợ hãi, tất cả đều phụ bỏ Chúa. Nhưng trước khi chúng ta đoán xét các sứ đồ, chúng ta nên tự xét lấy chính mình để xem bao nhiêu lần chúng ta từ chối Chúa để đổi lấy vật chất, được một quan hệ trong đời. Thà rằng chúng ta xa Chúa còn hơn gần Ngài mà mất đi lợi nhuận trong công việc, danh tiếng trong vòng bè bạn hay cơ hội để tăng lương, tiến chức. Có thể cách thể hiện của chúng ta không lộ liễu, trắng trợn như dân sự ngày xưa hay như các sứ đồ nhưng khéo léo hơn, khôn ngoan hơn nhưng không khác mấy về động cơ và mục đích.
Sau bị quân lính La Mã bắt giải đến cho thầy cả thượng phẩm, tức là người lãnh đạo tôn giáo tối cao của thời đó, Đức Chúa Jê-sus Christ bị xét xử trong đêm tối. Từ nơi này sang nơi nọ trong đêm tối họ xử Con Trời. Phải chăng đây cũng là một hình ảnh thật chính xác và ý nghĩa nói lên về cách thức loài người lên án Thượng Đế: trong sự tối tăm của tâm hồn, trong sự tối tăm của tội lỗi, trong sự tối tăm của quyền lực ma quỹ. Cũng trong đêm đó họ đánh đập Chúa cách tàn nhẫn, họ chế diễu và nhổ trên Ngài y như lời Ngài đã tiên đoán. Cũng trong đêm đó họ quyết định giết Jê-sus.
Sáng thứ sáu họ giải Chúa đến tổng trấn La Mã Phi-lát bởi vì chỉ có lệnh La Mã mới có quyền đóng đinh một tử tội trên thập tự giá. Phi Lát không tìm thấy tội gì ở Jê-sus nên định phủi tay mà gởi Chúa sang cho vua Hê-rốt, là vua của dân Do Thái thời bấy giờ. Hê-rốt thấy Chúa Jê-sus "thì mừng lắm; vì lâu nay vua muốn gặp Ngài, nhơn đã nghe nói về chuyện Ngài, và mong xem Ngài làm phép lạ" (Lu-ca 23:8) Nhưng sau khi không được xem phép lạ, hắn và các quân lính đều khinh khi, chế diễu, mặc cho Chúa một cái áo hoa hoè rồi giao lại cho Phi-lát. Trong lần xử cuối cùng này của Phi-lát trước đoàn dân đông tụ họp trong ngày lễ hội lớn tại Giê-ru-sa-lem, Đức Chúa Jê-sus Christ bị đánh đập vô cùng tàn nhẫn rồi bị xử chết trên cây thập tự. Lu-ca ghi lại phản ứng của đoàn dân trong buổi sáng thứ sáu như sau, Song chúng kêu kên rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự đi! Đóng đi nó trên cây thập tự đi! Phi-lát lại nói đến lần thứ ba rằng: Vậy người này đã làm điều ác gì? Ta không tìm thấy người có sự gì đáng chết. Vậy, đánh đòn xong, ta sẽ tha. Nhưng chúng cố nài, kêu lớn tiếng rằng phải đóng đinh Ngài trên cây thập tự; tiếng kêu của họ được thắng (Lu-ca 23:21-23).
Loài người đã lên án Chúa trong bóng đêm, nhưng với số đông họ giết Jê-sus vào giữa ban ngày. Biết bao nhiêu ngàn cặp mắt đã chứng kiến cảnh Jê-sus đầu đội mão gai, toàn thân đẫm máu, lê từng bước nặng nề vì trên vai mang cây gỗ lên ngọn đồi Sọ bên ngoài thành Giê-ru-sa-lem. Biết bao nhiêu lời chế diễu, khinh khi của đám đông mà chỉ mới Chúa nhật rồi mừng rỡ, hò reo đón Chúa khi Ngài cỡi lừa vào thành. Rồi khi đến ngọn đồi Sọ là nơi quân lính La Mã xử tử bao nhiêu tội nhân, nơi tử tội bị lột trần, tay chân bị đóng đinh treo trên cây thập tự, chết một cách vô cùng đau đớn, Jê-sus đã bị đóng đinh giữa hai tên trộm cướp. Đến độ ba giờ chiều, Đức Chúa Jê-sus Christ trút hơi thở cuối cùng trên cây thập tự, "Đức Chúa Jê-sus bèn kêu lớn rằng: Hỡi Cha, con giao linh hồn lại trong tay Cha! Ngài vừa nói xong thì tắt hơi" (Lu-ca 23:46).
ĐCJC đã vì tình yêu thương vô bờ bến chịu chết cho tôi và qv. Chúa chịu đựng mọi nhục hình, thương khó rồi chết trên cây gỗ để chuộc lấy tội lỗi của tất cả chúng ta, để mang chúng ta trở lại với Đức Chúa Trời. Xin hãy tìm đến tình thương đó để được nhận lấy sự cứu rỗi và một cuộc đời mới.
