Sứ Điệp Về Thập Giá: Từ Nước Mắt Sang Nụ Cười
Giả sử chúng ta có thể tạo nên một cái cân (scale) đặc biệt, không phải để cân thịt hay bánh nhưng để cân mọi hạnh phúc và đau khổ, mọi nụ cười trong niềm vui và nước mắt trong khốn cùng, mọi công chính và bất công, mọi việc thiệc và việc ác trong cuộc đời này. Thử hỏi quí vị nghĩ cán của cân nghiên về phía nào? Phía hạnh phúc, niềm vui, công chính, việc thiệc hay phía của khổ đau, nước mắt, bất công và độc ác? Nghe trong băng nhạc, xem trong phim ảnh, chủ đề ăn khách nhất vẫn là tình yêu, nhưng tình yêu nào cũng đầy nước mắt cả! Hễ chuyện tình càng éo le, càng đau khổ, càng nhiều nước mắt thì càng ăn khác. Tôi nhớ có một lần một tín đồ hội thánh chở cháu Hannah về nhà dùm. Trên đường người tín đồ đó để nhạc tình VN. Về đến nhà, Hannah hỏi tôi và Lan sao nhạc tình VN toàn là khóc lóc, mất mát không vậy!
Là người VN ai lại không nghe đến chuyện Thúy Kiều của đại văn hòa Nguyễn Du. Chuyện Kiều là tiếng gọi nôm na của người bình dân chúng ta, nhưng thật sự phải được gọi là Đoạn Trường Tân Thanh. Đoạn = đứt, gãy, Trường (Tràng) = ruột, vậy đoạn trường là đứt ruột, đau lòng như xé ruột; tân thanh là tiếng kêu mới. Vậy ĐTTT có nghĩa là tiếng kêu mới từ một tấm lòng đau khổ (a new cry from a broken heart). Tác phẩm bắt đầu với những câu thơ thật não lòng: Trăm năm trong cõi người ta; Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau; Trải qua một cuộc bể dâu; Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Tôi cũng muốn nhắc quí vị một điều. Tất cả chúng ta hiện diện tại đây đang sống trong một xã hội trù phú, an bình nhất thế giới. Hầu hết dân chúng trên thế giới này sống cơ cực biết bao nhiêu lần hơn chúng ta. Có thể nói chúng ta thuộc về chỉ số dưới 1% toàn cầu đầy đủ, dư dật, yên ấm nhất. Dù vậy cuộc đời của mỗi người hiện diện đây cũng không thiếu gì nước mắt, khổ đau, bất hạnh.
KT có nhiều câu chuyện về cuộc đời của những người trải qua nhiều khổ đau, mất mát.
Đa-vít là một cậu thanh niên, con út trong gia đình 8 anh em. Khi đang chăn chiên ngoài đồng thình lình có người gọi về. Rồi tiên tri của ĐCT là Sa-muên xức dầu để chọn ông làm vua! Không lâu sau đó Đa-vít trở nên anh hùng của dân tộc vì giết người khổng lồ Phi-lít-tin tên Gô-lia. Các cô gái trong xứ xem Đa-vít như Y-sơ-ra-ên Idol và hát ca tụng “Sau-lơ giết hằng ngàn còn Đa-vít giết hằng vạn”. Và cũng vì lời khen tặng này mà cuộc đời ông đổi từ đỉnh cao đến vực sâu, từ thành công đến tủi nhục, từ nụ cười sang nước mắt. Chỉ trong vòng vài năm sau khi là anh hùng dân tộc, con rễ vua, bạn chí thân của hoàng tử, Đa-vít mất tất cả. Trong gần 15 năm dài Đa-vít chạy trốn nhưng một tội nhân, một con thú bị săn đuổi. Một bài hát TT viết trong thời kỳ gian truân đó có lời sau: Đang khi người ta hằng hỏi tôi: Đức Chúa Trời ngươi đâu? Thì nước mắt làm đồ ăn tôi ngày và đêm (42:3). Hay trong một bài hát khác: Tôi mỏn sức vì than thở, Mỗi đêm tôi làm trôi giường tôi, Dầm nó với nước mắt. Mắt tôi hao mòn vì buồn thảm, Làng lệt vì cớ cừu địch tôi. (6:6-7)
Hay như câu chuyện của Gióp, một người công chính, yêu mến, kính sợ ĐCT. Chỉ trong một ngày tin dữ đến với ông như lửa cháy, thiêu sạch mọi của cải, tài sản, giết chết cả những người con yêu quí nhất của ông. Trong cơn đau khổ cùng cực đó, Gióp rủa xả cả ngày ông sinh ra và chất vấn ĐCT về cảnh ngộ bất công này: Ngày ta đã sanh ra, khá hư mất đi; Còn đêm đã nói rằng: Có được thai dựng một con trai, hãy tiêu diệt đi! Nguyện ngày ấy bị ra tăm tối! Nguyện Đức Chúa Trời từ trên cao chớ thèm kể đến, Và ánh sáng đừng chiếu trên nó! (Gióp 3:3-4)
Điều đáng ngạc nhiên hơn hết là dù đời sống có đầy nước mắt, đầy đau khổ mọi người vẫn có hy vọng. Trong tận sâu kín nhất của tâm hồn mỗi chúng ta đều chất chứa hy vọng. Hầu hết mọi người đều có thể chấp nhận đau khổ, mất mát khi vẫn còn hy vọng. Nhưng khi không còn hy vọng thì cuộc đời sẽ trở nên hoàn toàn vô nghĩa, chúng ta không thể tiếp tục cuộc sống này dù bụng đầy bánh, thân đầy quần áo, nữ trang hay nhà đầy vật của.
Trong đau khổ cùng cực, khi tiếng ĐCT im bặt thì cả Đa-vít và Gióp đều bày tỏ hy vọng. Gióp viết: Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài (13:15) và Đa-vít khẳng định: Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, Tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi; Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi. (23:4) Cả hai nhân vật này đặt niềm hy vọng của họ, không vào hoàn cảnh, vào con người, vào khả năng chính họ, nhưng vào ĐCT.
Thập tự giá nơi ĐCJC chịu chết là biểu tượng cụ thể nhất của hy vọng trong đời sống đầy nước mắt, khổ đau, bất hạnh này. Qua thập tự giá ĐCT đổi sự trừng phạt sang tha thứ, nguyền rủa sang yêu thương, nước mắt sang nụ cười, tuyệt vọng sang hy vọng, sự chết sang sự sống. Khi nhìn lên thập tự giá, người tin Chúa không chỉ nghĩ về sự hy sinh của ĐCJC cho tội của họ, nghĩ về tình yêu thương không điều kiện, tuyệt đối và thủy chung đến cuối, nhưng còn nghĩ đến hy vọng, đến niềm vui ĐCT dành cho họ.
As Vice President, George Bush represented the U.S. at the funeral of former Soviet leader Leonid Brezhnev (died on Nov 10, 1982). Bush was deeply moved by a silent protest carried out by Brezhnev's widow. She stood motionless by the coffin until seconds before it was closed. Then, just as the soldiers touched the lid, Brezhnev's wife performed an act of great courage and hope, a gesture that must surely rank as one of the most profound acts of civil disobedience ever committed: She reached down and made the sign of the cross on her husband's chest. There in the citadel of secular, atheistic power, the wife of the man who had run it all hoped that her husband was wrong. She hoped that there was another life, and that that life was best represented by Jesus who died on the cross, and that the same Jesus might yet have mercy on her husband. (Gary Thomas, Christian Times, Oct 3, 1994, p. 26)
GIÁ TRỊ CỦA NƯỚC MẮT
Dĩ nhiên không ai muốn tìm kiếm đau khổ, nước mắt trong đời cả, ngoại trừ người bệnh tâm thần! Ước tính chỉ trong 3 tháng của năm qua hơn 1000 sách đã được viết về chủ đề hạnh phúc (happiness) tung ra trên mạng Amazon. Tuy nhiên hãy suy nghĩ đến điều này. Khi chúng ta ngồi xuống trò chuyện với nhau, với bè bạn, người thân yêu về quá khứ, chúng ta không chỉ nói về hạnh phúc, niềm vui. Chúng ta mong muốn, ao ước hạnh phúc, niềm vui, nụ cười nhưng đều đồng ý sự trưởng thành chỉ đến qua những thời gian khó khăn.
Thời gian gần 15 năm khi Đa-vít bị đuổi bắt để giết bởi vua Sau-lơ ông thật sự trưởng thành trong Chúa. Chính trong thời gian đau khổ đầy tràn nước mắt đó, Đa-vít học hỏi về đức tin nơi Chúa, học đặt niềm tin vào Chúa hơn vào người ta. Cảnh khổ, cảnh khó là người thầy khắc nghiệt nhưng giỏi lắm. Nó thay đổi, rèn luyện con người, giúp cho chúng ta thật sự hiểu mình và người. Khi giàu có, thành công, chúng ta có bạn, nhưng khi nghèo khổ, hoạn nạn chúng ta mới biết bạn thật.
Khổ đau giúp chúng ta ý thức rõ hơn hết về giới hạn của khả năng chính mình và con người. Chúng ta biết mình cần sức Chúa và cần người thân yêu giúp đở. Khổ đau thay đổi chúng ta từ bên trong nội tâm. Sức mạnh cần thiết của người trải qua khổ đau, đang trong than khóc là sức mạnh nội tâm. Lực sĩ với bắp thịt cuồng cuộng cũng vô ích trước khổ đau. Và chính vì phải cần đến sức mạnh nội tâm, chúng ta ý thức đời sống vật chất này có giới hạn và không phải là tất cả. Chúng ta ý thức mình cần sự trợ giúp của ĐCT.
PL viết về mục đích của khổ đau, hoạn nạn là để chúng ta có thể nên mềm mại hơn, cảm thông hơn và có thể giúp những người trong cảnh ngộ khó khăn: Ngài yên ủi chúng tôi trong mọi sự khốn nạn, hầu cho nhơn sự yên ủi mà Ngài đã yên ủi chúng tôi, thì chúng tôi cũng có thể yên ủi kẻ khác trong sự khốn nạn nào họ gặp! (2 Cô-rinh-tô 1:4)
LỜI TỪ GIẢ TRONG ĐÊM CUỐI
Đoạn KT chúng ta đọc đối đáp gồm những lời của ĐCJC cùng các sứ đồ trong đêm cuối cùng của Ngài với họ trước khi bị bắt, xử và đóng đinh đến chết trên thập giá. Chúng ta có thể gọi là những lời trăn trối của Chúa cùng 12 người gần gũi Ngài hơn hết trong 3 năm hành đạo. Bối cảnh của câu 20-33 là lời trước đó của Chúa: Bấy giờ, một vài môn đồ nói với nhau rằng: Ngài dạy: Còn ít lâu các ngươi sẽ chẳng thấy ta; rồi ít lâu nữa các ngươi lại thấy ta; và rằng: Vì ta về cùng Cha; thế là làm sao? Vậy, môn đồ nói rằng: Ngài nói: Ít lâu, là nghĩa gì? Chúng ta không hiểu Ngài nói về việc chi.(16:17-18)
Chúa giải thích: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi sẽ khóc lóc, than vãn, còn người đời sẽ mừng rỡ; các ngươi sẽ ở trong sự lo buồn, nhưng sự lo buồn các ngươi sẽ đổi làm vui vẻ (16:20). Chúa lấy ví dụ của một người đàn bà sinh đẻ, nỗi đau đớn trước khi con sinh ra trở nên niềm vui sau khi thấy con mình. Khác nào như các ngươi hiện ở trong cơn đau đớn, nhưng ta sẽ lại thấy các ngươi, thì lòng các ngươi vui mừng, và chẳng ai cướp lấy sự vui mừng các ngươi được (16:22)
Lý do gì chúng ta buồn khóc khi người thân yêu qua đời? Vì không còn nhìn thấy người mình yêu mến, được nghe tiếng nói, giọng cười. Có niềm vui nào lớn hơn khi được nhìn lại người tưởng như đã mất? Tôi nhớ lại niềm vui khi tôi và chị tôi nhìn thấy với chính mắt mình người em tôi, tóc dài đến vai, đen đuốc, từ cầu chờ vào trại tị nạn. Chúng tôi vừa khóc vừa cười! Nghĩ đến cảnh gia đình đoàn tụ sau nhiều năm xa cách, tưởng không bao giờ có dịp gặp lại nhau, vui mừng biết bao.
ĐCJC nói với các môn đồ ngay trong đêm chịu thương khó rằng: vâng các ngươi sẽ than khóc vì mất ta, vì nhìn thấy những cảnh tượng bất công khi người vô tội bị vu oán, xử tử nhưng kẻ có tội lại được dân chúng đòi thả. Rồi các ngươi sẽ gặp lại Ta vì Ta sẽ sống lại từ cõi chết. Chúa cũng bảo với họ mấy điều vô cùng quan trọng về niềm hy vọng, niềm vui lớn sẽ đến này:
Ta ra từ Cha mà đến thế gian; nay ta lìa bỏ thế gian mà về cùng Cha. (16:28). Thế gian này không phải là duy nhất nhưng chỉ là nơi tạm. Có một nơi thuộc về Cha, ĐCT vĩnh viễn, trường cửu, đời đời.
Nầy, giờ đến, đã đến rồi, là khi các ngươi sẽ tản lạc, ai đi đường nấy, và để ta lại một mình; nhưng ta không ở một mình, vì Cha ở cùng ta. (16:32). Chúa một mình, nhưng không cô độc vì Cha ở cùng Ngài. Dù trong đám đông một người vẫn có thể cảm thấy cô độc, lẽ loi nhưng khi biết có người yêu thương mình thì dù một mình nhưng vẫn không cô độc. Có Chúa ở cùng là một an ủi to lớn biết bao.
Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! (16:33). Chúa không hứa người tin Ngài sẽ không có hoạn nạn trong đời sống nhưng Ngài hứa rằng chiến thắng rồi sẽ thuộc về họ. Sự vững lòng không chỉ vì biết có người luôn bên mình nhưng còn vì người đó chắc sẽ giúp mình thắng cuộc.
Có người nói: “nếu khám phá ra chúng ta chỉ còn 5 phút để nói tất cả mọi điều chúng ta cần nói, thì mọi điện thoại đều sẽ bận rộn với lời của người này nói với người kia rằng họ yêu thương nhau”. Thập tự giá nói với chúng ta ĐCT yêu thương chúng ta trọn vẹn và thủy chung. Thập tự giá cho chúng ta biết Chúa đã chuộc tội cho tôi và bạn rồi và chúng ta có thể sống một cuộc đời mới vui mừng trong Ngài.
Nhưng niềm vui to lớn hơn hết là niềm vui trong hy vọng về sự sống lại. À một ngày nào đó khi lìa đời này chúng ta sẽ gặp lại những người thân yêu trên nước thiên đàng phước hạnh, nơi không còn có khóc than, đau khổ, không còn bệnh tật, oán thù, chiến tranh, nhưng là nơi ĐCJC về cùng Cha.
[Câu chuyện của bé Philip – đã kể nhưng đáng để lập lại]
NIỀM VUI TRONG HY VỌNG SỐNG LẠI
Ngoại trừ những người vô thần không tin có cuộc đời sau, mọi dân tộc, tôn giáo đều nói về đời sống sau. Nếu không người ta đã không đốt cúng tiền giấy, xe nhà giấy, cúng thức ăn cho người đã chết. Nếu không thì các vua chúa ngày xưa đã không giết kẻ hầu người hạ hay làm những tượng đúc hay để vòng vàng trong mồ. Hy vọng về đời sau không phải chỉ là hy vọng của người tin Chúa nhưng là khao khát mạnh mẽ, sâu kín của mọi tâm hồn. Nếu không có đời sau thì làm sao với những bất công trong xã hội hôm nay, làm sao với kẻ ác sống phè phởn, người lành chịu khổ đau?
Dù bằng chứng về sự sống lại của ĐCJC rất mạnh mẽ và tôi đã chia sẽ cùng hội thánh. Trong bài giảng này tôi chỉ muốn về lòng mong ước như bằng chứng của đức tin về sự sống lại. Tại sao mỗi người chúng ta đều có những khao khát, mong mỏi về một đời sống thứ hai sau khi chết? Nếu con người là sản phẩm vật chất thì ước vọng đó đến từ đâu?
Có người nói ước mơ, niềm tin vào sự sống lại chẳng qua chỉ là sự chạy trốn thực tế. Tất cả tùy theo điều chúng ta chạy trốn. Người giàu có, đầy đủ muốn cuộc đời này tồn tại vĩnh viễn. Nhưng có ai bất hạnh, thiếu thốn lại không muốn chạy trốn hoàn cảnh đang sống? Thế giới có hàng triệu người tị nạn, bỏ quê hương chạy trốn đến một nơi khác hy vọng bình an hơn, phước hạnh hơn, đầy đủ hơn. Ma quỉ muốn chúng ta nghĩ về bánh là điều duy nhất cần thiết cho đời sống nhưng ĐCT đặt trong lòng con người ước muốn về lời Chúa, về thế giới đời sau.
Khi ĐCJC sống lại Ngài ăn chung cùng các môn đồ để cho họ biết rằng đã thật sự sống lại trong thể xác, chứ không phải chỉ bằng hồn linh. Dù trong thân xác cũ Chúa mang với Ngài dấu đinh đóng trên tay và giáo đâm nơi hông. Tại sao Ngài lại chọn mang những dấu đau này? Để cho chúng ta biết rằng khi sống trên đất trong hình hài con người chính Chúa cũng chịu khổ đau. Để bày tỏ sự cảm thông, tình yêu thương. Nhưng những dấu này còn là biểu tượng của đời sống trên đất này, khổ đau, bất công, xấu xí, chết chóc. Biểu tượng này nhắc chúng ta rằng thân xác yếu đuối, bệnh tật này rồi sẽ được biến hóa khi sống lại. Mọi sự rồi sẽ thay đổi, nên mới khởi đầu với sự sống lại của ĐCJC sau sự chết trên thập giá.
Và nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình. Vậy, những kẻ ngủ trong Đấng Christ cũng phải hư mất đời đời. Nếu chúng ta chỉ có sự trông cậy trong Đấng Christ về đời nầy mà thôi, thì trong cả mọi người, chúng ta là kẻ khốn nạn hơn hết. (1 Cô-rinh-tô 15:17-19)
Little Philip, born with Down's syndrome, attended a third-grade Sunday School class with several eight-year-old boys and girls. Typical of that age, the children did not readily accept Philip with his differences, according to an article in leadership magazine. But because of a creative teacher, they began to care about Philip and accept him as part of the group, though not fully.
The Sunday after Easter the teacher brought L'eggs pantyhose containers, the kind that look like large eggs. Each receiving one, the children were told to go outside on that lovely spring day, find some symbol for new life, and put it in the egg-like container. Back in the classroom, they would share their new-life symbols, opening the containers one by one in surprise fashion. After running about the church property in wild confusion, the students returned to the classroom and placed the containers on the table. Surrounded by the children, the teacher began to open them one by one. After each one, whether a flower, butterfly, or leaf, the class would ooh and ahh.
Then one was opened, revealing nothing inside. The children exclaimed, That's stupid. That's not fair. Somebody didn't do their assignment."
Philip spoke up, "That's mine."
"Philip, you don't ever do things right!" the student retorted. "There's nothing there!"
"I did so do it," Philip insisted. "I did do it. It's empty. the tomb was empty!"
Silence followed. From then on Philip became a full member of the class. He died not long afterward from an infection most normal children would have shrugged off. At the funeral this class of eight-year-olds marched up to the altar not with flowers, but with their Sunday school teacher, each to lay on it an empty pantyhose egg.
