Một khủng hoảng (crisis) trầm trọng trong xã hội HK là con cái lớn lên trong nhà không cha hay không hề có trách nhiệm với vợ con. Vài chi tiết:
• 63% of youth suicides are from fatherless homes (US Dept. Of Health/Census) – 5 times the average.
• 90% of all homeless and runaway children are from fatherless homes – 32 times the average.
• 85% of all children who show behavior disorders come from fatherless homes – 20 times the average. (Center for Disease Control)
• 80% of rapists with anger problems come from fatherless homes –14 times the average. (Justice & Behavior, Vol 14, p. 403-26)
• 71% of all high school dropouts come from fatherless homes – 9 times the average. (National Principals Association Report)
# 85% of youth who are currently in prison grew up in a fatherless home. (Texas Department of Corrections)
# 7 out of every 10 youth that are housed in state-operated correctional facilities, including detention and residential treatment, come from a fatherless home. (U.S. Department of Justice)
# 39% of students in the United States, from the first grade to their senior year of high school, do not have a father at home. Children without a father are 4 times more likely to be living in poverty than children with a father. (National Public Radio)
#4. Children from fatherless homes are twice as likely to drop out from school before graduating than children who have a father in their lives. (National Public Radio)
#5. 24.7 million children in the United States live in a home where their biological father is not present. That equates to 1 in every 3 children in the United States not having access to their father. (National Public Radio)
#6. Girls who live in a fatherless home have a 100% higher risk of suffering from obesity than girls who have their father present. Teen girls from fatherless homes are also 4 times more likely to become mothers before the age of 20. (National Public Radio)
#7. 57% of the fatherless homes in the United States involved African-American/Black households. Hispanic households have a 31% fatherless rate, while Caucasian/White households have a 20% fatherless rate. (National Public Radio)
#8. In 2011, 44% of children in homes headed by a single mother were living in poverty. Just 12% of children in married-couple families were living in poverty. (U.S. Census Bureau)
#9. Children who live in a single-parent home are more than 2 times more likely to commit suicide than children in a two-parent home. (The Lancet)
#10. 72% of Americans believe that a fatherless home is the most significant social problem and family problem that is facing their country. (National Center for Fathering)
Cảm tạ Chúa vì dù những người con lớn lên không cha nhưng khi tin Chúa sẽ được ĐCT làm Cha và được nhận làm con cái Ngài. Không một tôn giáo nào mà quan hệ giữa người tin và Đấng họ tin được so sánh như quan hệ cha con. Bài cầu nguyện chung bắt đầu với lời: Lạy Cha chúng con ở trên trời. Và trong suốt bài cầu nguyện đó ĐCT được gọi là Cha.
Sứ đồ Phao-lô viết trong Rô-ma 8: Thật anh em đã chẳng nhận lấy thần trí của tôi mọi đặng còn ở trong sự sợ hãi; nhưng đã nhận lấy thần trí của sự làm con nuôi, và nhờ đó chúng ta kêu rằng: A-ba! Cha! 16 Chính Đức Thánh Linh làm chứng cho lòng chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời (Rô-ma 8:15-16).
Hay như trong Ga-la-ti: Như vậy, bởi đức tin tất cả anh chị em đều là con Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế Giê-su. Vì anh chị em là con nên Đức Chúa Trời sai Thánh Linh của Con Ngài ngự vào lòng chúng ta và kêu lên: A-ba, Cha ơi! 7 Như vậy, nhờ ơn Đức Chúa Trời anh chị em không còn là nô lệ nữa mà là con, nếu đã là con thì cũng là người thừa kế. (Ga-la-ti 3:26; 4:6-7- BM
Một đặc điểm quan trọng nhất về ĐCT: Ngài là lẽ thật; trong Chúa không hề có sự lừa dối. Giữa 3 ngôi ĐCT: ĐCCha, ĐCJC, và ĐTL từ đời đời cho đến đời đời không hề có sự lừa dối nhau; trái lại 3 ngôi đối với nhau hoàn toàn trong lẽ thật vì ĐCT là lẽ thật, là chân lý. Tương phản với sự thật là gì? Là sự dối trá. KT cho chúng ta biết chính Sa-tan là cha của mọi lừa dối (father of all lies) Ngay từ đầu nó đã là kẻ giết người, và không đứng trong chân lý vì chân lý không ở trong nó. Khi nó nói dối thì nói theo bản tính của mình, vì nó là kẻ nói dối và là cha của sự nói dối. (Giăng 8:44)
ĐCT là cha, một người cha hoàn toàn chân thật, không hề có sự thay đổi, lừa dối: Thưa anh em yêu dấu của tôi, đừng để bị lừa dối: 17Mọi ơn lành tốt đẹp và tặng phẩm toàn hảo đều đến từ thiên thượng, được ban xuống từ Cha của sự sáng; trong Ngài không có sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự chuyển dịch. (Gia-cơ 1:17 – BHĐ)
Chỉ lý do này cũng đủ để dạy những người cha trong Chúa phải sống trung thực, không giả dối, hai mặt, không đạo đức giả: nói một đàng nhưng lại làm một nẽo; trong gia đình sống một cách, ra ngoài xã hội lại sống cách khác, trong hội thánh ăn nói, cư xử rất chuẩn chu nhưng nơi làm việc lại dùng từ ngữ không khác gì người đời.
Trong cuộc sống, chúng ta cần những người sống thật. Ví dụ: người sửa xe, người bán xe, dealer, bác sĩ, nha sĩ. Phẩm tính quan trọng nhất của người dạy lời Chúa là gì nếu không phải là lẽ thật. Khi tín hữu nhìn lên bục giảng chỉ thấy một người hai mặt, đạo đức giả thì chắc chắn mọi tai, mọi lòng đều đóng kín lại!
Trong gia đình cũng vậy, cha phải sống thật, nói thật với vợ và các con mình. Vợ chồng không tin nhau thì làm sao chung sống được, nói chi đến hạnh phúc. Ví dụ: người thanh niên bắt gặp quả tang vợ ngoại tình trong phòng ngủ chỉ muốn đi thật xa, dù đi đâu cũng được!
Bài giảng này không phải từ kinh nghiệm của một người cha toàn hảo, gương mẫu không lầm lỗi, không có lần nói dối hay không sống thật với vợ và các con. Trái lại đây là lời tâm tình của một người cha, như bao nhiêu người cha khác, phạm nhiều lỗi lầm trong việc dạy dỗ con mình. Có khác chăng là người cha đó chủ ý lắng nghe, tìm hiểu, suy gẫm về lời Chúa và chấp nhận, làm theo những điều dạy dỗ, nhắc nhở, cáo trách để làm theo và thay đổi.
CN xác định sự cần thiết và ơn phước cho các con khi một người sống thành thực: Người công chính sống trong thành thực; Con cái đến sau họ sẽ được phước. (CN 20:7 – BDM). 7Người công bình ăn ở cách thanh liêm; Những con cháu người lấy làm có phước thay! (BTT) 7Người công chính ăn ở cách thanh liêm; Con cháu người ấy thật có phước! (BHĐ) 7Người ngay lành bước đi cách liêm khiết, phước hạnh thay cho con cháu biết nối bước theo sau. (BD2011) 7Người công chính sống đời ngay thẳng, là nguồn phước cho con cái. (BPT).
Một câu KT rất ý nghĩa. Một học giả KT giải thích câu KT này: Di sản tốt nhất của người làm cha. Câu này dạy phải tránh sự cám dỗ của người cha làm mọi việc bằng mọi giá cho con mình (get on at all costs for the children’s sake). Ý chính của câu KT này áp dụng thế nào đến người làm cha? Cha phải sống thành thực, sống thật, không hai mặt, không giả dối, đạo đức giả. Nếu cha sống thành thực, con cái đến sau họ sẽ được phước.
Trong tất cả các sách/thư TU thư 1 Tê-sa có một cụm từ nhiều hơn tất cả (ít nhất 10 lần): anh em biết rõ. Trước khi tìm hiểu các đoạn KT đó, tôi xin được giải thích về bối cảnh của thư 1 Tê:
Một điều quan trọng cần nhớ là PL chưa bao giờ đặt chân đến xứ Ma-xê-đoan nói chi đến thành phố Tê. Phong tục tập quán, cách sống, xã hội văn hóa hoàn toàn xa lạ. Vậy đó mà PL có thể hòa nhập và gần gũi với các tín hữu HT. Điều này cũng không khác mấy khoảng cách về xã hội giữa cha mẹ và con cái hôm nay, từ ngôn ngữ, phong tục tập quán cho đến văn hóa xã hội, chưa nói đến ảnh hưởng của học đường, bè bạn đối với các con mình.
Tê thuộc xứ Ma-xê-đoan (xem bản đồ). Trong chuyến truyền giáo II, PL đến xứ Ma-xê-đoan giảng TL theo một khải tượng ban đêm. Đầu tiên đến thành Phi-líp; Ly-đi: phụ nữ bán hàng tía tin Chúa và mời PL cùng phái đoàn ở nhà bà. Bị chống đối, vu oan, bị bắt bỏ tù, bị đánh đòn. Sau khi rời thành Phi-líp, PL đến thành Tê-sa-lô-ni-ca (bản đồ) Một số người trong họ được thuyết phục đi theo Phao-lô và Si-la; cũng có rất nhiều người Hi Lạp vốn thờ kính Đức Chúa Trời, và không ít phụ nữ thuộc giới thượng lưu tin Chúa nữa. 5Nhưng các người Do Thái ghen ghét, rủ bọn côn đồ ngoài đường phố, tập hợp đám đông và gây rối loạn trong thành (CV 17:4-5).
CV 17:2 cho biết PL giảng tại nhà hội liên tục 3 tuần lễ. Nhưng theo nội dung thơ, chắc P L phai ở lại lâu hơn vì ông nhận sự trợ giúp từ HT Phi-líp và phải làm việc cực nhọc để kiếm sống: Thưa anh em, hẳn anh em còn nhớ nỗi lao nhọc và vất vả của chúng tôi; trong khi rao giảng Tin Lành cho anh em, chúng tôi làm việc ngày đêm để không trở thành gánh nặng cho một ai trong anh em. (2:9). Có thể vài ba tháng, một thời gian ngắn so với thời gian tại Cô-rinh-tô 18 tháng!
Dù chỉ ở tại Tê một thời gian ngắn (3 tuần – 3 tháng!) PL thiết lập HT và sau đó viết 2 lá thư gửi cho HT. Một điều hết sức ngạc nhiên là dù chỉ 1 thời gian ngắn, tín hữu HT Tê biết rõ về PL như đã viết trong thư: họ biết PL sống thật, không giả dối, hai mặt.
1) Anh em biết rõ khi còn ở giữa anh em, chúng tôi đã sống vì anh em như thế nào. (1:5);
2-3) chính anh em biết rằng việc chúng tôi đến thăm anh em không phải là vô ích. 2Nhưng như anh em biết, dù đã chịu đau khổ và sỉ nhục tại Phi-líp, chúng tôi vẫn mạnh dạn trong Đức Chúa Trời để rao truyền cho anh em Tin Lành của Đức Chúa Trời giữa nhiều chống đối. (2:1-2);
4) Như anh em biết, và có Đức Chúa Trời chứng giám, chúng tôi không bao giờ dùng những lời dua nịnh, hoặc vì động cơ tư lợi mà làm (2:5);
5) Thưa anh em, hẳn anh em còn nhớ nỗi lao nhọc và vất vả của chúng tôi; trong khi rao giảng Tin Lành cho anh em, chúng tôi làm việc ngày đêm để không trở thành gánh nặng cho một ai trong anh em. (2:9)
6) Anh em làm chứng, và Đức Chúa Trời cũng chứng giám rằng đối với anh em là những tín hữu, chúng tôi đã cư xử cách thanh sạch, công chính và không có gì đáng trách. (2:10)
7) Anh em cũng biết, chúng tôi đã đối xử với từng người trong anh em như cha đối với con, 12khích lệ, an ủi, và khuyên nài anh em sống một cách xứng đáng với Đức Chúa Trời, là Đấng gọi anh em vào vương quốc và vinh quang của Ngài. (2:11);
8) vì chính anh em đã biết ấy là điều đã định trước cho chúng ta. (3:3);
9) Vì anh em biết những giáo huấn nào mà chúng tôi đã nhân danh Chúa là Đức Chúa Jêsus truyền cho anh em. (4:2);
10) vì chính anh em biết rõ rằng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm vậy. (5:2)
Khi PL viết như anh em biết trong các câu KT này, chỉ 5:2 nói về sự biết qua kiến thức, biết nhờ nghe, học, đọc, hay nghe nói lại, kể lại. 7 câu kia đều hàm ý các tín đồ tại HT Tê-sa-lô-ni-ca biết vì chính mắt họ thấy, chính tai họ nghe, biết không phải qua kiến thức nhưng qua kinh nghiệm bởi sự giao tiếp gần gũi. Không phải gần gũi trong một vài giờ thậm chí vài ngày nhưng biết chắc sau một thời gian tiếp cận, chung sống, biết sau một thời gian quan sát, tìm hiểu, nhận xét rồi đưa đến kết luận.
PHAO-LÔ SỐNG THẬT VỚI CÁC TÍN HỮU HỘI THÁNH TÊ-SA-LÔ-NI-CA
Quan hệ cá nhân mật thiết giữa PL và tín hữu HT, giữa cha và các con mình
Anh em biết rõ khi còn ở giữa anh em, chúng tôi đã sống vì anh em như thế nào (1:5)
Như anh em biết, và có Đức Chúa Trời chứng giám, chúng tôi không bao giờ dùng những lời dua nịnh, hoặc vì động cơ tư lợi mà làm (2:5)
Tín đồ HT thấy tận mắt hành động, thái độ, cách cư xử, ăn nói của PL, chứ không qua lời kể từ những người khác. Nghe tận tai lời dạy của PL. Có thể trực tiếp so sánh giữa lời nói, lời dạy và đời sống hàng ngày, cách cư xử của PL. PL có sống hai mặt hay không?
PL muốn nói đến quan hệ cá nhân mật thiết, gần gũi đến nỗi HT Tê đều biết rõ về tư cách, phẩm tính, cách cư xử, nếp sống của PL không chỉ với họ mà với tất cả mọi người, dù là người trong hay ngoài HT.
Ấn tượng, kỷ niệm, danh dự
Anh em làm chứng, và Đức Chúa Trời cũng chứng giám rằng đối với anh em là những tín hữu, chúng tôi đã cư xử cách thanh sạch, công chính và không có gì đáng trách. (2:10)
Quan hệ giữa người chồng với vợ mình có thật hay không? Có chung thủy, thật sự yêu thương…? Các con nhận xét và sẽ biết rõ!
