Sống Lại Với Chúa Jêsus – Cô-lô-se 3:1-4
Vậy nếu anh em được sống lại với Đấng Christ, hăy tìm các sự ở trên trời, là nơi Đấng Christ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. (Cô-lô-se 3:1)
TIN GÌ VỀ SỰ CHÚA SỐNG LẠI?
Giữa hai thành phố lớn nhất của tiểu bang CA là Los Angeles và San Francisco, thuộc county San Luis Obispo là một công trình kiến trúc có một không hai trong thế kỷ thứ 20: khu dinh thự Hearst hay Hearst Castle. Khu dinh thự này thuộc nhà tỉ phú William Hearst, tổng cộng trên 90,000 sq ft hoàn tất năm 1919 với ngôi nhà chính với diện tích trên 60,000 sq ft. Hiện được mở ra như một thắng cảnh của CA để mọi người có thể đến thăm viếng. Một điều kiện khi nhà tỉ phú Hearst còn sống trong khu dinh thự này. Hễ ai phạm điều kiện này sẽ bị đuổi ra khỏi lập tức và không bao giờ được trở lại, dù để thăm viếng. Điều kiện đó là không bao giờ được nói đến từ chết, hay nói về sự chết khi nhà tỉ phú Hearst hiện diện. Bằng mọi cách ông tránh nghe đến sự chết và nghĩ về sự chết.
Nhưng dù tránh đến mất thì không ai có thể thoát được sự chết. Hai điều tất yếu trong đời sống không ai có thể tránh được: sự chết và thuế má. Đối với người tin Chúa thì nếu Chúa Jêsus đã không thật sự chết trong mồ tối thì sự sống lại của Ngài cũng có gì là ý nghĩa, giá trị. Nếu Jêsus đã không chết thì sự sống lại của Ngài cũng chỉ là điều bịa đặt, giả dối từ đạo Chúa.
[2a] Điều chính yếu tôi muốn chia xẻ với anh chị em sáng Phục Sinh hôm nay là về quyền năng thay đổi đời sống của sự Chúa sống lại. Sự Chúa sống lại là một sự thật trong lịch sử; đây là điều đáng tin. [2b] Nhưng sự Chúa sống lại không chỉ là một sự thật đáng tin nhưng còn là một kinh nghiệm thay đổi đời sống. Và chính bởi điều này mà hằng tỉ người trên khắp năm châu bốn bể kỷ niệm Phục Sinh buổi sáng nay.
Nếu Jêsus đã không sống lại thì Ngài chỉ để lại những lời dạy như các nhà lãnh đạo tôn giáo như Phật, các thông thái, triết gia, học giả như Khổng Tử, Lão Tử, như Aristotle hay Plato. Chúng ta không thể trò chuyện cùng Ngài và Ngài cũng không thể trò chuyện cùng chúng ta. Chúa cũng không thể là một nguồn sống đến ngự vào lòng tôi và quí vị để thay đổi cuộc đời chúng ta. Và đạo Chúa cũng chẳng khác gì với những tôn giáo khác, cũng chỉ là một tôn giáo không sự sống, tôn giáo thờ đấng chết.
Chính bởi vì Jêsus đã thật sự sống lại nên chúng ta mới có thể kinh nghiệm được quyền năng của ĐTL trong đời sống mỗi ngày. Chúng ta mới có thể trò chuyện và tương giao cùng Chúa mỗi ngày. Mới nhận biết được sự hiện diện của ĐCT trong đời sống chính mình và bàn tay của Ngài trong những diễn tiến chung quanh.
Một mục sư kể lại một câu chuyện của một người Hồi Giáo tin Chúa. Vài người bạn hỏi ông tại sao lại tin Chúa, ông trả lời: Như thế này. Giả sử anh đang đi trên đường, thình lình con đường đó tẻ làm hai nhánh, hai hướng, hai đường. Anh đang phân vân không biết chọn con đường nào thì có thấy có hai người: một sống, một chết. Anh sẽ hỏi người nào về con đường để đi? Đối với người tin Chúa, tin vào sự sống lại của Chúa Jêsus thì chúng ta biết chắc chắn rằng giữa những ngả rẽ của đường đi trong đời sống, chúng ta sẽ có một Đấng Sống để tham vấn.
Sáng nay tôi muốn hỏi anh chị em: Quí vị tin gì về sự sống lại (phục sinh) của Chúa Jêsus? Quí vị có tin phục sinh là một sự thật; hay chỉ tin phục sinh là một sự thật? Hay tin rằng sự sống lại của Jêsus có quyền năng thay đổi đời sống tôi. [2c] Hơn thế nữa anh chị em có bao giờ kinh nghiệm được sự thay đổi đó hay không? Niềm tin của người Cơ đốc (Christian) không phải chỉ thuần kiến thức hay thuần cảm xúc nhưng đòi hỏi cả hai. Chính vì vậy KT dạy chúng ta yêu mến ĐCT với hết linh hồn, sức lực, trí tuệ.
[3] Câu KT chủ đề cho Phục Sinh năm nay nói lên kinh nghiệm lạ lùng đó: Vậy nếu anh em được sống lại với Đấng Christ, hăy tìm các sự ở trên trời, là nơi Đấng Christ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Hăy ham mến các sự ở trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất; vì anh em đă chết, sự sống mình đă giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời. Khi nào Đấng Christ, là sự sống của anh em, sẽ hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển. (Cô-lô-se 3:1-4)
[3a] SỰ CHÚA SỐNG LẠI QUA MẮT CỦA NGƯỜI YÊU CHÚA
[3b] Câu chuyện trong Giăng 1:1-20 đã được đọc là một câu chuyện rất ý nghĩa và cảm động về sự Chúa sống lại. Đây cũng là câu chuyện Phục Sinh tôi yêu thích nhất. Chuyện được viết bởi một môn đồ mà ĐCJC yêu mến hơn hết, là sứ đồ Giăng. Và khác với 3 sách Phúc Âm Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca, chuyện chỉ ghi lại một trong 3 người phụ nữ đến viếng mồ Chúa khi trời còn tờ mờ sáng ngày Chúa nhật đầu tuần. [3c] Người phụ nữ đó tên là Ma-ri Ma-đơ-len. Bà là ai? Là một người đàn bà bị 7 quỉ ám. Cuộc đời trước đó đau khổ lắm vì mọi người nghĩ rằng đây là người tội nặng bị ĐCT phạt nên mới bị ma quỉ ám. Bà được Chúa Jêsus đuổi quỉ, chửa lành. Từ đó bà theo Chúa và các môn đồ khi Ngài giảng đạo.
[4-5] Chúng ta cùng nhau đọc lại một phần của đoạn KT về câu chuyện phục sinh theo Giăng 20:1-18
Có một điều gì đó nhân từ, hiền lành, cảm thông từ Chúa mà rất nhiều phụ nữ trong KT đến với Chúa. Người phụ nữ Sa-ma-ri có 5 đời chồng; người phụ nữ phạm tội tà dâm; Ma-ri Mađơlen; người phụ nữ xấu nết xức thuốc thơm trên chân Chúa rồi lấy tóc lau chân Ngài; chị em Mari và Mathê.
Sau khi đến mộ không thấy hòn đá trước mồ, Ma-ri Ma-đơ-len chạy về báo cho Phierơ và các sứ đồ khác. Bà nghĩ rằng có ai đó đã cướp lấy xác Jêsus khỏi mồ: Vậy, người chạy tìm Si-môn Phi -e-rơ và môn đồ khác, là người Đức Chúa Jêsus yêu, mà nói rằng: Người ta đă dời Chúa khỏi mộ, chẳng hay để Ngài ở tại đâu. (20:2) Bà không hề nghĩ đến việc Chúa sống lại.
Tôi có một câu đố cho quí vị: Ai là người đầu tiên được thấy Chúa sống lại? Và ai là người đầu tiên chia xẻ (giảng) về sự sống lại của Chúa Jêsus? Câu trả lời: Ma-ri Mác-đơ-len, người đàn bà đã một lần bị 7 quỉ ám, là người đầu tiên nhìn thấy Chúa sau khi Ngài sống lại và cũng là người đầu tiên chia xẻ (giảng) về sự sống lại của Jêsus cùng các sứ đồ. [6] Theo Giăng 20:18: Ma-ri Ma-đơ-len đi rao bảo cho môn đồ rằng mình đă thấy Chúa (I have seen the Lord), và Ngài đă phán cùng mình những điều đó.
Trong thời đó phụ nữ không được xem trọng dưới mắt nam giới. Ngay hôm nay tại các xứ Hồi Giáo vùng Trung Đông phụ nữ chỉ có giá trị ½ nam giới! Đặc biệt phụ nữ như Ma-ri Ma-đơ-len bị xem như đã phạm tội nặng nên phải bị trừng phạt bởi 7 quỉ. Ai có thể tưởng Chúa lại hiện ra đầu tiên cho MM và rằng tin mừng về sự sống lại của Chúa Jêsus lại được một phụ nữ hèn mọn như bà rao giảng đầu tiên?
[7] Với người đờn bà xấu nết xức thuốc thơm trên chân, Chúa nói thế này: Vậy nên ta nói cùng ngươi, tội lỗi đờn bà nầy nhiều lắm, đă được tha hết, vì người đă yêu mến nhiều; song kẻ được tha ít thì yêu mến ít. (Lu-ca 7:47) Kinh nghiệm được Chúa thay đổi đời sống chỉ bắt đầu khi mỗi chúng ta biết rõ rằng mình có tội và được Chúa Jêsus tha thứ tội sau khi tin nhận Ngài. Nữ giới, phụ nữ cũng không phải là công dân hạng nhì dưới mắt Chúa và trong nước Trời. Chính ĐCT đã chọn để một phụ nữ nhìn thấy lần đầu tiên khi Chúa Jêsus sống lại và chọn bà để chia xẻ về sự sống lại đó cùng các sứ đồ.
Cũng theo câu chuyện phục sinh trong Giăng 1:1-20 dù sau khi Phierơ và Giăng đến mồ, thấy ngôi mồ trống, rồi chạy về nhà thì Ma-ri vẫn ở lại trước mồ mà khóc. Tại sao bà không cùng hai môn đồ về nhà mà ở lại mồ mà khóc? Vì bà yêu mến thầy mình là Jêsus. Buồn vì không biết xác thầy mình bị ai lấy mất. Sự buồn phiền của bà bấy giờ là sự buồn phiền từ lòng yêu thương Jêsus, người đã cứu bà, giải thoát bà khỏi một đời sống đen tối. Tình thương này gắn liền với kinh nghiệm của chính đời bà.
Khi chúng ta chỉ có đức tin với kiến thức thì đức tin đó chẳng có giá trị bao nhiêu. Chỉ khi kinh nghiệm được tình yêu thương của Chúa thì đức tin mới thật sự trở nên một phần rất thật của đời sống. Tin tưởng là tin chỉ với sự hiểu biết, kiến thức; nhưng tin yêu là niềm tin có rễ sâu trong tình yêu thương như Ma-ri Ma-đơ-len đã yêu và tin Chúa.
Cả Phierơ và Giăng đều tin Chúa nhưng chưa cảm nhận được tình yêu thương như Mari vì cuộc đời họ chưa được Chúa thay đổi như cuộc đời của Mari. Khi thấy ngôi mồ trống, họ có lẽ đã tin vào lời Chúa dạy rằng Ngài sẽ sống lại vào ngày thứ ba. Nhưng niềm tin đó chưa đủ để giữ họ lại, giữ lại để tìm cho được xác thầy. Nhưng chính tin yêu đã giữ Mari ở lại mồ để hỏi cho ra về xác Jêsus. Hai lần được hỏi: tại sao ngươi khóc. Hai lần bà trả lời: xin nói cho ta biết ngươi để Ngài đâu, thì ta sẽ đến mà lấy (20:15).
Ai cho một phụ nữ không phải là thân quyến lấy xác người chết? Làm sao bà khiên nổi xác Chúa? Bộ bà không sợ khi thấy xác chết của Jêsus hay sao? Tôi nghĩ Giăng, trong các tác giả phúc âm, hiểu rõ hơn ai hết về tâm trạng của Mari Ma-đơ-len, của một người được Chúa yêu vì chính ông cũng là người được Chúa Jêsus yêu mến hơn các môn đồ khác. Vì vậy ông ghi lại câu chuyện này.
[8-9] Một bài giảng cách đây hơn 100 năm của MS Paul Moody có lời sau đây: Chúng ta biết rõ rằng chúng ta được trang bị và có khả năng hơn Mari, vì chúng ta có nhiều kiến thức hơn bà về sự Chúa sống lại. Nhưng trên môi miệng chúng ta những lời về phục sinh dường như trống rỗng. Chúng ta khẳng định đã thấy Chúa nhưng không có một sứ điệp như Mari khiến chúng ta ra đi nói về tin vui mừng lớn này cho người khác. Lý do là vì chúng ta chưa bao giờ thấy Chúa qua cặp mắt của tình yêu thương. Chúng ta chưa yêu thương Chúa đủ. Chính tình yêu thương là điều đầu tiên mở cái khóa về sự thật Chúa sống lại. Chính tình yêu thương là sức mạnh thúc dục Mari và cũng là sự ủy quyền của bà.
Tình yêu thương hơn cả đức tin và hy vọng là vậy đó.
[10] SỰ SỐNG LẠI QUA MẮT CỦA NGƯỜI CHÚA ĐỔI ĐỜI
[10a] Đoạn KT chủ đề Phục Sinh năm nay được viết bởi một người tên Phao-lô. Chúng ta có thể xem PL như một môn đồ “sinh muộn” vì ông tin Chúa trong một hoàn cảnh rất khác biệt. Tin Chúa khi trên đường đi tìm bắt những người tin Chúa!
Sứ đồ Phao-lô không có mặt tại ngôi mồ trống trong buổi sáng Chúa nhật đầu tiên khi Chúa sống lại. Nhưng chính mắt ông đã thấy Chúa Jêsus khi Ngài hiện ra cùng ông trên đường Đa-mác. Phao-lô nghe về sự sống lại và cũng đã chính mắt thấy Chúa. [10b-c] Nhưng khi thấy Chúa ông vẫn còn là người không tin Chúa. Dù lúc bấy giờ mắt thấy nhưng lòng vẫn chưa tin, mãi cho đến vài ngày sau đó khi mắt bị mù.
Có người trong quí vị nói rằng nếu Chúa hiện ra cho tôi, tôi sẽ tin. Tôi nói với quí vị: khi mắt này của Phao-lô mù lòa thì mắt tâm linh của ông mới bắt đầu thấy Chúa. Sự sống lại của Chúa không phải để thuyết phục người ta tin Chúa, dù đó là phép lạ không tiền khoán hậu. Nhưng để thay đổi cuộc đời của người tin Ngài.
Từ những người hèn nhát bỏ trốn khi Jêsus bị bắt, các môn đồ trở nên can đảm lạ lùng. Họ đi khắp nơi để nói về Jêsus và sự cứu chuộc tội lỗi, về sự chịu chết và sự sống lại. Họ chấp nhận những bắt bớ, tù đày, thậm chí cái chết. Sau khi họ biết Chúa Jêsus đã sống lại.
Dr. George Sweeting tells of an incident in the early 1920s when Communist leader Nikolai Bukharin was sent from Moscow to Kiev to address an anti-God rally. For an hour he abused and ridiculed the Christian faith until it seemed as if the whole structure of belief was in ruins. Then questions were invited. An Orthodox church priest rose and asked to speak. He turned, faced the people, and gave the Easter greeting, "He is risen!" Instantly the assembly rose to its feet and the reply came back loud and clear, "He is risen indeed!"
Những tín đồ này là những người chưa bao giờ thấy với chính mắt họ Jêsus sống lại. Nhưng đời sống của họ đã được sự sống lại của Chúa thay đổi. Vì vậy họ can đảm trước nguy hiểm. Đây là những người không chỉ biết, tin về sự Chúa sống lại nhưng chính họ cũng đã sống lại với Chúa Jêsus.
[11] Chúng ta cùng nhau đọc lại câu KT chủ đề của Phục Sinh năm nay viết bởi sứ đồ Phao-lô: Vậy nếu anh em được sống lại với Đấng Christ, hăy tìm các sự ở trên trời, là nơi Đấng Christ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Hăy ham mến các sự ở trên trời, đừng ham mến các sự ở dưới đất; vì anh em đă chết, sự sống mình đă giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời. Khi nào Đấng Christ, là sự sống của anh em, sẽ hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển. (Cô-lô-se 3:1-4)
Với những người không chỉ biết, tin vào sự sống lại của Chúa Jêsus nhưng cũng đã có kinh nghiệm thật sự sống lại với Đấng Christ thì sự suy nghĩ, hy vọng, mong ước của họ cũng sẽ thay đổi.
Mắt này của chúng ta chỉ nhìn thấy cảnh vật bên ngoài với một giới hạn theo tần số ánh sáng, khoảng cách xa gần, kích thước lớn nhỏ. Chúng ta không thấy được ánh sáng tử ngoại (ultraviolet) như loài dơi để có thể bay trong đêm tối. Cũng không thể thấy được vật ở quá xa, hay quá gần. Nhưng với kính viễn vọng chúng ta có thể thấy được những ngôi sao cách trái đất hằng ngàn năm ánh sáng. Hay với kính hiển vi thấy được những sinh vật sống đang chuyển động trong một giọt nước nhỏ.
Cũng vậy người đã thật sống lại với Đấng Christ có một đôi mắt thục linh nhìn thấy những điều mà trước đó không thấy được. Họ nhìn thấy sự sống đời đời. Thấy con đường hẹp dẫn đến sự sống phước hạnh và con đường rộng dẫn đến hư mất. Thấy rằng sắc đẹp, tiền của, dục vọng, điều mà PL gọi các sự ở dưới đất này rồi sẽ mất đi nhưng còn lại đời đời là đức tin trong Đấng đã sống lại, là phước hạnh đời đời trên thiên đàng.
PL nói rằng khi tin Chúa, con người cũ chúng ta đã chết. Sự sống mới chính là sự sống lại với Chúa Jêsus. Trong sự sống mới đó, ưu tiên sẽ thay đổi. Hy vọng thay đổi. Ước mơ thay đổi.
Một người lấy một bình lớn có miệng rộng, bỏ đá lớn đầy bình, rồi hỏi những người quan sát: “Bình đã đầy chưa?” Có người trả lời: “bình đầy đá rồi”. Người đổ đá hỏi lại: “đầy thật sao?” Rồi ông đổ theo những sỏi nhỏ vào bình. Sỏi rất vào các khe giữa những hòn đá lớn. Rồi ông hỏi: “Bình đã đầy chưa?” Người khác trả lời: “Đầy rồi!” Người đổ sỏi hỏi lại: “đầy thật sao?” Ông lấy cát đổ vào bình, cát xen kẻ giữa sỏi nhỏ và đá lớn. Lại hỏi: “Bình đầy chưa?” Một người khác đáp: “Có lẽ chưa!” Mọi người đều tò mò xem điều gì tới. Ông cầm một bình nước đổ vào bình.
Chúng ta lấp bình của đời mình với những vật chất đời này trước hết. Đến nỗi không còn chỗ cho những điều quan trọng, to lớn, vĩnh cửu như những hòn đá lớn.
Một mục sư có dịp đến xứ Italy và ở đó ông nhìn thấy mộ của một người đàn ông đã chết trước đó hằng trăm năm. Người chết là người không tin Chúa và đặc biệt ghét chuyện Chúa sống lại, cho đó là chuyện huyễn hoặc. Vì vậy ông dặn khi làm mộ phải để một hòn đá thật lớn, thật nặng trên hòm để bảm đảm xác không bao giờ được cất ra khỏi mộ. Chung quanh mộ người chết có những câu: Tôi không tin vào sự sống lại. Tôi không muốn được sống lại. Không ngờ khi ông được chôn thì có hột của một cây oak cũng rớt vào lòng đất. Trăm nay trôi qua, hột trở nên một cây cổ thụ vô cùng to lớn. Rễ cây làm vỡ cả hòn đá lớn chận trên hòm. Khi người mục sư nhìn thấy hình ảnh đó, ông nói: “Nếu một hột cây cổ thụ chỉ có sức sống như loài sinh vật mà còn làm vỡ hòn đá lớn như vậy, thì hột cây của sức mạnh của sự Chúa sống lại còn mạnh mẽ thế nào trong đời của người tin Ngài?”
Một số quí vị có những hòn đá lớn trong đời mình (hay có thể tự đặt lấy để chạy tránh Chúa) như sự sợ hãi Chúa sẽ lấy hết tài của nếu tin Ngài; tin Chúa không phải lẽ lắm; vẫn còn nhiều thời gian để suy nghĩ. Quyền năng của sự Chúa sống lại có thể giúp bạn thay đổi và đập vỡ những tảng đá lớn đó.
