Phước Cho Người Đọc Sách Này
Một số con cái Chúa khi đọc tựa bài giảng có thể đoán được sách tôi sẽ giảng là Khải Huyền. Dù tất cả 66 sách KT đều có ích lợi cho sự dạy dỗ người tin Chúa, nhưng chỉ có KH có một lời hứa cụ thể cho người đọc, nghe và làm theo lời dạy: Phước cho kẻ đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ theo điều đã viết ra đây. Vì thì giờ đã gần rồi. (KH 1:3)
Ít người biết hơn là sách KH gồm có 7 phước: 1) 1:3; 2) "Từ nay trở đi, phước cho những người chết là chết trong Chúa. (14:13); 3) Phước cho kẻ tỉnh thức và giữ gìn áo xống mình, đặng khỏi đi lõa lồ và người ta không thấy sự xấu hổ mình! (16:15); 4) Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con! (19:9); 5) Phước thay và thánh thay những kẻ được phần về sự sống lại thứ nhất! Sự chết thứ nhì không có quyền gì trên những người ấy; song những người ấy sẽ làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và của Đấng Christ, cùng sẽ trị vì với Ngài trong một ngàn năm. (20:6); 6) Phước thay cho kẻ nào giữ những lời tiên tri trong sách nầy! (22:7); 7) Phước thay cho những kẻ giặt áo mình đặng có phép đến nơi cây sự sống và bởi các cửa mà vào trong thành! (22:14)
Một câu chuyện kể về một người làm chứng cho người quen và cho anh ấy quyển KTTU để đọc. Vài tháng sau khi gặp lại, anh hỏi người quen đó nghĩ sau về KTTU. Người ấy trả lời: phần đầu kể cùng một câu chuyện 4 lần, nhưng phần cuối cùng đọc giống như khoa học giả tưởng hay truyện thần thoại. Phần cuối cùng của KTTU là sách KH.
Thật vậy ngay cả với nhiều tín đồ, KH cũng như một câu chuyện giả tưởng hay thần thoại. Khải Huyền là một trong các quyển sách khó hiểu và khó giải thích nhất trong 66 sách KT. KH đầy những hình ảnh, biểu tượng (symbols) lạ thường, kỳ dị như: biển thủy tinh, bốn sinh vật trước mặt và sau lưng đầy những mắt với 6 cánh; cuộn sách niêm phong bằng 7 ấn; 4 người cưỡi ngựa trắng, đỏ, đen, và xanh xao; ngựa với đầu như sư tử; cào cào đội mão vàng, mặt giống mặt người, tóc như đàn bà, răng như sư tử; người đàn bà mặc áo mặt trời, chân có mặt trăng, đầu đội mão 12 ngôi sao; rồng lớn màu đỏ với 7 đầu và 10 sừng; con thú 7 đầu, 10 sừng lên từ biển thân giống như báo, chân như gấu, miệng như sư tử...
KH chúng ta thường biết nhiều hơn là về hình ảnh ĐCJC đứng ngoài cửa gõ để vào ăn tối cùng người mở, về sự tái lâm của ĐCJC, về một trời mới đất mới nơi mà không còn có bệnh tật, khóc than, chết chóc, về sự phán xét cuối cùng khi cách sách mở ra gồm cả sách của sổ sự sống.
Không một sách nào trong KT gây sự tò mò, thu hút như KH. Dựa theo những chi tiết trong KH, từ xưa đến nay có biết bao nhiêu tiên đoán về ngày giờ ĐCJC tái lâm, giải thích về những điềm báo về ngày tận thế, về những diễn biến lịch sử, chính trị trên thế giới.
Năm 1997 MS Nguyễn Văn Bình, chủ tịch Giáo Hội Tinh Lành Âu Châu, xuất bản một quyển sách tựa là Những Điềm Báo về Ngày Tận Thế. Trong sách MS Bình dẫn chứng bao nhiêu sự kiện lịch sử xưa và nay để cho biết 11 điềm báo về ngày tận thế theo lời dạy của ĐCJC trong Ma-thi-ơ 24. Từ đó đến nay 22 năm đã qua còn biết bao nhiêu diễn biến trên thế giới có thể dùng để cập nhật hóa 11 điềm báo về ngày tận thế, như biến cố 11 tháng 9, sự nổi dậy của bọn khủng bố hồi giáo Al-Qaeda, Taliban, ISIS, cơn động đất năm 2011 tại Nhật Bản làm cho một trung tâm phát điện hạt nhân (nuclear plant) thiệt hại nặng nề làm ô nhiễm phóng xạ cả vùng, hay ngay cả vụ cháy rừng tại CA mấy tuần lễ qua. Mỗi ngày, mỗi giờ trên thế giới này đều có những tin tức mà có thể xem như dấu hiệu của ngày tận thế, nếu chúng ta chủ ý tìm kiếm.
Giáo phái Chứng Nhân Giê-hô-va đã tiên đoán ngày trở lại của ĐCJC bao nhiêu lần, đầu tiên 1874, 1878, 1881, 1910, 1914, 1918, 1925, 1975 và 1984. Một số người tiên đoán khi Người Chống Đấng Christ (AntiChrist) xuất hiện năm 1000, 1186, 1229, 1345, 1385... Ngay cả tiên phụ của phong trào Cải Cách TL (Reformation) cũng nghĩ rằng HTCGLM chính là the AntiChrist. Và HTCG cũng xem Martin Luther và những người trong phong trào cải cách tôn giáo là thuộc hạ của Sa-tan!
KH 16:12 viết về các vua phương đông. Đầu tiên đế quốc Ottaman của Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) được xem là vua phương đông. Sau đệ II thế chiến, đế quốc Ottaman mất, Nhật Bản được xem là vua phương đông, hôm nay vua phương đông là Trung Quốc. Hay về con thú dữ từ biển lên, hay người chống Đấng Christ (antiChrist) trong KH 13:1-10: đầu tiên là đại đến La-mã Caligula là người đặt hình mình trong đền thờ Giê-ru-sa-lem, rồi đến Nero, HTCGLM, Martin Luther, Hitler, Stalin, Mao, thậm chí tổng thống Obama, Putin, hay ISIS... Chúng ta không thể đọc, hiểu và giải thích KH căn cứ theo những sự kiện lịch sử đã, đang và sẽ xảy ra.
Mục đích của loạt bài giảng về KH trong nhiều tháng tới không phải để giúp qv giải thích tất cả những hình ảnh, biểu tượng lạ thường, hay hiểu biết hết những tiên tri về tương lai trong sách nhưng để qv có thể đọc, hiểu và áp dụng lời dạy trong sách. Tôi xác nhận đây là một sách rất khó và lời giải thích của tôi trong nhiều đoạn của sách có thể khác với một số sách giải kinh hay theo các bài giảng qv đã nghe. Trong những trường hợp đó, qv có thể gặp tôi sau giờ giảng để hỏi lại lý do gì mục sư lại giải thích đoạn KT này thế này, tại sao lại khác với điều mà qv đã nghe hay đọc.
Sách vở và tài liệu giải kinh hôm nay đầy dẫy trong các tiệm sách và trên mạng, từ STK cho đến KH. Tuy nhiên không phải sách dạy nào, tài liệu nào cũng đáng tham khảo hay tin cậy. Nên tôi mong con cái Chúa phải rất cẩn thận khi rút ra kết luận từ những gì đọc trên mạng hay trong sách vở về KH. Tôi sẽ áp dụng lời dạy của mục sư Charles Swindoll: Nếu chúng ta phạm lỗi (khi giải thích KH), tốt hơn là phạm lỗi vì giải thích cách giè giữ, hơn là giải thích cách quá trớn.
KH không phải được viết ra chỉ để cho một số tín đồ có ân tứ gì đặc biệt mới có thể hiểu được ý nghĩa và lời dạy của Chúa trong sách. Trong 66 sách KT chỉ có KH là có lời hứa đặc biệt ghi rõ trong sách: Phước cho kẻ đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ theo điều đã viết ra đây. (1:3)
HAI VẤN ĐỀ CẦN NHỚ KHI ĐỌC VÀ HIỂU LỜI CHÚA
Trước khi bắt đầu tìm hiểu KH 1, tôi muốn giải thích hai vấn đề quan trọng để chúng ta có thể nắm khi đọc, học, và hiểu lời Chúa. Đây là những điều được giải thích rõ hơn trong lớp huấn luyện để có thể đọc, hiểu và giải thích KT. Hai điều tôi muốn qv ghi nhớ khi đọc KH hay các sách/thư trong KT.
Thứ nhất là dù KH được viết ra cho sự dạy dỗ và lợi ích của tín đồ và hội thánh trong các thời đại, nhưng KH đầu tiên được viết ra với chủ ý cho 7 HT xưa và các tín đồ HT đầu tiên. Giữa chúng ta và các tín đồ xưa có một khoản cách rất xa về ngôn ngữ, phong tục tập quán, lịch sử, tình hình xã hội, chính trị. Nhiều lúc khi đọc và học KT chúng ta quên điều quan trọng này mà hiểu KT theo cái nhìn, quan điểm của cuộc sống và xã hội hôm nay. Ví dụ khi tín đồ HT đầu tiên nghe về hình ảnh của người dâm phụ ngồi trên 7 ngọn đồi (17:9), họ hiểu ngay hình ảnh này nói về đế quốc La-mã với 7 ngọn đồi chung quanh thủ đô La-mã. Nhưng với chúng ta hôm nay hình ảnh này như vô nghĩa, nhất là với người Việt chúng ta.
Hay câu 1:19 Vậy hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy, những việc nay hiện có và những việc sau sẽ đến. Những sự đã thấy, hiện có, và sẽ đến đối với sứ đồ Giăng và tín đồ HT đầu tiên hoàn toàn khác với chúng ta hôm nay. Vì biết bao nhiêu điều “sẽ đến” đối với Giăng và HT đầu tiên là những điều đã thấy với HT hôm nay. Tôi biết có người giải thích hình ảnh của những con ngựa miệng phun lửa, khói và diêm sinh giết chết 1/3 loài người trong KH 9 là vũ khí nguyên tử bắn từ họa tiển!
Nên khi đọc KH hay các sách KT câu hỏi đầu tiên là câu này, đoạn này có ý gì với người đọc, người nghe ngày xưa. Sau đó mới có thể liên hệ đến ngày nay. [4 bước giải thích KT]
Thứ hai là bản dịch KT Việt là kết quả của rất nhiều giai đoạn vô cùng phức tạp. Hôm nay chúng ta có nhiều bản dịch KT Việt khác nhau: BTT, BHĐ, BDM, BPT, BD2011... Xưa nhất là BTT được cụ Phan Khôi cùng ông bà giáo sĩ William & Grace Cadman dịch năm 1925. Mới hơn là các BDM, BHĐ, BDM, BD2011. Mỗi bản dịch đều giá trị, quan trọng và cần thiết. Khi so sánh giữa các bản dịch chúng ta sẽ nhận thấy dù ý chính của câu KT giống nhau nhưng cách chấm phẩy trong câu, từ chọn dùng có khi khác nhau rất nhiều. Câu hỏi là bản dịch nào chuẩn xác hơn. Không dễ trả lời câu hỏi này.
[Giải thích KT từ nguyên thủy đến bản dịch hiện tại]
Một ví dụ rất đơn giản: tiếng Việt chúng ta rất chính xác khi nói về quan hệ. Ngoại, nội, cô, chú, bác cho biết rõ nam hay nữ, vai vế thế nào. Nhưng tiếng Anh không như vậy vì dù ngoại, nội hay cô, chú đều là you cả. Hay BTT thường dùng từ các ngươi nhưng BDM thì gọi là các con, các anh chị em. Một ví dụ khác là không phải chữ hay câu nào từ tiếng nguyên thủy cũng có thể dịch rõ sang tiếng Việt. Ví dụ như tên 12 loại đá quí trong KH 21:
Vì lý do này mà trong các bài giảng có lúc tôi dùng bản dịch này, có lúc dùng bản dịch khác.
TÁC GIẢ, THỂ LOẠI, THỜI ĐIỂM
KH được viết bởi sứ đồ Giăng khi ông bị đại đế Domitian đày sang một đảo nhỏ tên Patmos. Đảo dài khoảng 10 miles, rộng 6 miles thuộc biển Aegean, cách thành phố Ê-phê-sô khoảng 40 miles. Theo truyền thống thì sau khi được thả, sứ đồ Giăng đến làm giám mục tại thành Ê-phê-sô cho đến chết. Sách KH được viết vào khoảng năm 95, tức hơn 60 năm sau khi ĐCJC chịu chết.
Khi Chúa chết, Giăng là một thanh niên trẻ tuổi, nay hơn 60 năm đã qua. Lúc đó ngoại trừ Giu-đa Ít-ca-ri-ốt tự tử sau khi bán Chúa, 11 sứ đồ vẫn còn sống; Giăng vẫn còn có 10 anh em thân thiết đã cùng đi theo ĐCJC trong suốt 3 năm trời. Nhưng nay chỉ còn mỗi mình ông trên ốc đảo hoang vu hẽo lánh này. Khi Giăng viết thư này thì tất cả10 sứ đồ khác đã tử đạo.
60 năm theo Chúa, 60 năm trung tín hầu việc Ngài. Dù chịu khổ vì TL, vì danh Chúa nhưng Giăng không hề ta thán hay phiền trách Chúa. Còn chúng ta thì sao? Một ý chính yếu và quan trọng nhất trong KH là trung tín với Chúa dù gặp hoạn nạn, thử thách vì biết dù cảnh ngộ thế nào, Chúa luôn luôn là Đấng nắm giữ lịch sử loài người và nắm giữ tương lai.
KH có nghĩa là cho biết, giải thích về những điều huyền nhiệm. KH là phối hợp của 3 thể văn khác nhau: thư tín (1-3), tiên tri và văn viết về tận thế. Thể văn viết về tận thế là của người DT. Cách sách thuộc thể văn này cũng có những hình ảnh, biểu tượng lạ lùng như trong sách KH. Nên đối với chúng ta có thể lấy làm lạ khi đọc về một sinh vật có 10 sừng nhưng dân chúng DT thời đó hiểu rõ rằng sừng là biểu hiện của quyền lực, sức mạnh.
Rất nhiều tiên tri và hình ảnh, biểu tượng trong KH là từ các sách tiên tri CU, đặc biệt Đa-ni-ên, Ê-xê-chê, Xa-cha-ri và Ê-sai. Dù không trực tiếp trích dẫn từ các sách tiên tri CU, nhưng KH có rất nhiều nơi dùng hình ảnh, biểu tượng hoặc liên hệ trực tiếp, hoặc gián tiếp đến các sách đó. Một học giả cho biết trong số 404 câu trong sách KH, có khoảng 278 câu liên hệ đến KTCU, và sách có trên 500 ám chỉ đến CU (so với ít hơn 200 ám chỉ đến CU trong 13 thư của PL).
BỐN QUAN ĐIỂM GIẢI THÍCH KH
Từ xưa đến nay có rất nhiều quan điểm (phương cách) giải nghĩa KH. Nhưng tựu chung có 4 quan điểm chính yếu. Cách thứ nhất là quan điểm quá khứ (preterist), rất phổ thông vào giữa thế kỷ 20. Cách này cho rằng những tiên tri trong KH đã hoàn toàn ứng nghiệm trong thế kỷ đầu tiên. Cụ thể nhất là biến cố xảy ra vào năm 70 khi thành Giê-ru-sa-lem bị cháy, đền thờ thiêu rụi và đại đế Nero đổ thừa cho người tin Chúa đã đốt thành nên bắt đầu cuộc bắt bớ rất dữ dội. Tín đồ bị tẩm nhựa đen rồi đóng đinh trên thập giá để làm đuốc ban đêm khi vua có dạ tiệc; hay bị bắt ra các đấu trường để thú dữ phanh thây. Cũng chính trong thời gian này mà sứ đồ PL bị chém đầu. Theo cách giải thích này thì hình ảnh Babylon trong KH tượng trưng cho dân DT bắt bớ HT dù trong KT không nơi nào Babylon dùng để nói về dân DT, mà về đế quốc La-mã. Vậy KH cũng như các sách khác trong TU chỉ viết về những điều đã xảy ra thay vì sẽ xảy ra trong tương lai, ngoại trừ các đoạn cuối về trời mới, đất mới.
Cách thứ hai là quan điểm lịch sử (historical) giải thích rằng 7 HT tượng trưng 7 giai đoạn trong lịch sử HT từ HT đầu tiên cho đến tận thế. Ví dụ như theo Tim LaHaye thì HT Ê-phê-sô tượng trưng HT đầu tiên từ năm 30-100; HT Si-mẹc-na tượng trưng cho giai đoạn HT bị bắt bớ từ năm 100-312; HT Pergamum tượng trưng cho HT xa đọa từ 312-606; HT Thyatira tượng trưng cho HT tà đạo trong thời kỳ đen tối (Dark Ages) tại Âu Châu; HT Philadelphia tượng trưng cho HT Chúa yêu từ sau phong trào cải cách tôn giáo (Reformation); HT Ladicia tượng trưng cho HT bội đạo từ 1900 cho đến thời kỳ đại nạn. Những diễn tiến từ đoạn 6-10 về 7 ấn, 7 kèn thổi, 7 chén thịnh nộ tượng trưng cho những sự kiện lịch sử đã, đang và sẽ xảy ra. Vấn đề là cách giải thích này chỉ hoàn toàn chú trọng vào lịch sử và HT phương Tây mà không hề biết đến lịch sử và HT trên các lục địa khác của thế giới. Một vấn đề khác là tìm cách để ghép những sự kiện lịch sử mình chọn để giải thích cho những biểu tượng trong sách.
Cách thứ ba là quan điểm tương lai (futurist). Nếu quan điểm giải thích theo quá khứ cho rằng mọi tiên tri trong KH đã được ứng nghiệm hoàn toàn vào thế kỷ đầu tiên, thì cách giải thích theo tương lai cho rằng ngoại trừ tất cả những tiên tri trong KH đều về tương lai khi ĐCJC trở lại lúc tận thế. Nếu vậy thì những tiên tri trong KH không liên hệ trực tiếp đến các HT đầu tiên và mãi đến nay vì chúng ta vẫn còn đang chờ đợi sự ứng nghiệm của những tiên tri đó. Đây là cách giải thích phức tạp nhất mà chúng ta sẽ tìm hiểu thêm trong các bài giảng tới. Có thể nói hầu hết các HT Báp-tít Nam Phương (Southern Baptist) và HTTLVN đều tin vào cách giải thích này.
Cách thứ tư là quan điểm tổng hợp (eclectic). Gọi là tổng hợp vì quan điểm này áp dụng cả 3 cách giải thích trên tùy theo các đoạn khác nhau trong sách KH. Đây là quan điểm tôi sẽ dùng khi giảng KH.
Một câu hỏi hết sức quan trọng khi giải thích KH là về các hình ảnh, biểu tượng và con số. Có 2 trường phái khác nhau. Phổ thông nhất là giải thích các hình ảnh, biểu tượng, con số theo nghĩa đen cho đến khi không thể được. Tôi có nghe một bài giảng của một mục sư tôi rất ngưỡng mộ về thành Giê-ru-sa-lem mới của trời mới đất mới trong KH 21:15-17 theo nghĩa đen. Vị thiên sứ nói với tôi có một cây thước đo bằng vàng, để đo thành, các cổng thành, và các tường thành. 16 Thành được thiết kế vuông vức, với chiều ngang và chiều dọc bằng nhau; vị thiên sứ dùng cây thước ấy đo thành: mỗi chiều là hai ngàn bốn trăm cây số;[a] chiều ngang, chiều dọc, và chiều cao đều bằng nhau. 17 Kế đến vị thiên sứ đo tường thành: tường dày khoảng bảy mươi mét,[b] tính theo đơn vị đo lường của loài người mà vị thiên sứ đã sử dụng. (BD2011) Có nơi ước tính khoảng 2,200km, tức từ 1400-1500miles. Diện tích của thành theo nghĩa đen là khoảng hơn 1/2 diện tích xứ HK với chiều cao 1400-1500miles, tức khoảng 600K từng lầu cao vượt trên khỏi bầu khí quyển trái đất [xem hình] Qv có nghĩ kích thước của thành Giê-ru-sa-lem mới đúng theo nghĩa đen không?
Khoảng cách từ trái đất đến mặt trời là khoảng 150 triệu km tức 68,000 lần chiều rộng, chiều dài, chiều cao của thành mới Giê-ru-sa-lem. Đến nay theo sự quan sát mới nhất thì chiều rộng của vũ trụ có thể quan sát được từ kính thiên văn là khoảng 43 tỉ năm ánh sáng. Chiều dài của 1 năm ánh sáng là 9.5 ngàn tỉ km hay 5.9 ngàn tỉ miles, tức 4 tỉ lần chiều rộng, chiều dài, chiều cao của thành mới Giê-ru-sa-lem. Qv nhân chiều dài của 1 năm ánh sáng lên 43 tỉ! Đây chỉ là vũ trụ mà khoa học hiện đại nhất có thể quan sát được. Có người ước tính đường kính của vũ trụ không quan sát được to gấp 15 triệu lần vũ trụ ngày nay con người quan sát được.
KT viết về ĐCJC chúng ta như sau: Ðấng đã xuống cũng chính là Ðấng đã lên nơi cao hơn tất cả các tầng trời, để Ngài có thể đầy đẫy khắp vũ trụ. (Ê-phê-sô 4:10 – BD2011). Câu hỏi là thành mới Giê-ru-sa-lem theo kích thước nghĩa đen dài, rộng, cao 1500 miles làm sao có thể đủ chỗ cho Đấng đầy dẫy khắp vũ trụ mênh mông bao la kia?
Hy Lạp
ESV
BTT
BDM
BD2011
ἴασπις
jasper
bích ngọc
ngọc thạch anh
lục bửu ngọc
σάπφιρος
sapphire
đá lam bửu
lam ngọc
lam bảo ngọc
χαλκηδών
chalcedony
lục mã não
ngọc mã não
bạch lục ngọc
σμάραγδος
emerald
đá lục cẩm
bích ngọc
lam bích ngọc
σαρδόνυξ
sadonyx
hồng mã não
bạch ngọc
bạch bảo ngọc
σάρδιον
sardius
đá hoàng ngọc
ngọc hồng mã não
hồng bửu ngọc
χρυσόλιθος
chrysolite
ngọc hoàng bích
kim lục thạch
hoàng bích ngọc
βήρυλλος
beryl
ngọc thủy thương
lục ngọc
lục bích ngọc
τοπάζιον
topaz
ngọc hồng bích
hoàng ngọc
hoàng bửu ngọc
χρυσόπρασος
chrysoprase
ngọc phỉ túy
ngọc phỉ túy
phỉ thúy ngọc
ὑάκινθος
jacinth
đá hồng bửu
ngọc hồng bửu
hoàng hồng ngọc
ἀμέθυστος
amethyst
đá tử bửu
ngọc tử bửu
tử bửu ngọc
