Phải Được Tái Sanh
Dù HT có nhiều tên nhưng không tôi chưa bao giờ nghe HT nào có tên là HT Tái Sanh! HT Nước Hằng Sống, HT Hy Vọng, HT Ân Điển, nhưng HT Tái Sanh? Tôi tin Chúa khi sang HK này nên không biết tại VN khi nghe từ tái sanh, thì người chưa tin Chúa nghĩ gì. Nhưng tôi biết theo thống kê thì đa số dân chúng HK nghĩ gì khi nghe về từ này. Họ nghĩ về những người thường sống phía Nam, Bible belt, đi nhà Báp-tít, hay Ngũ Tuần (Pentacostal), lao động, có thể với quá khứ không mấy tốt và nắm bắt lấy niềm tin vào Jesus như một cái phao cho cuộc sống tẻ nhạt, bấp bênh; hay những người học thức thấp, cần có một cảm xúc mạnh mẽ hay ấn tượng khi thờ phượng. Hoặc là những người mực thước trong việc giữ đạo đức: không rượu, thuốc, không la cà quán này quán nọ, không lăng nhăn, bê bối.
Nhưng nhân vật mà ĐCJC bảo cần phải được tái sanh không hề giống như hình ảnh này. Trái lại có thể nói đây là một người mẫu tượng trưng cho tần lớp học thức, giàu có thường sống ở Santa Fe hay Taos, hay tại 2 phần gần biển của xứ HK (coastal cities).
CUỘC GẶP GỠ TRONG ĐÊM
Sách Giăng đoạn 3-4 ghi lại hai cuộc gặp gở của ĐCJC với hai người hoàn toàn khác biệt: một người đàn ông tên Ni-cô-đem, và một phụ nữ không tên người Sa-ma-ri. Cuộc gặp gỡ của Ni-cô-đem với ĐCJC tương phản rất nhiều với cuộc gặp gỡ của Chúa và người đàn bà Sa-ma-ri:
1) Ni-cô-đem: nam giới, người Pha-ri-si, thành viên của Sanhedrin, tòa thẩm phán tối cao của dân DT, một người có học thức, hiểu biết kinh luật Mô-se, có quyền chức, địa vị, giàu có. Được dân chúng, xã hội kính trọng. Người đàn bà Sa-ma-ri: không tên, vô danh, dân ngoại, kém đạo đức (5 đời chồng và đang sống chung với người đàn ông không phải là chồng). Bị dân chúng, xã hội xem rẽ.
2) Xảy ra trong đêm. Ni-cô-đem chủ động, tự ý đến tìm Chúa nhưng sợ người khác biết. Xảy ra lúc giữa trưa (giờ thứ 6, tức 12 giờ trưa). Chính ĐCJC bắt đầu câu chuyện.
3) N. bắt đầu cuộc đối thoại và Chúa không hề hỏi N. Chúa bắt đầu cuộc đối thoại với lời hỏi xin nước.
4) Nội dung câu chuyện trừu tượng, phức tạp hơn đến nỗi N. cũng không hiểu được. Cuộc đối thoại giữa Chúa và người đàn bà S. đơn giản, dễ hiểu đến nỗi bà có thể hiểu hết được.
v. 1: N. là người Pha-ri-si:
Tên có nghĩa là những người biệt lập (bản dịch MSTS Lê Hoàng Phu) hay tách rời khỏi. Tách rời khỏi dân chúng. Tách rời để học và hiểu rõ luật pháp. Tách rời khỏi người ngoại
Nhóm người được nhắc đến nhiều nhất trong KT TU.
Thuộc thành phần trung lưu, thường là những người buôn bán
Tin tuyệt đối vào KT CU. Vâng giữ điều luật cách nghiêm nhặt như giữ ngày Sa-bát, dâng hiến, các lễ làm sạch theo luật pháp Mô-se.
Tin vào sống lại và cuộc sống đời sau
N. là một người trong những kẻ cai trị dân Giu-đa (lãnh đạo); thành viên của ban lãnh đạo dân (Sanhedrin – 71 người được chọn để quyết định, xét xử những sự việc quan trọng).
Có học thức, chức phận, địa vị, quyền thế, giàu có
Cai trị dân chúng, có quyền quyết định sự sống chết của một người
Được sự nể nang, kính trọng của dân chúng
Nói tóm lại N. là một người gương mẫu, đạo đức, đáng trọng trong xã hội. Đây là một người mà ai cũng muốn làm bạn, làm hàng xóm; một tín đồ mà mọi HT đều muốn có và được mọi người trong HT nễ trọng!
v. 2: N. đến gặp ĐCJC lúc ban đêm, sau khi mặt trời lặn, không còn ánh sáng ban ngày. Nhiều học giả nghĩ rằng đêm N. đến gặp ĐCJC là một đêm tối tăm và gió lớn vì trong câu 8 ĐCJC phán: Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Điều này cho biết rằng N. thật sự, thật sự muốn biết về Jesus cho dù trời tối và gió lớn.
Lý do gì N. đến lúc ban đêm?
Hoặc vì muốn nói chuyện riêng với Chúa hoặc vì N. sợ hay ngại những người trong nhóm Sanhedrin, hay cả dân chúng biết ông đến gặp Jêsus. Nhưng sau này chính N. biện hộ khi Chúa bị xử (7:50-52) và cũng chính ông cùng Giô-sép Arimathê đến gặp Phi-lát để xin xác Chúa.
Cuộc gặp gỡ trong đêm này quả thật thay đổi cuộc đời của N. từ người tin vào việc giữ kinh luật để được vào nước Trời sang người tin vào ĐCJC, tái sinh.
N. bắt đầu cuộc đối thoại với mấy điều đáng chú ý: 1) Đại từ chúng tôi thay vì tôi, 2) sự kính trọng với Chúa, gọi là thầy, 3) lời khẳng định chúng tôi biết thầy là người đến từ ĐCT.
Khi thấy Chúa làm phép lạ thì ông tin nhưng một số người Pharisi khác khi thấy ĐCJC đuổi quỉ thì bảo Jesus nhờ chúa quỉ (thay vì ĐCT) mà đuổi được quỉ (Mathiơ 12:24). Cả hai đều chứng kiến phép lạ nhưng phản ứng, thái độ của họ hoàn toàn khác nhau.
Có người nói: khi ĐCT làm phép lạ thì tôi tin. Với một số người điều này đúng như N. Một số khác dù có thấy phép lạ nhưng một số vẫn không tin cho là khoa học sẽ giải thích [Câu chuyện dân Y-sơ-ra-ên vượt biển đỏ - giải thích rằng chỉ vì họ đi bộ qua khúc biển cạn; nếu vậy thì việc cả đoàn quân Ai-cập chết thật là một phép lạ lớn hơn!] Lại một số khác nữa nhận được phép lạ tin Chúa nhưng sau đó rồi sự quyến rũ của đời sống khiến họ quên đi phép lạ, quên cả Chúa.
N. hiểu sai ĐCJC là ai. Theo ông thì Chúa hoặc là một tiên tri (hai nghĩa: đoán tương lai, nói dạy lời Chúa) đặc biệt từ ĐCT đến có thể thực hiện phép lạ (chứ không như Giăng Báp-tít), hoặc hy vọng là Đấng Mê-si giải thoát dân tộc Y-sơ-ra-ên như KT CU đã viết đến. Bao nhiêu người trong quí vị hiểu lầm ĐCJC là ai. Có người nói rằng Chúa là một tiên tri (đạo hồi), hay một thầy giáo đạo đức có một không ai trong lịch sử loài người, hoặc “giáo chủ” một tôn giáo như Phật, Lão, Khổng. Nếu quí vị nào tại đây có những ý này thì đã hiểu sai về Jesus và về lý do Ngài đến thế gian, chết trên thập giá, sống lại ngày thứ ba.
SỰ QUAN TRỌNG CỦA VIỆC TÁI SANH
v. 3: Thay vì đính chính với N. về Ngài, ĐCJC nói về sự cần thiết của sự tái sinh để được vào nước Trời. Ngươi phải được tái sanh. Phải nói lên một sự việc cần thiết, không thể không làm.
Câu trả lời của ĐCJC hoàn toàn không liên quan gì đến lời xác quyết của N. Chúa nói với N. và tất cả chúng ta một điều kiện hết sức quan trọng để được vào nước Trời: phải được sinh lại (tái sinh – born again). Chính vì câu KT này mà người ta gọi những người tín đồ thật sự là born again Christian! Từ quả thật là từ Amen - chắc chắn như vậy, thật như vậy.
Khi nghe về từ tái sinh, sinh lại người ta có thể nghĩ đến một sáo ngữ hay về một người tội lỗi, hết thuốc chửa cần phải được hoàn toàn thay đổi cuộc đời. Nhưng N.? Một người như N. gương mẫu, đạo đức, phẩm hạnh, chức vị, được mọi người kính trọng thì cần gì phải đổi đời? Như tôi? Tôi không cần ba thứ lẫm cẫm này: tôi có kiến thức, biết khoa học, quyết định không theo cảm xúc nhưng theo lý lẽ.
Tái sanh có nghĩa là bắt đầu lại từ đầu, từ khi còn là con trẻ vừa lọt lòng mẹ. Được cứu không phải là sự nối tiếp của truyền thống, tăng thêm đạo đức, tôn giáo nhưng là một thay đổi hoàn toàn.
Một người trẻ tuổi giàu có hỏi ĐCJC câu hỏi mà hầu hết chúng ta có lần, hoặc tự hỏi, hoặc đã nghe:
Nầy, có một người đến hỏi Ngài rằng: Thưa thầy, tôi phải làm việc lành chi cho được sự sống đời đời? (Ma-thi-ơ 19:16) Chúa trả lời: Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Sao ngươi hỏi ta về việc lành? Chỉ có một Đấng lành mà thôi. Nếu ngươi muốn vào sự sống, thì phải giữ các điều răn. 18 Người hỏi: Những điều răn gì? Đức Chúa Jêsus phán rằng: Những điều răn nầy: Đừng giết người; đừng phạm tội tà dâm; đừng ăn trộm cắp; đừng làm chứng dối; 19 Hãy thảo kính cha mẹ; và: Hãy yêu kẻ lân cận như mình. 20Người trẻ đó thưa rằng: Tôi đã giữ đủ các điều nầy; còn thiếu chi cho tôi nữa? 21 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Nếu ngươi muốn được trọn vẹn, hãy đi bán hết gia tài mà bố thí cho kẻ nghèo nàn, thì ngươi sẽ có của quí ở trên trời; rồi hãy đến mà theo ta. 22 Nhưng khi người trẻ nghe xong lời nầy, thì đi, bộ buồn bực; vì chàng có của cải nhiều lắm.
Sự tái sanh cần thiết hơn mọi vật chất, mọi thần giả trong đời sống này như thần của cải của người trẻ tuổi giàu có này.
Chín năm trước đây trong buổi lễ ra trường đại học Kenyon, diễn giả là một tác giả trẻ, 43 tuổi tên David Foster Wallace. Trong bài nói chuyện cùng các sinh viên ra trường, ông có những lời như sau: Mọi người đều thờ phượng. Sự chọn lựa duy nhất là chúng ta sẽ thờ phượng điều gì. Và một lý do hấp dẫn khi chọn một thần nào đó để thờ phượng… là bởi vì mọi thứ khác trên đời này rồi sẽ nuốt sống bạn. Nếu bạn thờ phượng tiền và vật, nếu đó là điều bạn tìm ý nghĩa cho cuộc sống, thì bạn sẽ không bao giờ có đủ, không bao cảm thấy đủ. Đó là sự thật. Thờ phượng thể xác này và sắc đẹp và thu hút tình dục, rồi bạn sẽ luôn thấy xấu xí. Và khi đến khi thời gian và tuổi tác bắt đầu làm bạn già đi, bạn sẽ chết một cái chết triệu lần trước khi người thân chôn bạn. Thờ phượng quyền lực, rồi bạn sẽ cảm thấy yếu đuối và sợ hãi, và sẽ tiếp tục cần quyền lực để làm tê dại nỗi sợ hãi… Sự gian dối, xảo quyệt của những sự thờ phượng này không phải là tự nó độc ác hay tội lỗi; nhưng bởi vì đó là điều tự nhiên ẩn trong tiềm thức mỗi người.
Dù là một người không tôn giáo nhưng tác giả tài ba trẻ tuổi này cũng ý thức rõ rằng mỗi người đều thờ phượng, mỗi người đặt niềm tin vào một điều gì đó cho sự cứu rỗi, mỗi người đều dựa cuộc đời mình vào điều gì đó cần có niềm tin. Và chỉ 3 năm sau đó ông tự kết liễu cuộc đời mình. Không có Chúa!
Khi làm chứng chúng ta không nên tranh luận hay cải vả về những vấn đề không quan trọng, chủ yếu. Có người hay hỏi tại sao ĐCT là Đấng yêu thương mà lại để cho bao nhiêu người không có cơ hội nghe lời Chúa. Người khác hỏi về sự sáng tạo vũ trụ, loài người của ĐCT trong STK và khoa học. Người khác lại hỏi về đạo đức giả của tín đồ hội thánh: đi nhà thờ mà sống như trong vũng bùn. Chúng ta cầu nguyện cho họ, xin ĐTL của Chúa mở lòng họ để ánh sáng chân lý có thể vào tâm hồn, cố gắng trả lời ngắn gọn rồi tiếp tục tập trung về điều quan trọng nhất, bước đầu quan trọng nhất để được vào nước Trời: sự tái sinh.
Ý NGHĨA CỦA SỰ TÁI SANH
v. 4: N. không hiểu lời dạy của ĐCJC. Nhiều người VN chúng ta tin vào sự luân hồi. Tức là sẽ được đầu thai, sanh lại trong kiếp tới. KT rõ ràng phủ nhận ý nghĩ, lời dạy này. Trước khi tin nhận Chúa thì tâm linh một người thuộc về bóng tối, ở trong bóng tối thuộc quyền lực ma quỉ. Sự tái sinh có nghĩa là mời ĐCJC vào ngự vào làm chủ tâm linh tối tăm trước đó. Khi nhận Chúa thì ánh sáng của Ngài sẽ giúp chúng ta ý thức rõ hơn về con người tội lỗi của chính mình và ban cho một đời sống mới.
Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới. (2 Cô-rinh-tô 5:17)
hãy ham thích sữa thiêng liêng của đạo, như trẻ con mới đẻ vậy, hầu cho anh em nhờ đó lớn lên mà được rỗi linh hồn, nếu anh em đã nếm biết Chúa là ngọt ngào. (1 Phi-e-rơ 2:2-3)
Tái sinh có nghĩa là bắt đầu lại tất cả, chứ không phải thêm vào những điều đang có. Nói cách khác những điều trước đó đã có không kể. Đây là một điều vô cùng khó cho chúng ta chấp nhận.
Khoảng 30 trước đây trung tâm thành phố NY, Times Square, không an toàn như hôm nay. Đây là khu của những người nghiện ngập, không nhà, những phụ nữ bán thân… Trong thời gian đó, MS Tim Keller kể trong một năm mỗi tháng một lần ông đến câu lạc bộ Harvard tại Mahattan, NY để chia sẻ. Thường ông bắt đầu lúc trời còn tối. Trên đường đi bằng subway ông phải đến Times Square, rồi đi bộ đến Harvard Club. Trên đường ông nhìn thấy những người không nhà dơ dái nằm ngủ trên vĩa hè, những cô gái bán thân, những người bán thuốc cấm. Nhưng Harvard Club là nơi trí thức, nơi mà phòng nhóm có vách bằng gỗ, ghế bọc da, nơi mọi người đều có bằng cấp, sự sản, đây là những người có chức phận, được trọng vọng, kính nể. So sánh hai nhóm người, nhóm người nào qv nghĩ cần tái sinh?
ĐCJC nói với những người Pha-ri-si: Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi. 32 Vì Giăng đã theo đường công bình đến cùng các ngươi, nhưng các ngươi không tin, còn những kẻ thâu thuế và phường dĩ điếm đã tin người; và các ngươi, khi đã thấy điều ấy, sau cũng không ăn năn đặng tin người. (Ma-thi-ơ 21:31-32). Kẻ thu thuế, phường đĩ điếm nghe TL, tin TL được vào nước Trời; người giữ mọi luật pháp, đạo đức nghe TL, không tin, không được vào nước Trời. Phải chăng đây là cú sóc hết sức nặng nề cho những người nghe!
v. 5: chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh có nghĩa gì? Từ thánh linh đây cùng là từ thần linh của ĐCT trong KT CU. ĐCJC dùng hình ảnh CU mà N. có thể hiểu và liên hệ được. Nước được dùng trong các lễ rửa sạch tượng trưng cho hình ảnh đổi từ ô uế, nhơ nhớp sang thanh sạch, thánh khiết; từ những người ĐCT dạy phải tránh xa sang đến người được Chúa và mọi người chấp nhận.
Nói cách khác hình ảnh nước và thánh linh (thần linh – pneuma) tượng trưng cho sự đổi mới hoàn toàn mà ĐCT đã hứa cùng dân Ngài: Ta sẽ rưới nước trong trên các ngươi, và các ngươi sẽ trở nên sạch; ta sẽ làm sạch hết mọi sự ô uế và mọi thần tượng của các ngươi. Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. (Ê-xê-chi-ên 36:25-26).
Nhưng từ khi lòng nhân từ của Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, và tình thương yêu của Ngài đối với mọi người ta đã được bày ra, thì Ngài cứu chúng ta, không phải cứu vì việc công bình chúng ta đã làm, nhưng cứ theo lòng thương xót Ngài, bởi sự rửa về sự lại sanh và sự đổi mới của Đức Thánh Linh (Tít 3:4-5)
Lời dạy này tương phản với niềm tin N.: vào nước Trời qua việc vâng giữ luật pháp. Chính vì vậy Chúa nhấn mạnh: Chớ lấy làm lạ về điều ta đã nói với ngươi: Các ngươi phải sanh lại.
v. 9: cho thấy N. vẫn chưa hiểu lời Chúa dạy
v. 10-21: lời giảng dạy của ĐCJC về sự ban cho con Độc Sinh để cứu chuộc tội nhân. Trong câu 14, Chúa dùng một hình ảnh trong KT CU mà N. biết và liên hệ được theo Dân Số Ký 21:8-9: Dân sự nói nghịch cùng ĐCT và Mô-se, trách móc: Làm sao người khiến chúng tôi lên khỏi xứ Ê-díp-tô đặng chết trong đồng vắng? Vì đây không có bánh, cũng không có nước, và linh hồn chúng tôi đã ghê gớm thứ đồ ăn đạm bạc nầy. (DSK 21:5) ĐCT sai rắn độc đến cắn chết một số. Họ sợ hãi, xin cứu. ĐCT bảo Mô-se làm một con rắn bạc treo lên cây để dân nhìn thì sẽ được sống. Hình ảnh đó tượng trưng cho sự cứu chuộc dân khỏi tội như khi ĐCJC bị đóng đinh trên cây gỗ để chuộc tội tôi và quí vị. Nhưng khác với hình ảnh rắn trên cây ngày xưa chỉ chửa tạm thời rồi họ cũng sẽ chết, ai tin ĐCJC sẽ nhận lấy sự sống đời đời.
Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời. Vả, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu.
ĐCJC hạ sinh không phải như quan xét trong ngày cuối, nhưng là Đấng Cứu Chuộc. Hội thánh Chúa, người tin Chúa cũng nên nhớ điều này để tránh làm quan xét người bên ngoài hội thánh hay người trong hội thánh. Chúa dạy rất rõ trong thời kỳ hội thánh còn trên đất trước khi Chúa trở lại thì sẽ còn cỏ lùng mọc chung với lúa mì, cá xấu trộn chung với cá tốt (Ma-thi-ơ 12:24-30). Trách nhiệm chính của HT, của người theo Chúa không phải là tách cỏ lùng với lúa mì, hay chọn cá xấu bỏ đi. Mà là nói về tình yêu thương của ĐCJC, về sự cứu chuộc của ĐCJC. Lý do gì Giăng 3:16 lại được mọi người dù là người không tin Chúa yêu thích? Bởi vì không ai không muốn được yêu cả, đặc biệt được ĐCT yêu thương.
Bởi vì chúng ta thảy đều phải ứng hầu trước tòa án Đấng Christ, hầu cho mỗi người nhận lãnh tùy theo điều thiện hay điều ác mình đã làm lúc còn trong xác thịt. Vậy chúng tôi biết Chúa đáng kính sợ, nên tìm cách làm cho người ta đều tin (2 Cô-rinh-tô 5:10-11). Tất cả mọi người sẽ ứng hầu trước toà án Đấng Christ. Ngài sẽ xử mọi người chứ không phải tôi hay quí vị.
Vả, sự đoán xét đó là như vầy: sự sáng đã đến thế gian, mà người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm của họ là xấu xa. Bởi vì phàm ai làm ác thì ghét sự sáng và không đến cùng sự sáng, e rằng công việc của mình phải trách móc chăng.
Ai không tin tức là tự quyết định chọn nhận sự đoán xét từ ĐCT. Khải Huyền viết về hình ảnh trong tương lai của ngày phán xét cuối cùng: Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đang ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy… Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa. (KH 20:11-12, 15)
ĐCJC, nguồn sáng của loài người đã đến thế gian để đem đến ánh sáng cho tâm hồn, tấm lòng tối tăm tội lỗi của con người. Ai từ chối ánh sáng đó. Đóng cửa lòng dù Chúa đứng ngoài cửa mà gỏ. Khép kín cửa sổ lòng không để ánh sáng Chúa vào lòng thì đã tự chọn cho mình sự đoán xét.
Một lý do chính con người đóng chặt cửa lòng là bởi vì việc làm của họ là xấu xa. Họ sợ khi đến với Chúa họ phải thay đổi.
Three elements of personality are involved in making a decision to become a Christian, or in making any significant decision for that matter. They are the emotions (tình cảm, cảm xúc), the intellect (tri thức, hiểu biết), and the will (ý chí)
For example, a young man meets a young woman. They are immediately attracted to one another. They both say to themselves, "Now there is someone I'd like to marry." At that point, if the emotions had their way, there would be a wedding. But the intellect intervenes, questioning the impulsive emotional response. Would we be compatible? What is she really like? Can I afford to support her? Both conclude it would be better to take some more time and answer a few questions before they proceed. So the two begin spending more time with each other. He eventually concludes that she is as beautiful on the inside as she is on the outside. Now his intellect has sided with the emotions on the idea of marriage.
But the final and heaviest vote remains to be cast -- that of the will. It stops the march toward the altar with the questions, "Am I willing to give up this lifestyle for another? What about my freedom -- is it worth the trade? Am I willing to assume the added responsibility?" The marriage will occur only when the will finally agrees with the emotions and the intellect. And so it is in coming to Christ.
Tuy nhiên dù có dùng lý trí và sự hiểu biết thì cũng không thể nào biết hết được những điều trong tương lai. Vậy chúng ta cần có đức tin. Tin rằng người đó sẽ yêu thương mình thật lòng, sống với mình đến suốt đời, sẽ đối xử tử tế, sẽ chăm sóc lúc đau bịnh như khi mạnh khỏe. Rồi khi bước vào hôn nhân chúng ta phải cần ý chí, không bỏ cuộc dù gặp khó khăn, thử thách.
Mỗi người chúng ta cần phải được tái sinh để vào nước thiên đàng. Bạn có thật biết mình được tái sinh hay chưa?
Sự tái sinh cần có cả cảm xúc, lý trí và ý chí. Nếu chỉ tin Chúa qua cảm xúc thì sẽ dể bỏ. Nếu chỉ có lý trí, không cảm xúc thì sẽ lạnh nhạt, thiếu nhiệt tâm, lòng nóng cháy theo Chúa, phục vụ. Thiếu ý chí thì khi gặp cảnh ngộ khó khăn sẽ giao động, thay đổi, bỏ cuộc chạy.
[Câu chuyện về 3 câu hỏi của Leon Tosltoy – Chân Trời Mới số 5, 2016]
