Phải Chi Đừng Nói Lời Này – Khi Vào Nhà Chúa (1)
KT dạy nên chậm nói, ít nói để có thể nghe! phải giữ gìn lời nói và giữ trọn lời hứa. Đặc biệt phải hết sức thận trọng khi nói, khi hứa nguyện cùng ĐCT trong nhà Chúa, tức HT. Chậm nói, suy nghĩ trước khi nói, nói để động viên, xây dựng, khích lệ, nâng đở, nói có lợi cho người nghe, chứ không chỉ để nghe tiếng mình, lý luận mình, hay để bày tỏ sự khôn ngoan, kiến thức mình. Cũng vậy chậm hứa, suy nghĩ trước khi hứa và khi đã hứa phải giữ trọn lời hứa, đặc biệt là lời hứa nguyện với ĐCT.
Đoạn KT đã nghe đọc trích từ TĐ - một quyển hồi ký về cuộc đời của vua Sô-lô-môn. Từ đầu quyển hồi ký, đoạn một cho đến đoạn bốn, Sô-lô-môn dùng danh xưng ngôi thứ nhất, "tôi, ta" để ghi nhận lại những nhận xét, kinh nghiệm của chính ông về cuộc sống dưới ánh mặt trời này. "Ta thấy, ta xem xét, ta biết, ta lại nói, ta mua, ta cất nhà, ta lập vườn, ta đào hồ, ta lo sắm, ta thâu chứa, ta trở nên". Không một lần dù chỉ một lần trong bốn đoạn đầu của Truyền Đạo Sô-lô-môn lại dùng ngôi thứ hai "ngươi, người". Tuy nhiên chỉ trong vài câu ngắn ngủi của đoạn 5 này, vua Sô-lô-môn lại dùng đến 10 lần từ gọi "ngươi" hay "người". Mục đích là để dạy dỗ một cách trực tiếp cho người đọc về thái độ, hành động, lời nói, suy nghĩ của người khi vào nhà Chúa.
Sô-lô-môn không viết "nếu ngươi vào nhà Chúa" nhưng "khi ngươi vào nhà Chúa". Hễ là người tin Chúa, là con cái Chúa, chúng ta đến nhà Chúa để thờ phượng, để thông công với anh chị em mình. Khi vua Sô-lô-môn viết những lời này vua nghĩ về đền thờ của Đức Chúa Trời tại thành Jê-ru-sa-lem mà Chúa đã dùng ông để xây cất. Nhà Chúa, đối với chúng ta hôm nay, là ngôi thà thờ, nhà nguyện, là ngôi giáo đường mà hằng tuần chúng ta đến nhóm lại để học lời Chúa, để sinh hoạt, để thông công và để thờ phượng Ngài. Nhưng điều quan trọng hơn hết về nhà Chúa không phải là cơ sở thấy được mà là sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong vòng con dân Ngài khi họ nhóm nhau lại.
Bài giảng hôm nay về lời nói của chúng ta với ĐCT khi vào nhà Chúa. Tuần tới sẽ về lời nói của mỗi cá nhân chúng ta với anh chị em trong Chúa khi vào nhà Chúa.
GIỮ LỜI NÓI VỚI ĐCT KHI VÀO NHÀ CHÚA
Khi vào nhà Chúa chúng ta phải giữ tâm trí để ý thức rõ mình đang ở nơi thiêng liêng, để tỉnh thức, tập trung mà lắng nghe lời Chúa. Chúng ta cũng cần giữ gìn lời nói. Đừng nhạy miệng, và con cũng đừng hấp tấp, thốt lời thề nguyện trước mặt Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời ở trên trời, còn con ở dưới đất; Vậy con hãy cân nhắc từng lời nói. (BDM) Khi gặp người chúng ta nể trọng, người có địa vị, chức sắc chúng ta thường rất dè dặt trong lời ăn tiếng nói. Trước khi nói, uống lưỡi bảy lần chớ không thể bạ đây nói đó rồi sau đó lại hối hận. Huống chi khi chúng ta đối diện Thượng Đế, là Đấng sáng tạo, là Chúa của muôn chúa, Vua của muôn vua.
Lời nói là sự bày tỏ của suy nghĩ, cảm giác bên trong như chân đi là thể hiện của hành động bên ngoài. Như chúng ta thấy chân đi thì biết được ý muốn, khi nghe lời người nói chúng ta biết được lòng dạ bên trong. Dĩ nhiên Đức Chúa Trời đọc rõ được mọi ý nghĩ, dự tính của loài người. Chúa không cần thấy hay nghe thì Ngài mới biết được ý tưởng, dự tính của chúng ta. Vậy tại sao Sô-lô-môn lại dùng hình ảnh chân đi, và lời nói là điều cụ thể cho loài người thấy được, nghe được? Bởi vì chúng ta thường muốn cho người khác kính nể mình vì đạo đức bề ngoài khi vào nhà Chúa, qua cung cách, qua lời cầu nguyện, lời nói bên ngoài.
Hãy cẩn thận! Dù có thể dối người nhưng không sao chúng ta có thể dối Chúa là Đấng nhìn biết mọi điều trong tâm hồn. Sô-lô-môn cũng nhắc rằng, "vì Đức Chúa Trời ở trên trời, còn ngươi ở dưới đất. Vậy nên ngươi khá ít lời". Trên trời, dưới đất không phải nói về khoảng cách nhưng về địa vị, chức năng. Chúa là Đấng sáng tạo, loài người chúng ta là loài thọ tạo; Chúa là Đấng toàn năng, vô hạn, vô đối, loài người chúng ta là loài hữu năng, hữu hạn. Chúa là Đấng cứu chuộc, chúng ta là loài được chuộc.
Vậy nên lời nói, ý nghĩ của chúng ta khi vào nhà Chúa cũng phải thể hiện sự kỉnh kiền, tôn kính. Không phải bởi vì là tín đồ lâu năm, hay dù giữ chức vụ gì trong Hội Thánh mà chúng ta có thể coi thường Thượng Đế! Sự quen thuộc, gần gủi với Chúa càng khiến chúng ta ngày càng trở nên kính yêu Ngài hơn.
Theo STK 1, ĐCT dùng chính lời Ngài để sáng tạo ra vũ trụ, và muôn loài sinh động vật. Theo Giăng 1, ĐCJC được gọi là Ngôi Lời. Không có lời làm sao chúng ta có thể nghe Tin Lành, hiểu KT, kết bạn, lập gia đình, làm ăn, giao tiếp? Lời nói có một quyền năng, sức mạnh làm một người ta sống lại, hay giết chết người.
Lời nói thiếu suy nghĩ như lưỡi gươm đâm thủng, Nhưng lưỡi người khôn ngoan chữa lành. (CN 12:18). Có khi chỉ cần một lời nói mà đem đến tai hại không thể hồi phục được: phá hủy một tình bạn, chia rẽ một gia đình, một hội thánh, tổn thương danh dự một người, phá hũy cả một đời người. Khi lời đã thốt ra, nó không còn thuộc về qv nữa, nhưng thuộc về những người đã nghe. Qv cũng không thể lấy nó lại. Thiệt hại của một lời nói độc ác, dối trá, chia rẽ cũng như thiệt hại của một lưỡi gươm. Khi gươm đâm vào rồi, dù có rút ra, thì cũng đã gây thương tích trầm trọng. Và nếu vết đâm được lành thì cái thẹo của vết đâm vẫn còn đó.
Gươm còn thu lại được, nhưng lời nói không thể thu lại, bỏ vào chai, đóng nắp. Nguy hiểm hơn nữa lời nói còn được truyền đi, xầm xì từ người này sang đến người khác. Gươm chuyền tay cũng vẫn là gươm. Nhưng lời chuyền tai không còn là lời trung thực nữa. Con kiến nhỏ xíu rồi hóa thành con voi to lớn!
Khi tôi nói về lời nói gây thương tích hay làm cho hồi phục, tôi không chỉ nói về lời, nhưng còn về thái độ, giọng điệu, cung cách khi nói ra những lời đó. Sau khi ĐCJC sống lại, Ngài hiện ra đầu tiên cùng Ma-ri Mác-đơ-len. Trước khi cho Ma-ri biết Ngài đã sống lại, Chúa hỏi: Tại sao con khóc? Qv nghĩ Chúa hỏi bà với giọng điệu thế nào?
Câu chuyện vua Đa-vít nhảy múa trước hòm giao ước, và lời nói khinh khi, mai mỉa của Mi-canh trong 2 Sa-mu-ên 6:20 “Hôm nay vua của I-sơ-ra-ên trông thật vẻ vang ghê! Bữa nay nhà vua đã để thân thể lộ liễu trước mặt bọn nữ tỳ, chẳng khác gì một tiện dân phô bày da thịt mà không biết xấu hổ.”. (BD2011) Qv nghĩ giọng nói của bà với Đa-vít thế nào? Chắc chắn là đầy giọng mai mĩa! Trước đó câu 16 cho biết trong lòng Mi-canh đã khinh khi Đa-vít. Khinh khi trong lòng bày tỏ ra lời nói. Và khi lời thốt ra rồi, không lấy lại được. Hậu quả của một lời đó là gì? ” 23 Vậy Mĩ-khánh con gái Sau-lơ không có con cho đến ngày bà qua đời.
Khác với gươm đâm, vết thương thấy được và người đâm biết mình đã gây thương tích, nhưng vết thương gây ra bởi lời nói nhiều khi không thấy được, không biết mình đã gây thiệt hại. Nhiều khi một người vì lời nói gây thương tích, chia rẽ nhưng không hề hay biết. Lắm lúc họ lại nghĩ những lời nói đó “giúp” cho người!
Lời nói có thể gây thương tích, nhưng còn hơn thế nữa. Lời có thể giết người. Sống chết ở nơi quyền của lưỡi (CN 18:21). Trong KT, từ sự sống, đời sống hàm ý 3 phương diện, 3 lãnh vực sau đây: thể xác, nội tâm & tâm linh, cộng đồng. Gươm, súng lấy đi đời sống về thể xác. Lời nói cũng có thể giết chết một người.
Một câu chuyện vô cùng thương tâm, không chỉ cho gia đình người chết, nhưng cho cả một quốc gia. Andres Escobar là một cầu thủ suất sắc nhất và là thủ quân của đội tuyển túc cầu Columbia trong giải túc cầu thế giới năm 1994. Năm đó đội tuyển Columbia đá hay vô cùng, thắng Argentina 5-0 và được vào vòng chung kết tại Hoa Kỳ. Trong trận đấu với Hoa Kỳ, ai cũng chắc chắn rằng đội Columbia sẽ thắng cuộc. Nhưng rũi thay chính Andres Escober, thủ quân đội tuyển Columbia, khi phá banh, lại đá vào lưới mình. Đội HK thắng 2-1. Năm ngày sau khi về nước Andres bị bắn chết trước một quán bar. Lý do? Vì lời qua tiếng lại khi Andres bị chửi rủa là phá hoại đội tuyển, phá hoại danh dự dân tộc. 120 ngàn dân Columbia dự tang lễ của ông. Từ đó đến nay, hơn 22 năm đội tuyển Columbia không bao giờ hồi phục tài nghệ như năm 1994!
Tôi chắc một vài qv đây cũng biết vài người chỉ vì cải cọ với nhau, bị vu oan, bị khinh khi, làm nhục mà giết người. MS Tim Keller kể chính ông đã làm đám tang cho một thanh niên tự sát vì bạn gái sĩa sói, mắng nhiếc, làm nhục. Ai bảo lời nói không giết người? Lời nói gây ra chiến tranh: trong tình cảm, quan hệ, trong gia đình, trong hội thánh; chiến tranh giữa những nhóm người khác màu da, tiếng nói, chủng tộc, khác tôn giáo. Qv nghĩ tại sao thanh niên, thiếu nữ lớn lên trong xã hội Tây Phương lại theo ISIS để tự sát và giết bao nhiêu người khác? Chỉ vì bị sách động qua lời tuyên truyền trên mạng tuyến, qua bè bạn, trong nhà hội của hồi giáo. Trong chiến tranh có biết bao nhiêu người thiệt mạng!
Lời nói không chỉ giết người nhưng còn giết chết cả đời sống nội tâm và tâm linh, và giết chết đời sống với người chung quanh, với cộng đồng. Vua Đa-vít khi nghe lời Mi-canh mai mĩa không quên được, gây ra đỗ vỡ trong quan hệ vợ chồng đến suốt đời. Chồng vợ, con cái trong gia đình, bè bạn hay anh chị em trong hội thánh cũng có thể suốt cả đời không thể nào quên được một lời hạ nhục, lên án, vu oan, buộc tội nào đó.
Thử hỏi xem bao nhiêu người tránh né hội thánh, tránh né tín đồ, tránh né KT chỉ vì nghe lời ăn tiếng nói của một tín đồ không khác gì người không biết Chúa. Hay khi vào hội thánh, nếu bị xem thường hay khinh dễ, nếu bị chê bai, hay chỉ trích, thì ai muốn tin Chúa? Phải chăng nếu qv vì lời nói mà làm cho một người, dù chỉ một người, từ bỏ hay chống đối đạo Chúa thì chính qv cũng đã giết linh hồn của người đó hay sao?
Qv có biết người nào bị phá hủy danh dự chỉ vì những lời vu khống, buộc tội dối trá hay không? Khi danh dự không còn, làm sao có thể có quan hệ với người chung quanh? Một lời làm chứng dối có thể khiến một người bị tù tội, tàn hủy cả tuổi xuân, phá hoại cả gia đình. Ai bảo lời nói không giết người, giết linh hồn, giết tuổi xuân, giết cả bao nhiêu quan hệ?
Nguy hiểm nhất là nói chuyện người, kể chuyện người (ngồi lê đôi mách, thèo lẽo, gossip) Kẻ gian tà gieo điều tranh cạnh; Và kẻ thèo lẻo phân rẽ những bạn thiết cốt (CN 16:28). Người ta hay thêm mắm muối vào cho chuyện hấp dẫn. Chuyện nhỏ hóa to, chuyện không đáng gì trở nên trọng sự sau khi đi một vòng từ người đầu cho đến người cuối!
Vấn đề của tín đồ là lắm lúc chúng ta quá luông tuồng, cẩu thả với lời nói của mình vì nghĩ rằng chắc không có gì đâu, không sao đâu! Nhưng lại không cân nhắc, đắn đo, không nghĩ đến hậu quả đối với những người chung quanh. Chính vì vậy tục ngữ VN chúng ta mới có câu: Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Phải lựa lời mà nói. Dĩ nhiên KT không dạy chúng ta phải nói lời nịnh bợ, ton hót, tâng bóc để được lòng người khác, để đem lợi cho mình. Tục ngữ VN cũng dạy Trước khi nói nên uống lưỡi 7 lần. Có ý gì? Suy nghĩ cẩn thận trước khi nói.
Một tác giả tóm tắt lại trong hai câu nói hết sức ý nghĩa sau: Không phải lưỡi là bộ phận đem lại giao tế xã hội, nói lời hùng biện, lời tử tế, lời nhân từ, lời thờ phượng hay sao? Không phải lưỡi là bộ phận phát lên lời nguyền rủa, lời phỉ báng, lời mai mĩa, lời nói xấu, lời gian dối hay sao? (Spiros Zodhiates, The Behavior of Belief)
KT dạy rất rõ về những điều ĐCT gớm ghét trong CN6:16-19: 16 Có sáu điều Đức Giê-hô-va ghét, Và bảy điều Ngài lấy làm gớm ghiếc: 17 Con mắt kiêu ngạo, lưỡi dối trá, Tay làm đổ huyết vô tội 18 Lòng toan những mưu ác, Chân vội vàng chạy đến sự dữ, 19 Kẻ làm chứng gian và nói điều dối, Cùng kẻ gieo sự tranh cạnh trong vòng anh em. Trong 7 điều Chúa ghét, 3 điều thuộc về lời nói!
Nếu lời nói có thể làm hại, thậm chí giết người thì lời nói cũng động viên, an ủi, nâng đở, khích lệ, hướng dẫn, dạy dỗ, khen tặng, có thể hồi phục người chết về nội tâm, về tâm linh, hồi phục lại quan hệ với những người chung quanh mình. Đây chính là sức mạnh của lời nói mà người tin Chúa cần phát huy, cần tập tành, cần bày tỏ đối với mọi người quanh mình, dù là con cái, chồng vợ, anh chị em, trong gia đình, người làm chung, hàng xóm, hay anh chị em trong hội thánh.
Qv có thể nói: khó quá, nguy hiểm quá vì tôi sợ nói ra rồi gây tai hại nên thôi im lặng là vàng! Ai sống hoài trong im lặng được? Không ai cả. Tại sao? Bởi vì mọi người đều cần nói để bày tỏ suy nghĩ, tình cảm, nhận xét, kiến thức của mình cho người. Bởi vì mọi người đều muốn nghe, cần nghe lời động viên, khích lệ, an ủi, lời dạy dỗ, sửa trách. Khi bị bỏ tù, hình phạt nặng nề nhất là chung thân cách ly. Tức tách rời tù nhân với thế giới bên ngoài.
Khi nào người ta tránh né, làm thinh, im lặng khi có sự hiện diện của một người nào đó? Khi không thích, khi ghét, khi giận, khi khinh. Qv có bao giờ vào một buổi tiệc, hay ngồi một bàn tiệc mà không ai muốn nói chuyện với mình. Qv có nghĩ chắc họ dè giữ, không muốn nói cho mình buồn lòng? Hay nghĩ, tại sao họ lại làm thinh với mình? Chắc không thích mình rồi.
Một nhà truyền giáo tại Phi Châu kể rằng khi ở Phi Châu, có lúc đang làm việc thì một người bạn bản xứ vào văn phòng hỏi thăm trò chuyện vài câu rồi ngồi xuống. Họ chỉ ngồi im lặng độ 15, 20 phút khi ông đang làm việc. Sau đó họ đứng lên và vui vẻ bảo với ông về thì giờ thăm viếng tốt đẹp rồi cáo từ ra về. Đối với người thân yêu quen thuộc chúng ta cảm thấy tự nhiên, dễ chịu trong sự im lặng. Chỉ với người xa lạ chúng ta mới thấy khó chịu, ngột ngạt vì sự im lặng nên cố tìm lời để nói cho đở căng thẳng.
Thi Thiên 46:10 dạy, "Hãy im lặng và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời". Trước Đức Chúa Trời, chúng ta cần im lặng để lắng nghe. Mục đích của lời nói không phải để thuyết phục Đức Chúa Trời hầu cho được điều này, điều nọ, nhưng để ca ngợi, tôn vinh, để dọn lòng mình hầu lắng nghe tiếng Chúa. Để làm điều này, chúng ta phải chuẩn bị tâm hồn mình trước khi và trong khi vào nhà Chúa.
KT dạy rất nhiều về lời nói. Sách Gia-cơ viết về cái lửa dù là vật nhỏ nhưng không ai có thể kiểm soát được. Dù vậy người tin Chúa phải cầm giữ lời ăn, tiếng nói của mình: Nhược bằng có ai tưởng mình là tin đạo, mà không cầm giữ lưỡi mình, nhưng lại lừa dối lòng mình, thì sự tin đạo của người hạng ấy là vô ích. (Gia-cơ 1:26). 3 bản dịch.
Trong bài giảng tới, chúng ta sẽ tìm hiểu đoạn KT rõ ràng và quan trọng nhất trong KTTU theo Gia-cơ 3:6-12: Cái lưỡi là một ngọn lửa, một thế giới gian ác giữa các chi thể của thân thể ta. Nó làm băng hoại cả con người, đốt cháy cả cuộc đời và chính mình nó bị hỏa ngục đốt cháy. 7 Tất cả các loài thú vật, chim chóc, loài bò sát, và sinh vật dưới biển đều đang bị và đã bị loài người chế ngự, 8 nhưng không có người nào chế ngự được cái lưỡi, là một vật dữ phóng túng đầy chất độc giết người. 9 Chúng ta dùng lưỡi ca ngợi Chúa và Cha chúng ta, cũng dùng nó để nguyền rủa con người là kẻ được tạo nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời. 10 Từ một miệng mà phát ra cả lời phúc lành lẫn nguyền rủa sao? Thưa anh chị em, không nên làm thế! 11 Dòng nước xuất phát từ một mạch lại ra cả nước ngọt lẫn nước đắng sao? 12 Không thể nào được! (Gia-cơ 3:6-12)
Sách CN dạy rất nhiều về lời nói. Dưới đây là một số lời dạy từ CN
Sống chết ở nơi quyền của lưỡi; Kẻ ái mộ [ai yêu mến] nó sẽ ăn bông trái [được hưởng lợi] của nó. (CN 18:21)
Lời nói thiếu suy nghĩ như lưỡi gươm đâm thủng, Nhưng lưỡi người khôn ngoan chữa lành. (12:18)
Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận; Còn lời xẳng xớm trêu thạnh nộ thêm. 2 Lưỡi người khôn ngoan truyền ra sự tri thức cách phải; Nhưng miệng kẻ ngu muội chỉ buông điều điên cuồng 4 Lưỡi hiền lành giống như một cây sự sống; Song lưỡi gian tà làm cho hư nát tâm thần. (15:1,4)
Lời nói dịu dàng như tàng mật ong, ngọt ngào cho tâm hồn và lành mạnh cho xương cốt. (16:24)
Lời nói xấu đâm buốt như gươm, nhưng lời khôn khiến vết thương lành (CN 12:17-18)
Trả lời trước khi nghe, Ấy là sự điên dại và hổ thẹn cho ai làm vậy. (18:13)
Câu KT mà tín đồ thường hay dùng muốn nói một sự thật khó nói cho người: Nhưng Ngài muốn chúng ta nói lên sự thật trong tình yêu thương để trong mọi sự chúng ta tăng trưởng (Ê-phê-sô 4:15) nói sự thật trong tình yêu thương. Lời dạy này gồm 2 phần: Phần thứ nhất là nội dung hay điều muốn diễn đạt cho người nghe. Nội dung phải chân thật không giả dối. Nội dung lời nói có ích lợi cho người nghe. Phần 2 là cách nói, thái độ, giọng điệu nói. Phải nói trong tình yêu thương. Dù lời có đúng cách mấy, có hay đến mấy nhưng với thái độ giận dữ, nghiệt ngã, cay đắng, mai mỉa thì cũng không ai muốn nghe.
PL có lời khuyên rất đáng học làm theo cho tín đồ HT: Môi miệng anh chị em đừng thốt ra một lời ác độc nào, nhưng nếu cần hãy nói lời lành xây dựng để đem lại ân phúc cho người nghe. 30 Anh chị em đừng làm buồn Thánh Linh Đức Chúa Trời, nhờ Ngài anh chị em được đóng ấn cho ngày cứu chuộc. 31 Hãy lột bỏ khỏi anh chị em tất cả những cay đắng, giận hờn, thịnh nộ, kêu rêu, xúc phạm cùng mọi điều hiểm độc. 32 Anh chị em hãy đối xử với nhau cách nhân từ, thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh chị em trong Chúa Cứu Thế. (Ê-phê-sô 4:29-32 – BDM)
Lời nói anh em phải có ân hậu theo luôn, và nêm thêm muối, hầu cho anh em biết nên đối đáp mỗi người là thể nào (Cô-lô-se 4:6) Từ ân hậu cũng là từ nói về ĐCJC là Đấng đầy ơn và lẽ thật.
Tại sao chúng ta không dùng lời nói để khích lệ, động viên, yêu ủi mà chỉ để đả kích, buộc tội, chê bai, lên án?
[Câu chuyện về lời nói của Mi-canh với Đa-vít khi thấy vua nhảy múa trước hòm giao ước: “Hôm nay vua của I-sơ-ra-ên trông thật vẻ vang ghê! Bữa nay nhà vua đã để thân thể lộ liễu trước mặt bọn nữ tỳ, chẳng khác gì một tiện dân phô bày da thịt mà không biết xấu hổ.” (2 Sa-mu-ên 6:20 - BD2011) ]
Điều quan trọng đáng ghi nhớ là lời dạy và cảnh giác của ĐCJC về lời nói: Bởi vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra. 35 Người lành do nơi đã chứa điều thiện mà phát ra điều thiện; nhưng kẻ dữ do nơi đã chứa điều ác mà phát ra điều ác. 36 Vả, ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói; 37 vì bởi lời nói mà ngươi sẽ được xưng là công bình, cũng bởi lời nói mà ngươi sẽ bị phạt. (Ma-thi-ơ 12:34-37)
GIỮ LỜI HỨA
KT dạy chúng ta KT cũng dạy chúng ta nên chậm hứa để khỏi tự mắc bẫy do chính mình đặt cho mình như lời dạy trong CN: Kẻ hấp tấp khấn hứa, “Con xin biệt riêng vật nầy ra thánh.” Sau khi hứa rồi mới thấy là tự gài bẫy để bắt mình. (CN 20:25). Tôi muốn nói rõ điều này để không ai hiểu lầm: KT không dạy rằng chúng ta không hứa nguyện, cũng như không dạy đừng nên nói, hãy luôn im lặng vì im lặng là vàng, không hứa là khôn!
Chẳng phải KTCU là tiên tri về chương trình cứu rỗi mà ĐCT đã hứa ban cho nhân loại qua ĐCJC hay sao? Câu chuyện về cuộc đời của Áp-ra-ham ghi lại trong STK chẳng phải là lời hứa của ĐCT qua một người trung tín mà hậu tự ông là dân tộc Do Thái sẽ được đông như sao trên trời, cát dưới biển, được nhận đất hứa đượm sữa và mật hay sao? Đoạn, Ngài dẫn người ra ngoài và phán rằng: Ngươi hãy ngó lên trời, và nếu ngươi đếm được các ngôi sao thì hãy đếm đi. Ngài lại phán rằng: Dòng dõi ngươi cũng sẽ như vậy. 6 Áp-ram tin Đức Giê-hô-va, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người. (STK 15:5-6) Và hơn hết chẳng phải từ hậu tự Ạ, từ dân DT sẽ sinh ra một Đấng Cứu Tinh cho cả nhân loại, là ĐCJC hay sao?
Trong một bài giảng tôi cũng đã giải thích về lời hứa đơn phương (một chiều, không điều kiện) của ĐCT cùng Ạ ghi lại trong STK 15. Thời đó lời hứa nguyện không phải chỉ dễ dàng bằng chữ ký, nhưng qua hình ảnh của một sinh vật bị cắt làm đôi nếu không giữ lời hứa. Người thề hứa là người sẽ đi ngang qua giữa hai phần của con vật. Có nghĩa là nếu tôi không giữ giao ước cũng sẽ bị cắt làm hai như các con vật bị cắt làm hai để mỗi bên đối với nhau. Thì chính thân thể tôi sẽ nằm trên đất như một xác chết vì đã không giữ lời giao ước. Xác tôi sẽ làm thức ăn cho chim trên trời, cho sâu bọ dưới đất, cho thú dữ ngoài đồng. Không một cách thề hứa nào tượng hình, rõ ràng và đáng sợ như cách thức này.
Trong thời đó khi một vị vua chinh phục các quốc gia và bắt họ sẽ làm nước chư hầu, như ngày xưa xứ VN chúng ta là nước chư hầu cho TQ, thì vị vua chiến thắng sẽ bắt các vua của những nước bại trận là người đi giữa các thú vật bị cắt làm hai. Để nói rằng nếu các ngươi không giữ lời thề làm nước chư hầu, nếu các ngươi nổi loạn thì chính thân thể của các ngươi cũng sẽ như những xác thú vật bị cắt làm hai này. Vậy người thua trận, người vai vế thấp kém hơn, hèn mọn hơn sẽ là người đi giữa các xác chết thú vật bị cắt làm đôi.
Nhưng một điều hết sức kinh ngạc, lạ lùng là chính ĐCT qua hình ảnh của lò lớn khói và ngọn lửa cháy phừng đi ngang qua các xác thịt đã mổ. BDM viết như sau: Khi mặt trời đã lặn hẳn và bóng tối phủ xuống, bỗng có một lò lửa bốc khói và một ngọn lửa cháy phừng đi qua giữa các sinh tế bị phân đôi. (15:17) Chúa hứa với A về hậu tự và về đất đai rồi chính Ngài lại đi ngang qua những sinh tế bị cắt làm hai. Lẽ ra chính A phải là người đi ngang qua các vật chết bị cắt đôi đó như các nước chư hầu đi qua trước sự chứng kiến của vua chiến thắng.
Hình ảnh ĐCT đi ngang qua các sinh tế cắt làm hai có nghĩa thế nào. Chính ĐCT hứa với A rằng chính Ta sẽ ban cho ngươi hậu tự, đất đai làm sản nghiệp nhưng nếu Ta không làm trọn lời hứa này thì chính Ta sẽ bị phân thây, sẽ bị chết, sẽ bị diệt. Khi ĐCT qua hình lò lửa bốc khói và ngọn lửa cháy phừng đi qua các sinh tế bị cắt làm hai thì không những Chúa nói Ta sẽ chịu chết nếu không giữ những lời này, nhưng quan trọng hơn là Ta sẽ chịu chết nếu ngươi, A và hậu tự ngươi không giữ tròn phần các ngươi. Nếu Ta không giữ lời hứa, Ta sẽ bị dứt bỏ. Nhưng nếu A và hậu tự, con cháu A không giữ tròn lời hứa, thì chính Ta cũng vì các ngươi mà bị dứt bỏ.
Nếu ĐCT không thể không giữ lời hứa và lời thề, thì ai là người bội bạc lời hứa và lời thề? Hậu tự của A, tôi và qv. Vài ngàn năm sau lời giao ước lạ thường này được ứng nghiệm: Ngôi Hai ĐCT là ĐCJC phải chịu chết vì hậu tự A không giữ tròn lời giao ước. Dù giá của lời hứa của ĐCT cùng Ạ rất đắt, đắt đến nỗi ngôi Hai là ĐCJC phải xuống thế gian, chịu chết đau đớn cho tội lỗi chúng ta, thì một khi đã hứa Chúa làm trọn lời hứa đó.
Hơn thế nữa PL viết thế này về lời hứa chúng ta có trong Đấng Christ: Vì Con Đức Chúa Trời, là Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng mà chúng tôi, tức là tôi, Sinh-vanh và Ti-mô-thê, đã truyền giảng cho anh chị em không phải là Đấng vừa "phải" vừa "không" nhưng trong Ngài chỉ toàn là "phải." 20 Vì bất luận bao nhiêu lời hứa của Đức Chúa Trời đều thành tựu trong Ngài và cũng bởi Ngài mà chúng ta nói"a-men" tôn vinh Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 1:19-20 – BDM)
Vì ĐCT là Đấng giữ lời hứa nên người tin và theo Ngài cũng phải là những người giữ lời hứa. Như lời Sô-lô-môn dạy, "khi khấn hứa sự gì với Đức Chúa Trời, chớ chậm mà hoàn nguyện". Niềm tin có giá trị gì nếu không có sự hứa nguyện. Trong việc buôn bán, hợp đồng, giao kèo, khế ước là thể hiện của lời cam kết, hứa hẹn giữa hai bên. Khi yêu nhau, nam nữ thề ước trèo non, lội suối để tìm nhau khi phải chia ly, xa cách, và hứa hẹn cùng nhau trong hôn nhân sẽ sống đời cho đến ngày răng long tóc bạc. Người tin Chúa có bổn phận và trách nhiệm chu toàn những lời hứa nguyện của mình với người và với Chúa.
Chú ý lời nhắc dạy của Sô-lô-môn về lời hứa. Đây là lời hứa tự nguyện chứ không phải vì cưỡng ép, bắt buộc, khi khấn hứa điều gì với Đức Chúa Trời... Thà đừng khấn hứa, hơn là khấn hứa mà lại không trả. Dù là tự nguyện, nhưng một khi đã hứa nguyện thì phải "khá trả cho điều gì ngươi hứa". Nếu không giữ tròn sẽ có một hậu quả, "sao làm cho Đức Chúa Trời nổi giận vì lời nói và làm cho hư công việc của tay ngươi?"
KT có những câu chuyện về lời hứa nguyện ngu xuẩn, dại khờ. Sau-lơ là vua của xứ Do Thái. Khi đang chiến tranh cùng quân Phi-lít-tin thì vì sự căm giận, tức tối, vua Sau-lơ thề với Đức Chúa Trời rằng hễ người nào ăn uống trước chiều tối, trước khi vua thắng được giặc thì sẽ bị xử chết. Con vua là hoàng tử Giô-na-than đói nên ăn mật ong. Vậy đó mà vua đòi chém chết nếu triều thần không can gián. Một lời thề hứa dạy khờ đem lại một hậu quả khó lường (1 Sa-mu-ên 14).
Một câu chuyện khác kể về lời hứa hồ đồ, thiếu suy nghĩ của một nhân vật trong thời các quan xét tên Giép-thê. KT viết trước khi ra trận tranh chiến với quân thù, Giép-thê khẩn nguyện cùng Đức Giê-hô-va rằng: Nếu Ngài phó dân Am-môn vào tay tôi, khi tôi thắng chúng nó trở về, 31 hễ chi ở cửa nhà tôi đi ra đầu hết đặng đón rước tôi, thì nấy sẽ thuộc về Đức Chúa Trời, và tôi sẽ dâng nó làm của lễ thiêu. (QX 11:3-31). Khi thắng trận G. trở về nhà, qv nghĩ điều gì từ nhà đi ra đầu tiên đón ông? Giép-thê trở về nhà mình tại Mích-ba; kìa, con gái người ra đón-rước người, có cầm trống nhỏ và nhảy múa. Nàng là con một của người, ngoài nàng chẳng có con trai hoặc con gái nào khác hơn. (11:34)
Vậy chớ hồ đồ khi chúng ta hứa nguyện với người và với Chúa. Lời của Mô-se dạy dân sự như sau: Nếu anh chị em hứa nguyện với CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em một điều gì thì đừng chậm trễ nhưng phải làm xong lời hứa nguyện mình, vì chắc chắn CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em sẽ đòi hỏi anh chị em thực hiện điều đã hứa nguyện, nếu không giữ lời hứa nguyện, anh chị em sẽ phải mang tội. 22 Nhưng nếu anh chị em tự kiềm hãm và không hứa nguyện thì không phải mang tội. 23 Bất kỳ điều gì anh chị em nói ra thì phải nhất quyết làm cho xong, vì chính miệng anh chị em đã tự hứa nguyện với CHÚA, Đức Chúa Trời của anh chị em. (PT 23:21-23 – BDM)
Có người hỏi lời hứa và lời thề giống nhau hay khác nhau? Câu trả lời là cả hai. Giống nhau là cả hai lời hứa và lời thề chỉ có ý nghĩa khi chủ ý, tự nguyện, và bày tỏ lòng cam kết sẽ thực hiện một điều gì đó. Điều khác nhau là lời thề là một lời hứa nguyện về điều hệ trọng và được chứng giám bởi một người thứ ba hay một Đấng cao cả hơn mình. Cha mẹ hứa dẫn con đi sở thú, xem hát chứ không bao giờ thề cả. Nhưng khi nhậm các chức vụ quan trọng như tổng thống, thủ tướng, dân biểu, mọi người đều đặt tay lên KT mà hứa nguyện, có nghĩa là thề. Khi nam nữ lập gia đình, hai người không chỉ hứa nguyện với nhau nhưng còn với ĐCT nên có thể gọi lời hứa nguyện đó là lời thề.
Sách Hê-bơ-rơ giải thích như sau: Khi Đức Chúa Trời hứa cùng Áp-ra-ham, và vì không thể chỉ Đấng nào lớn hơn, nên Ngài chỉ chính mình Ngài mà thề với người rằng: 14 Chắc ta sẽ ban phước cho ngươi nhiều, và khiến hậu tự ngươi sanh sản đông thêm. 15 Ấy, Áp-ra-ham đã nhịn nhục đợi chờ như vậy, rồi mới được điều đã hứa. 16 Người ta thường mượn danh một Đấng lớn hơn mình mà thề, phàm có cãi lẫy điều gì, thì lấy lời thề mà định. 17 Đức Chúa Trời cũng vậy, muốn càng tỏ ra cho những kẻ hưởng lời hứa biết ý định Ngài là chắc chắn không thay đổi, thì dùng lời thề. (Hê 6:13-17)
Hai từ hứa và thề trong đoạn KT này khác nhau. Hứa là tuyên bố, cho biết sẽ làm việc gì đó; thề là hứa về một điều hết sức hệ trọng với sự chứng giám của một người thứ ba. Vì không thể chỉ Đấng nào lớn hơn, nên Ngài chỉ chính mình Ngài mà thề với người.
Nếu ĐCT cũng đã hứa và thề cùng Ạ thì tại sao ĐCJC dạy chúng ta không nên thề: Các ngươi còn có nghe lời phán cho người xưa rằng: Ngươi chớ thề dối, nhưng đối với Chúa, phải giữ vẹn lời thề mình. 34 Song ta phán cùng các ngươi rằng đừng thề chi hết: đừng chỉ trời mà thề, vì là ngôi của Đức Chúa Trời; 35 đừng chỉ đất mà thề, vì là bệ chân của Đức Chúa Trời; đừng chỉ thành Giê-ru-sa-lem mà thề, vì là thành của Vua lớn. 36 Lại cũng đừng chỉ đầu ngươi mà thề, vì tự ngươi không thể làm cho một sợi tóc nên trắng hay là đen được. 37Song ngươi phải nói rằng: phải, phải; không, không. Còn điều người ta nói thêm đó, bởi nơi quỉ dữ mà ra. (Ma-thi-ơ 5:33-37)
Hay như Gia-cơ dạy: Hỡi Anh em, trước hết chớ có thề, chớ chỉ trời, chỉ đất, cũng chớ chỉ vật khác mà thề; nhưng phải thì nói phải, không thì nói không, hầu cho khỏi bị xét đoán. (Gia-cơ 5:12)?
Lời của ĐCJC và Gia-cơ không phải cấm người tin Chúa không bao giờ được thề nhưng đừng vội thề thốt về bất cứ điều gì. Chính PL cũng đã có lời thề nguyện với ĐCT và bày tỏ qua việc cạo đầu: Phao-lô ở lại thành Cô-rinh-tô ít lâu nữa, rồi từ giã anh em, xuống thuyền đi với Bê-rít-sin và A-qui-la qua xứ Sy-ri, sau khi đã chịu cạo đầu tại thành Sen-cơ-rê, vì người có lời thề nguyện. (CV 18:18).
Hay như lời thề của thiên sứ trước ĐCT: Thiên sứ tôi thấy đang đứng trên biển và đất đưa tay phải lên trời, 6 nhân danh Đấng Hằng Sống đời đời, là Đấng sáng tạo bầu trời và mọi vật trên trời, đất và muôn vật trên đất, biển và mọi vật dưới biển, mà thề rằng: "Đã hết thời hạn rồi…” (KH 10:5-6 – BDM)
Không phải khi nhận lễ báp-tem chúng ta không chỉ hứa nguyện nhưng còn bày tỏ sự thề nguyện trước hội thánh là nhân chứng rằng từ này sẽ bước đi trọn đời với Chúa hay sao?
Lời ĐCJC và Gia-cơ dạy rằng chớ đụng việc gì cũng thề thốt bởi vì không phải việc gì cũng hệ trọng đến nỗi cần ĐCT hay một ai đó chứng giám. Người hay thề thốt về những việc không đáng là người thường muốn người mình hứa xem lời hứa đó là hệ trọng và chắc chắn. Nhưng nếu biết mình sẽ giữ lời thì cần gì phải thề? Chỉ bày tỏ lời hứa là đủ rồi. Vì vậy Chúa dạy: chớ thề, có nói có, không nói không.
Lời Chúa cũng nhắc chúng ta một điều vô cùng quan trọng: chớ coi thường lời hứa nguyện trước sự chứng giám của ĐCT, hay coi thường danh của Chúa. Và đây cũng là lời dạy của S. 2 Đừng nhạy miệng, Và con cũng đừng hấp tấp, Thốt lời thề nguyện trước mặt Đức Chúa Trời; Vì Đức Chúa Trời ở trên trời, Còn con ở dưới đất; Vậy con hãy cân nhắc từng lời nói. 3 Vì nhiều suy tư sinh ra mộng tưởng, Nhiều lời sinh ra dại khờ. 4 Khi con khấn nguyện với Đức Chúa Trời, hãy vội vã làm trọn điều khấn nguyện, vì kẻ dại không làm vui lòng Ngài. Hãy làm trọn điều con khấn nguyện. 5 Thà đừng khấn nguyện, hơn là khấn hứa mà không làm trọn. 6 Đừng để miệng con gây cho con phạm tội. Đừng nói với thầy tế lễ "Tôi lầm lỡ khấn nguyện." Sao con làm cho Đức Chúa Trời nổi giận vì lời khấn nguyện của con đến nỗi Ngài hủy diệt công trình tay con làm? 7 Ở đâu có nhiều mộng mị, đó có nhiều điều hư không, và nhiều lời. Phần con, phải kính sợ Đức Chúa Trời.
Khi vào nhà Chúa chúng ta nhớ giữ tâm trí để ý thức rõ rằng đây là nơi thiêng liêng, nơi thờ phượng Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng cần giữ gìn lời nói, đừng nghĩ rằng nhiều lời mà đẹp lòng Chúa. Trái lại, nói ít nghe nhiều. Dọn giữ tâm hồn để nghe tiếng phán dạy, tiếng an ủi động viên của Chúa. Và chúng ta cũng cần giữ trọn lời hứa nguyện với người và với Chúa chúng ta. Ba điều này sẽ giúp chúng ta thật sự thờ phượng thông công, học hỏi, và được động viên khi chúng ta vào nhà của Chúa.
Truyền Đạo 5:1-7 gồm những lời dạy hết cụ thể và thực tế về thái độ khi chúng ta vào nhà Chúa. Trong đoạn Kinh Thánh này của quyển hồi ký về cuộc hành trình đi tìm ý nghĩ, mục đích cho cuộc sống dưới ánh mặt trời, vua Sô-lô-môn ý thức về một khía cạnh quan trọng trong cuộc sống: sự thờ phượng Thượng Đế. Bởi vì đây là một khao khát căn bản, tự nhiên trong tâm hồn mỗi chúng ta.
