Nô-ê – Người Được Ơn Chúa
Tôi có một vài câu đố liên quan đến bài giảng hôm nay. Khi tôi nói một từ, qv sẽ nói về một từ khác liên hệ đến từ tôi nói. Ví dụ như khi tôi nói: New York, qv có thể nói tượng nữ thần tự do; hay như khi tôi nói Washington DC, qv có thể nói thủ đô HK; hay khi tôi nói: cô Lan, qv có thể nói … vừa đẹp lại vừa giỏi! (tôi chỉ đùa về điều này!) Tôi cho qv thử trước: Nguyễn Du – Truyện Kiều. Chúng ta bắt đầu: Hà Nội (thủ đô VN, Hồ Hoàng Kiếm); Hamburger (hotdog); Đa-vít (Goliath, Saul, Betsheba); Solomon (khôn ngoan); Phi-e-rơ (chối Chúa, hồi phục); Nô-e, cơn lụt lớn.
Thật vậy khi nghĩ về một nhân vật trong KT, chúng ta thường nghĩ đến một tính hạnh, một nét đặt thù, một điểm nổi bật, một thành công, một thất bại của nhân vật đó. Khi nghĩ về Nô-e thường hơn hết chúng ta nghĩ về cơn lụt lớn (đại hồng thủy) mà ĐCT dùng để tiêu diệt dân chúng độc ác thời đó. Tuy nhiên một hình ảnh khác rất quan trọng về Nô-e mà chúng ta ít nghĩ đến hơn: Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va. Nầy là dòng dõi của Nô-ê. Nô-ê trong đời mình là một người công bình và trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời. (STK 6:8-9)
Ba điều trong bài giảng: 1) Nô-ê - Người được ơn Chúa; 2) Người công bình, trọn vẹn; 3) Người đem lại sự yên ủi
NÔ-Ê – NGƯỜI ĐƯỢC ƠN CHÚA
Trong thời Nô-e, trước cơn lụt lớn, STK 6 cho biết con người, cả thế gian đều độc ác, ích kỷ, bại hoại, hung bạo. Xã hội đầy dẫy tội ác, bạo lực, cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh nuốt kẻ yếu. KT cho biết cả thế giới đầy tràn tội ác, hung bạo, trong ý nghĩa con người luôn dự tính những điều gian ác đến nỗi ĐCT hối tiếc đã tạo nên con người và quyết định sẽ hủy diệt tất cả các sinh động vật trên đất: Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn, thì tự trách đã dựng nên loài người trên mặt đất, và buồn rầu trong lòng. Đức Giê-hô-va phán rằng: Ta sẽ hủy diệt khỏi mặt đất loài người mà ta đã dựng nên, từ loài người cho đến loài súc vật, loài côn trùng, loài chim trời; vì ta tự trách đã dựng nên các loài đó. (6:5-7)
Điều này lại được lập lại lần thứ hai trong 6:11-13: Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Đức Chúa Trời và đầy dẫy sự hung ác. Nầy, Đức Chúa Trời nhìn xem thế gian, thấy điều bại hoại, vì hết thảy xác thịt làm cho đường mình trên đất phải bại hoại. 13 Đức Chúa Trời bèn phán cùng Nô-ê rằng: Kỳ cuối cùng của mọi xác thịt đã đưa đến trước mặt ta; vì cớ loài người mà đất phải đầy dẫy điều hung hăng; vậy, ta sẽ diệt-trừ họ cùng đất. Câu vì cớ… hàm ý rằng sự hung ác của loài người trầm trọng đến nỗi khiến cho loài súc vật cũng trở nên độc ác, hung bạo.
Nhưng giữa 2 quyết định của ĐCT hủy diệt loài người là 2 câu KT về Nô-ê: Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va. 9 Nầy là dòng dõi của Nô-ê. Nô-ê trong đời mình là một người công bình và trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời. 10 Nô-ê sanh ba con trai là Sem, Cham và Gia-phết. (6:8-10) Chính bởi Nô-ê nên cùng với quyết định hủy diệt cả loài người, thú vật trên đất, ĐCT cũng quyết định sẽ cứu Nô-ê và gia đình ông: vợ, 3 con trai và 3 con dâu. Tôi muốn lập lại ý quan trọng này: trong vòng thế gian bại hoại đến nỗi ĐCT quyết định sẽ hủy diệt tất cả, Ngài vẫn có lòng nhân từ để cứu một người công chính và gia đình ông. Ai bảo ĐCT không công bình, không có lòng nhân từ khi ngày trừng phạt con người?
Trong cả KTCU & TU Nô-ê được nhắc đến 50 lần trong 9 sách khác nhau. Ngay cả ĐCJC khi nói về ngày Chúa sẽ trở lại cũng dùng thời Nô-ê trước cơn đại lụt để làm ví dụ: Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy. 38 Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu, 39 và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, khi Con người đến cũng như vậy. (Ma-thi-ơ 24:37-39).
Nô-ê là một nhân vật quan trọng trong KT và thời kỳ Nô-ê là thời kỳ quan trọng. Quan trọng không chỉ vì KT đề cập nhiều lần về ông và thời kỳ trước cơn lụt lớn nhưng cũng bởi vì Nô-ê là một nhân vật chuyển tiếp giữa thời trước và sau cơn lụt lớn khi cả thế gian đều bị hủy diệt. Trong thế giới hoàn toàn mới mẻ sau cơn lụt lớn, chỉ có Nô-ê và gia đình ông là những người biết, kinh nghiệm về sự độc ác, hung bạo, tội lỗi của con người trước đó thế nào. Nô-ê đã sống suốt 600 năm trời giữa sự hung ác của con người thời trước cơn lụt lớn. Ông đã thấy, nghe, biết, kinh nghiệm bao nhiêu về tội lỗi xảy ra hằng ngày. Trong vòng 120 năm, Nô-ê chắc chắn cũng đã thấy, nghe, biết, kinh nghiệm rất nhiều về sự mai mỉa, chế diễu, chống đối, thậm chí chửi mắng của dân chúng khi lời của ĐCT đóng một chiếc tàu lớn.
KT viết về Nô-ê trong thời gian đó, Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va. (STK 6:8). Thông thường người ta nói một người, gia đình được ơn Chúa khi nhìn thấy kết quả, thành công, con cái học hành đỗ đạt, gia đình vui vẻ. Được ơn hay không là tùy theo điều ĐCT ban cho. Đây là một ý nghĩ hết sức sai lầm. Vì nếu như vậy các sứ đồ của ĐCJC đã không được ơn vì 11 người đều bị xử chết, thì không thể gọi PL được ơn Chúa vì bao nhiêu gian khổ xảy đến với ông khi hầu việc Chúa, cuối cùng lại bị chém đầu. Còn bao nhiêu trăm ngàn tín đồ tại các vùng cao nguyên VN nghèo khó, bị bắt bớ; các tín đồ tại các xứ Phi Châu nghèo khó, phải đi bộ hàng giờ mới đến được nơi thờ phượng Chúa thì sao?
Từ ơn đây trong tiếng nguyên thủy là chen (shen), từ gốc chữ chanan (kha-nan) có nghĩa là có lòng thương xót, làm ơn cho. Từ chanan có hình ảnh của một người trên cuối xuống người thấp hơn mình vì lòng tử tế, lòng thương xót. Vậy từ này cho thấy sự làm ơn này chỉ có một chiều, chớ không phải bởi vì người dưới làm điều gì tốt, hay nên được ơn của người trên. Đây là một ý quan trọng mà chúng ta cần nhớ khi đọc trong KT về một người được ơn Chúa: không phải bởi vì phẩm hạnh, công đức của họ, nhưng bởi lòng nhân từ, thương xót của ĐCT cho người có lòng khiêm nhường, chân thành hướng về Chúa và tìm kiếm Ngài. Các ngươi sẽ tìm ta, và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm ta hết lòng. (Giê-rê-mi 29:13); Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho. 8 Bởi vì, hễ ai xin thì được; ai tìm thì gặp; ai gõ cửa thì được mở. (Ma-thi-ơ 7:7) Không phải xin, tìm, kiếm vật chất, của cải, sắc đẹp, thành công, nhưng xin, tìm, kiếm Chúa hết lòng thì sẽ gặp được Ngài.
Dân sự Y-sơ-ra-ên là dân tuyển của ĐCT. Chúa giải thoát họ khỏi vòng nô lệ khốn khổ trong mấy trăm năm tại xứ Ai-cập và đem họ đến vùng đất hứa tốt đẹp, màu mở. Có phải bởi vì dân đó là những người công chính, trọn vẹn trước mặt ĐCT hay không? Trái lại họ là một dân cứng cổ, mau than vãn, cằn nhằn, mau trách móc khi gặp khó khăn hay thiếu thốn, mau phạm tội cùng Chúa. Trước khi vào vùng đất hứa, Mô-se nhắc nhở dân ấy như sau: Vậy, khá biết rằng chẳng phải vì cớ sự công bình ngươi mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi cho ngươi nhận lấy xứ tốt tươi nầy đâu; bởi ngươi vẫn là một dân cứng cổ. 7 Hãy nhớ lại, chớ quên rằng, trong đồng vắng ngươi đã chọc giận Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi. Từ ngày ra khỏi xứ Ê-díp-tô cho đến chốn nầy, ngươi thường phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va. (PT 9:6-7)
Vậy khi STK 6:5 viết về Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va thì qv phải nhớ rõ rằng không phải bởi vì Nô-ê là người công bình, trọn vẹn hay trung tín đồng đi với ĐCT nhưng bởi vì ân điển, lòng nhân từ, tình yêu thương của Chúa đối với ông.
NÔ-Ê – NGƯỜI CÔNG BÌNH, TRỌN VẸN
Chú ý về thứ tự của 2 câu KT trong STK 6:8-9: Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va. 9 Nầy là dòng dõi của Nô-ê. Nô-ê trong đời mình là một người công bình và trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời. Nô-ê được ơn trước mặt ĐGHV không phải bởi vì ông là người công bình, trọn vẹn, đồng đi với ĐCT. Trái lại, sự công bình, trọn vẹn và đồng đi với ĐCT là bông trái của sự được ơn phước Chúa. Nói cách khác sự công bình, trọn vẹn và đồng đi với ĐCT là bằng chứng cụ thể, rõ ràng của sự được ơn Chúa, chứ không phải là nguyên nhân, lý do để được ơn Chúa. Đây là một điều vô cùng quan trọng. Nếu qv hiểu sai điều này thì qv đã hiểu sai hoàn toàn về sự công bình, trọn vẹn của Nô-ê, hiểu sai toàn bộ Tin Lành về sự cứu tội qua sự chết, sống lại của ĐCJC.
Đến ngày 31 tháng 10 tới đây HT toàn cầu sẽ kỷ niệm 500 năm ngày một tu sĩ người Đức tên Martin Luther đóng trên cửa của một nhà thờ tại Wittenberg một bài viết gồm có 95 điều luận (theses) vấn hỏi HT Công Giáo về sự cứu rỗi, về đức tin, và các vấn đề thục linh khác. Sự kiện đó là khởi đầu của phong trào Cải Cách Tôn Giáo (the Reformation), [Protestant – Kháng Cách]. Và nền tảng của cuộc cải cách đó là 5 tín lý duy nhất (5 solas):
1) Duy Kinh Thánh (Sola Scriptura) – KT là thẩm quyền tối thượng;
2) Duy Đức Tin (Sola Fide) – Con người được xưng công chính (nghĩa là trở nên vô tội trong mắt Chúa) chỉ bởi đức tin, không phải bởi việc lành. Đức tin dẫn đến sự cứu rỗi luôn luôn sanh ra các việc lành. "Đức tin dẫn đến sự xưng công chính và việc lành", trái với xác tín của Công giáo "Đức tin và việc lành dẫn đến sự xưng công chính". Tín lý này có thể được xem là nền tảng hình thành cuộc cải cách tôn giáo của Martin Luther.
3) Duy Ân Điển (Sola Gratia) - Chỉ bởi ân điển mà con người nhận lãnh sự cứu rỗi, không phải bởi công đức. Như thế, cứu rỗi là sự ban cho đến từ ĐCT, không phải từ nỗ lực của con người.
4) Duy Chúa Jesus (Sola Christus/Christo) - ĐCJC là Đấng Trung bảo duy nhất giữa ĐCT và loài người. Không phải Mary, hoặc các thánh, cũng không phải linh mục (hoặc bất kỳ ai khác ngoài ĐCJC) có thể hành xử như là đấng trung bảo để đem sự cứu chuộc đến cho loài người.
5) Duy Vinh Hiển ĐCT (Sola Deo Gloria) - Mọi vinh hiển đều thuộc về Chúa, vì sự cứu rỗi là công việc bởi tay Ngài làm – không chỉ là sự chết chuộc tội của Chúa Giê-xu trên thập tự giá, nhưng còn là sự ban cho đức tin hầu con người được cứu rỗi bởi sự chuộc tội ấy. Con người (như các thánh và giáo hoàng của Giáo hội Công giáo) và các tổ chức giáo phái (Giáo hội) không xứng hiệp để nhận sự tôn vinh này.
Câu KT khiến cho Luther thay đổi suy nghĩ và thật sự hiểu rõ về sự cứu tội của ĐCJC là: vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin. (Rô-ma 1:7) Từ công bình trong câu KT này không phải là công bình của loài người nhưng là sự công bình của ĐCT qua ĐCJC cho loài người. Để nhận được sự công bình này của ĐCJC chúng ta chỉ có thể đón nhận qua niềm tin chân thành, chứ không bởi công đức hay việc lành.
Câu KT quen thuộc về sự cứu rỗi bởi ân điển qua đức tin trong Ê-phê-sô 2:8-9: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình. Chính vì được cứu nhờ ân điển bởi đức tin, là sự ban cho của ĐCT, không phải bởi việc làm nên KHÔNG AI có thể khoe mình. KHÔNG AI gồm cả Nô-ê!
Cũng chính vì lý do này mà sự kiêu hãnh là một tội rất lớn. Khi thầm nghĩ rằng Chúa cứu tôi là đúng, bởi vì tôi sống công chính; hay tôi sống công chính hơn người này, người nọ thì chúng ta đã mắc tội kiêu ngạo, đã phạm tội cùng ĐCT rồi. Sau Ê-phê-sô 2:8-9 rồi mới đến câu 10: vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo. Bản dịch 2011 thật rõ ràng, tuyệt vời: Vì chúng ta là những tác phẩm của Ngài, được tạo dựng trong Ðức Chúa Jesus Christ, để thực hiện những việc tốt đẹp mà Ðức Chúa Trời đã chuẩn bị trước, hầu chúng ta cứ theo đó mà sống.
Qv cũng chú ý câu 9: Nô-ê trong đời mình là một người công bình và trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời. Trong đời mình là một chi tiết quan trọng. Câu KT này nói rằng sự công bình, trọn vẹn của Nô-ê không phải là tuyệt đối nhưng khi so với dân chúng trong thời đó.
KT dạy rõ: Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Rô-ma 3:23); Như có chép: “Chẳng có ai công chính cả, dù một người cũng không. Chẳng có ai hiểu biết. 11 Chẳng có ai tìm kiếm Đức Chúa Trời; tất cả đều lầm lạc, đều trở thành vô ích; 12 chẳng ai làm điều lành, không được lấy một người. (3:10-12)
Thật, chẳng có người công bình ở trên đất làm điều thiện, mà không hề phạm tội. (Truyền Đạo 7:20)
Mọi điều công chính của chúng tôi như chiếc áo bẩn thỉu. Tất cả chúng tôi đều tàn héo như chiếc lá Và tội lỗi chúng tôi như cơn gió cuốn chúng tôi đi. (Ê-sai 64:6)
Thật vậy trong STK 9 sau cơn lụt lớn, khi sự sống bắt đầu hồi phục trên mặt đất, thì Nô-ê lại vấp ngã khi ông uống rượu say sưa nằm lõa lồ, trần truồng giữa trại. Chúng ta sẽ đọc về câu chuyện này trong bài giảng tới.
Nhưng không phải bởi vì chúng ta được cứu qua ân điển bởi đức tin, chứ không phải bởi việc công đức nên người tin Chúa không làm việc công đức. Qv chắc thường nghe: người tin Chúa được cứu không phải vì việc lành, nhưng được cứu để làm việc lành. Việc làm thiện, tốt, lành là sản phẩm, là bông trái của sự cứu rôi, từ ơn phước Chúa ban. Chứ không phải việc lành là nguyên nhân hay lý do của sự cứu rỗi. Gia-cơ dạy rất rõ Về đức tin, cũng một lẽ ấy; nếu đức tin không sanh ra việc làm, thì tự mình nó chết. 18 Hoặc có kẻ nói: Ngươi có đức tin, còn ta có việc làm. Hãy chỉ cho ta đức tin của ngươi không có việc làm, rồi ta sẽ chỉ cho ngươi đức tin bởi việc làm của ta. (Gia-cơ 2:17-18)
Được Chúa khen là một người công bình và trọn vẹn, đồng đi với ĐCT là một lời khen tặng, một danh dự rất lớn. Không có bao nhiêu nhân vật trong KT có những phẩm hạnh này như Nô-ê. Nhưng lý do chính khiến chúng ta khâm phục, khen ngợi Nô-ê là bởi vì ông là người độc nhất trong thế giới, xã hội thời đó bước đi trung tín với Chúa giữa vòng con người ngày càng tội lỗi, bại hoại.
Khi ở trên một hoang đảo, không có điều kiện để phạm tội, thì dù con người có thể phạm tội trong tư tưởng, suy nghĩ, trong dự tính nhưng vì không có điều kiện nên khó biến ra hành động. Khi hoàn toàn không có các sòng bài, thì dù nghiện đến mấy cũng không có điều kiện để chơi bài đến nỗi tán gia bại sản. Khi không có môi trường để phạm tội tà dâm, để hút sách, say sưa thì khó hơn để lan chạ hay nghiện ngập. Chính vì vậy mà tục ngữ VN có câu: Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng. Có nghĩa là môi trường, bè bạn ảnh hưởng con người.
Mạnh Tử mồ côi cha từ nhỏ, sống với mẹ là Chương Thị. Vì nghèo, nên mẹ con Mạnh Tử phải lây lất sống gần nghĩa địa. Thấy người ta đào mồ, chôn người rồi lăn lộn, khóc lóc thảm thiết nên Mạnh Tử cũng bắt chước làm như vậy. Mẹ thấy vậy nên dời nơi ở đến gần chợ. Ở đó, Mạnh Tử thấy người ta cân bán, trả giá, đổi chác hàng hóa nên cũng bắt chước mua bán, thương lượng giá cả. Mẹ thấy vậy lo ngại nên lại đổi chỗ ở. Lần này đến gần trường học. Ở đó thấy trẻ con bằng tuổi học hành chăm chỉ nên Mạnh Tử thấy vậy cũng bắt chước học hành chăm chỉ như người. Bà mẹ nghĩ “Đây mới là chỗ đáng cho con ta ở vậy!”
Ngày xưa thời tôi lớn lên tại Sài Gòn, nghe đến vùng Khánh Hội, Tôn Đảng thì ai cũng chạy dài, tránh xa vì đó là khu băng đảng, buôn bán thuốc cấm, chơi bời trụy lạc, tranh dành lãnh thổ giữa đảng này với đảng nọ. Hôm nay nhờ Tin Lành thay đổi hoàn toàn đời sống của cả những bậc anh chị trùm đầu đảng, đến những người nghiện ngập, nên hai khu này có những hội thánh rất lớn, nhiều tín đồ trưởng thành bước đi với Chúa, trung tín rao giảng TL, thể hiện trái Thánh Linh trong đời sống, làm gương tốt cho đồng bào chung quanh.
Thời Nô-ê, dân chúng hung bạo, độc ác, mọi suy nghĩ đều bại hoại; cả xã hội đầy dẫy tội lỗi, đến nỗi cả ĐCT, Đấng đầy lòng nhân từ, chậm nóng giận, hay thương xót, cũng phải hối tiếc vì đã tạo nên những người này. Nô-ê là người duy nhất sống công bình, trọn vẹn, là người duy nhất đồng đi trung tín với ĐCT cho dù áp lực, ảnh hưởng xã hội thế nào. Không khó cho chúng ta có thể tưởng tượng đến sự nhạo báng, chế diễu, nhục mạ của dân chúng khi ông không làm theo những điều họ làm, sống như họ sống. Và trong 120 năm khi Nô-ê và gia đình ông đóng chiếc tàu thật lớn thì chắc họ bảo ông là đồ điên, đồ khùng, đồ mất trí, tin Trời mù quáng, ngu dại, làm việc ầu ơ, ngu dại.
KT gọi Nô-ê là người rao giảng sự công chính qua chính cuộc sống vâng phục lời Chúa dạy, ngay cả việc đóng tàu trong 120 năm dài: … Ngài đã không dung thứ thế giới xưa, mà đem nước lụt đến tiêu diệt thế giới gian ác đó, chỉ chừa lại tám người kể cả Nô-ê, người rao giảng sự công chính (2 Peter 2:5)
Áp lực của môi trường là một trong những áp lực lớn nhất trong đời sống, đặc biệt với các thiếu nhi, thiếu niên và thanh niên. Các em bị áp lực bè bạn (peer pressure) mà buộc phải làm theo, nếu không sẽ bị xa lánh, chọc ghẹo, thậm chí hành hung qua text hay bằng vũ lực. Bullying (hiếp đáp) là một vấn đề quan trọng đối với con em chúng ta khi đi học. Cha mẹ cần quan sát, chú ý, phải thăm hỏi con em mình. Phải có quan hệ với con em và tìm một môi trường tốt để con em có nơi sinh hoạt lành mạnh. Vì vậy như người MSQN tôi cố gắng để tạo cho con em chúng ta một môi trường an toàn, có tình yêu thương chân thật, được chăm sóc, động viên, khích lệ, có bè bạn trong Chúa. Đây cũng là trách nhiệm của những người lớn, người làm cha mẹ trong HT.
NÔ-Ê – NGƯỜI MANG NIỀM VUI VÀ YÊN ỦI
Nô-e là con cháu thuộc dòng dõi Sết, con cháu của Ê-nóc là người được chính ĐCT cất về trời trước khi chết Hê-nóc đồng đi cùng Đức Chúa Trời, rồi mất biệt [biệt tăm], bởi vì Đức Chúa Trời tiếp người đi. (5:24). Khi sinh ra, Lê-méc nói về Nô-ê, đứa con trai mình như sau: Đứa nầy sẽ an ủi lòng ta về công việc và về sự nhọc nhằn mà đất bắt tay ta phải làm, là đất Đức Giê-hô-va đã rủa sả. (5:29) Rõ ràng cha ông đặt nhiều hy vọng vào đứa con trai này sẽ là một niềm vui, nguồn an ủi cho mình khi phải làm việc cực khổ, khó nhọc để kiếm miếng ăn.
Nhiều người tại đây là cha mẹ. Khi sinh con chúng ta có rất nhiều hy vọng. Vì vậy chúng ta đặt tên con mình nào là Tấn - tiến bộ (chứ không phải nặng một tấn!), Dung – xinh đẹp; Dũng – anh hùng… Thực tế đời sống là không phải tên của đứa con nào cũng phản ánh tính hạnh, cư xử, cuộc sống của nó. Tên tôi là Tấn nhưng trong khoảng đời đầu tiên cho đến khi tôi tin Chúa năm 24 tuổi, tôi chẳng tấn tới gì trong đời sống, ngược lại đi lùi vì những trụy lạc, tội lỗi, thờ ơ, bất hiếu với cha mẹ.
Khi đọc những điều KT viết về Nô-ê trong khoảng đời trước và giữa cơn lụt lớn, thì thật ông chắc là một niềm vui, niềm an ủi cho cha mẹ vì là một người người công chính và không có gì đáng trách giữa những người đồng thời với ông, và đồng đi với Đức Chúa Trời. Không ai có thể gọi một đứa con ngỗ nghịch ngang bướng, làm buồn lòng cha mẹ là công chính, không có gì đáng trách, huống chi khi so sánh với tất cả những người đồng thời đó.
Tôi cũng muốn nhắc nhở các anh chị em thanh niên, và cả những người làm con trong HT nên như Nô-ê là một an ủi lớn, một sự giúp đở lớn cho cha mẹ trong công việc, khi phải nhọc nhằn để kiếm sống. Bằng cách nào? Vâng lời cha mẹ + siêng năng phụ giúp trong việc nhà, trong việc làm để phụ cho gia đình + siêng năng học hành + nói năng nhỏ nhẹ, lễ phép với cha mẹ + yêu mến Chúa, sống làm theo điều Chúa dạy hiếu kính cha mẹ.
Tín đồ của Chúa phải là những người đem đến niềm vui, sự động viên, khích lệ, an ủi cho người chung quanh. ĐCJC dạy người tin Chúa thật sự phải là muối và ánh sáng của thế gian. Phải là nguồn ơn phước cho người quanh mình. Ai nhận mình là môn đồ Chúa Jesus mà đi đến đâu thì đem đến sự xích mích, cải vả, chia rẽ, bất hòa, tranh chấp thì phải hỏi lại chính mình. Ai nhận mình là tín đồ mà lúc nào cũng nói xấu, chê bai người khác, lúc nào cũng hờn giận, trách móc, lúc nào cũng so đo, canh nạnh với người, nhất là với anh chị em trong hội thánh, thì phải tự hỏi lại mình có thật sự có trái Thánh Linh trong đời sống không.
Vả, các việc làm của xác thịt là rõ ràng lắm: ấy là gian dâm, ô uế, luông tuồng, 20 thờ hình tượng, phù phép, thù oán, tranh đấu, ghen ghét, buồn giận, cãi lẫy, bất bình, bè đảng, 21 ganh gổ, say sưa, mê ăn uống, cùng các sự khác giống như vậy. Tôi nói trước cho anh em, như tôi đã nói rồi: hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng nước Đức Chúa Trời. 22 Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ: 23 không có luật pháp nào cấm các sự đó. (Ga-la-ti 5:19-23)
Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhân từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy. Nhưng trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành. (Cô-lô-se 3:12-14)
Rốt lại, hỡi anh em, phàm điều chi chân thật, điều chi đáng tôn, điều chi công bình, điều chi thánh sạch, điều chi đáng yêu chuộng, điều chi có tiếng tốt, điều chi có nhân đức đáng khen, thì anh em phải nghĩ đến. (Phi-líp 4:8)
ĐCT cũng muốn tìm một Nô-ê ngay tại hội thánh này, tại thành phố này để có thể nói về sự công chính của ĐCT cho đồng hương: Ta đã cố tìm trong vòng chúng xem có ai muốn sửa lại chỗ tường thành đã đổ vỡ, và vì cớ đất nước nầy mà đứng vào chỗ bị đổ vỡ ở trước mặt Ta để Ta không tiêu diệt nó, nhưng Ta chẳng tìm được một người. Vì thế Ta phải trút đổ cơn thịnh nộ của Ta trên chúng. (Ê-xê-chi-ên 22:30 – BD2011)
