Niềm Tin Cơ Đốc – Lạc Quan Hay Bi Quan?
Quốc gia HK đang kỷ niệm ngày lễ độc lập lần 244. Đây là lần đầu tiên trong 40 năm từ khi tôi định cư tại xứ này, tại thủ đô Washington DC sẽ không có đoàn dân đông hàng 100 ngàn người sát cạnh nhau để mừng ngày lễ độc lập July 4. Chắc sẽ có pháo bông nhưng sẽ không có đám đông như bao nhiêu năm trước. Lý do là vì cơn dịch covid-19.
Trong tuần qua hai ngày liên tục con số nhiễm bịnh lên đến 50K người mỗi ngày. Đây là một lý do khiến cho dân chúng HK, gồm cả tôi và qv đây, không mấy lạc quan. Trước một cơn đại dịch toàn cầu vẫn còn đang gây bệnh cho hàng trăm triệu người, vẫn chưa có thuốc chữa trị, trước một nền kinh tế đang khủng hoảng vì công xưởng phải đóng cửa hay chỉ mở giới hạn, trước những biến động về xã hội, chính trị: những cuộc biểu tình, bạo loạn, các tượng bị lật đỗ, đòi hỏi bình đẳng, nhân quyền, đòi hỏi giải thể lực lượng cảnh sát, trước những tranh chấp, xung đột giữa các quốc gia trên thế giới, ai lại không cảm thấy giao động, có lúc cảm thấy bi quan. Ai đây gồm cả tín đồ ĐCJC.
Câu hỏi tôi muốn cùng qv suy nghĩ trong bài giảng hôm nay là niềm tin Cơ Đốc, niềm tin vào ĐCJC của chúng ta lạc quan hay bi quan? Câu trả lời cho câu hỏi này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ và phản ứng của người tin Chúa trước thực tế khó khăn, trước những thử thách to lớn đang xảy ra trước mắt chúng ta tại quê hương chúng ta đang sống và trên toàn cầu.
Đoạn KT tôi chọn cho bài giảng là lời nhắc nhở, có thể gọi là lời trối trăn của ĐCJC trong đêm cuối đời trước khi Chúa bị phản bội, bị bắt xử rồi đóng đinh đến chết trưa hôm sau đó: Nầy, giờ đến, đã đến rồi, là khi các ngươi sẽ tản lạc, ai đi đường nấy, và để ta lại một mình; nhưng ta không ở một mình, vì Cha ở cùng ta. 33 Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! (Giăng 16:32-33) Khi nói về giờ đến khi các ngươi sẽ tản lạc tức là giờ sắp xảy đến không lâu sau khi Chúa phán những lời này, khi Chúa bị phản bội và bị bắt trong vường Gết-sê-ma-nê.
Hai ý chính Chúa nói cùng các sứ đồ: 1) Ta sẽ gặp hoạn nạn trong giờ sắp đến, các ngươi sẽ bỏ ta, nhưng Ta không cô độc vì có Cha ở cùng; 2) Các con sẽ gặp hoạn nạn trong thế gian này, nhưng đừng ngã lòng bởi vì Ta đã chiến thắng thế gian và luôn ở cùng các con. Cả hai ý này tương phản giữa ngoại cảnh và nội tâm, giữa hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn bên ngoài và tâm hồn bình an, vững tin nơi Chúa.
Trong một bài giảng trước đây tôi có giải thích về Thời Kỳ Khai Minh, Khai Sáng (Enlightment) cách đây khoảng 250 năm trước đây trong lịch sử Tây Phương. Những người bắt đầu và theo đuổi cuộc cách mạng này tự hào về thành quả đến nỗi gọi thế kỷ đó là thế kỷ ánh sáng. Gọi là thế kỷ ánh sáng hay thời kỳ khai minh để tương phản với thời kỳ đen tối (Dark Ages) của mê tín, dị đoan, phi lý, độc tài của tôn giáo. Phong trào khai minh (khai sáng) bắt đầu với cách mạng khoa học, kỹ thuật, lý luận (reason). Không còn bóng tối dày đặc, u mê của tôn giáo. Ánh sáng của khoa học, lý luận, của chế thể tự do, của cách mạng sẽ thay đổi toàn diện lịch sử loài người, từ tối tăm sang sáng láng, từ mê tín được giải phóng, từ độc tài sang tự do, từ nghèo khó sang giàu có, ấm no, hạnh phúc.
Với thời gian và khả năng lý luận của con người, với kiến thức của khoa học, con người sẽ biến thế giới này trở nên một thiên đàng. Vâng loài người chúng ta sẽ thiết lập một thiên đường trên đất. Vườn Ê-đen sẽ được tạo mới bởi loài người. Tháp Ba-bên xưa sẽ được cất để danh tiếng con người vang lừng thấu đến trời cao. Không còn ai bóc lộc, hà hiếp, cai trị ai. Bình đẳng, nhân quyền, tự do, độc lập, ấm no, hạnh phúc là khẩu hiệu của một xã hội mới, thế giới mới.
Từ đó đến nay, dù hơn 250 năm đã qua, luồng tư tưởng, suy nghĩ cho rằng tôn giáo là trở ngại lớn nhất cho sự phát triển của loài người vẫn còn mạnh mẽ như ngày nào, đặc biệt trong giới trí thức tại các trường đại học, với những người lãnh đạo. Những người này xem thường, khinh dễ đạo Chúa và người tin Chúa. Các chính trị gia thì khéo léo hơn vì họ biết họ cần phiếu của những người tin Chúa, nên dù có xem thường, thậm chí khinh dễ người tin Chúa, đạo Chúa nhưng vẫn phải cố đóng tuồng hát, giả bộ để được phiếu mỗi khi ra tranh cử. Chế thể vô thần thì xem tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân.
Nhưng các báo chí khuynh tả thì cho thấy rõ sự khinh thường của họ với người tin Chúa. Tựa bài báo của tờ NY Times (March 27, 2020), “Road to Coronavirus Hell Paved by Evangelicals” (Đường đến địa ngục coronavirus tráng bởi người evangelicals). Evangelical là những người Cơ Đốc tin KT là lời hằng sống của ĐCT và ĐCJC là con đường duy nhất đem đến sự cứu rỗi. Tôi và tín đồ HT đây là những người evangelicals.
[Nỗi lo lắng của một người mẹ trong HT có con sắp lên đại học sẽ mất đức tin, chối bỏ Chúa!]
Chúng ta hỏi nguyên nhân, lý do gì những người trí thức, những người lãnh đạo trong xã hội tại HK hôm nay hay trong chế thể vô thần tại các quốc gia Âu Châu hay tại các nước cộng sản khinh ghét đạo Chúa? Lý do chính yếu là vì cả thế gian này dưới quyền ma quỉ và chúa của thế gian này là ma quỉ muốn diệt bỏ đạo Chúa: Chúng ta biết mình thuộc về Đức Chúa Trời, còn cả thế gian đều phục dưới quyền ma quỉ. (1 Giăng 5:19) Về phần anh chị em đã chết vì vi phạm và tội ác mình, 2 sinh hoạt theo đường lối của đời này, vâng phục chủ quyền thống trị trên không trung, là tà linh đang hoạt động trong con cái bội nghịch Đức Chúa Trời. (Ê-phê-sô 2:1-2 – BDM)
Tuy nhiên một chỉ trích, chống đối đạo Chúa chúng ta thường nghe nhất là hoặc cho rằng niềm tin Cơ Đốc quá lạc quan, hoàn toàn xa rời thực tế đời sống, quá ngây thơ, si dại, người tin Chúa sống như người đi lơ lửng trên mây. Như khi nghe tín đồ cầu xin nếu Chúa chạm tay vào người bệnh thì có thể chửa lành hay cơn đại dịch này có thể tan biến ngay.
Hoặc niềm tin Cơ Đốc quá bi quan, lúc nào cũng nói về tội lỗi, làm cho con người thụ động, bỏ cuộc trước những khó khăn trong đời sống dưới trời mà chỉ lo cho thiên đàng không thấy biết được. Niềm tin Cơ Đốc xa rời thực tế, không giúp gì cho những nan đề trong xã hội, về kinh tế. Không giúp gì cho vấn đề kỳ thị chủng tộc, màu da. Không ít lợi gì cho nền giáo dục mà trái lại chỉ là một trở ngại cho tiến bộ về khoa học, kỷ thuật, cho những suy nghĩ cấp tiến về hôn nhân, tình dục, giới tính.
Một điều KT cho biết về ma quỉ là nó cũng biết dùng KT. Khi cám dỗ ĐCJC chính Sa-tan cũng trích lời Chúa trong TT 91. Sự lừa dối tinh vi là sự lừa dối dựa vào phân nữa sự thật thay vì hoàn toàn lừa dối. Sự thật móp méo, nữa chừng, hay một từ nữa thịt nữa mở: ba rọi là một lừa dối nguy hiểm hơn hết. Niềm tin Cơ Đốc không dựa trên nhận xét con người, hoặc lạc quan hay bi quan, ngay cả ít lợi hay không ít lợi. Niềm tin Cơ Đốc dựa trên sự thật vào ĐCJC, vào lời ĐCT trong KT.
Tôi sẽ giải thích về lời chỉ trích niềm tin Cơ Đốc quá bi quan trước. Bi quan vì đạo Chúa luôn luôn nói về tội lỗi, về thế gian dưới quyền lực của ma quỉ, Sa-tan, về khải tượng của 4 kỵ mã. Tức viễn ảnh của một thế giới với những lãnh tụ luôn tuyên xưng thiên đàng trên đất nhưng thật chất là những cuộc chinh phục, xâm chiếm bằng vũ lực trong danh nghĩa của hòa bình, ấm no, hạnh phúc. Viễn ảnh của một thế giới đầy chiến tranh, đói khổ, dịch lệ, chết chóc. Bi quan vì người tin Chúa dù sống trên đất này, ăn cơm gạo từ đất nhưng lòng dạ, tâm trí lại luôn nghĩ về trời.
Một lá thư viết bởi người vợ của viện trưởng đại học Harvard vào đầu thế kỷ 20 gởi cho người bạn của bà, một người tin Chúa, đi nhóm thờ phượng hàng tuần. Bà vợ của viện trưởng đại học Harvard là người không tin Chúa và có một cái nhìn rất rẽ về đạo Chúa. Bà hỏi bạn mình trong thư: Bạn thân mến, bạn thật sự mỗi tuần quì gối và xưng nhận mình là một tội nhân đáng phạt thật sao? Vì người bạn này khi vào nhà thờ sẽ quì gối và đọc lời tự xưng tội Xin thương xót chúng con là kẻ có tội. Bà vợ viện trưởng viết tiếp: Tôi và các con tôi không bao giờ có thể làm điều này. Ý nghĩ về Cơ Đốc giáo khiến bạn phải quì gối, hạ mình và thú nhận tôi là tội nhân đáng phạt thật là một ý nghĩ hạ thấp nhân phẩm con người, thật đáng tởm, thật mất danh dự! Đây chính là vấn đề với Cơ Đốc Giáo. Vì niềm tin này nhìn quá tiêu cực, quá bi quan. Nhìn cuộc đời này là xấu. Phủ nhận cuộc sống trong thế gian này. Quá tiêu cực, bi quan.
Cực đoan kia là đánh giá đạo Chúa quá lạc quan. Đến nỗi có người mai mĩa: ăn cơm của đất mà ảo tưởng việc trời! Một mặt thì viết về mọi người như tội nhân đáng chết trong địa ngục đời đời, một mặt lại viết về tên trộm cướp được tha tội và được vào Ba-ra-đi ngay trong ngày đó sau khi kêu cầu cùng ĐCJC. áo trắng công chính cho người có tội.
Có thật đúng đạo Chúa quá bi quan hay quá lạc quan hay không? Tôi muốn giải thích rằng đúng đạo Chúa trong một số khía cạnh có thể xem là “bi quan” hơn mọi quan điểm, nhưng đồng thời trong một số khía cạnh khác lại lạc quan hơn tất cả. KT dạy những điều rất bi quan, vô cùng bi quan về bản tính con người, bi quan về viễn ảnh của một thiên đàng trên đất, bi quan về sự thành công của những nổ lực thay đổi của chế thể, chính quyền con người. Nhưng KT dạy nhiều điều vô cùng lạc quan về tương lai của người tin Chúa, lạc quan về niềm hy vọng trong Chúa mà không có hoàn cảnh đen tối nào trong đời này có thể lấy đi hay dập tắt được, lạc quan về lời hứa và bảo đảm chắc chắn của ĐCT cho những người tin Ngài, lạc quan về một cuộc sống phước hạnh về tâm linh cho dù khó khăn về vật chất.
Trước hết về chỉ trích rằng niềm tin Cơ Đốc, lời KT dạy quá bi quan, tiêu cực. Một điều KT dạy rất rõ người tin Chúa không thụ động, nhắm mắt làm ngơ, giả vờ không thấy không nghe, không biết trước tình hình xã hội, trong đời sống hàng ngày. Khi thấy những bất công vì kỳ thị chủng tộc, màu da, người tin Chúa cần lên tiếng và hành động. Trước những bất công trong xã hội, các tiên tri thời CU lên tiếng cách mạnh mẽ.
Như tiên tri A-mốt đã viết: Vì các ngươi hiếp đáp kẻ nghèo và đòi họ nộp thuế lúa mì, vậy nên những nhà bằng đá vuông nầy mà các ngươi đã xây nên, các ngươi sẽ không ở được. Các ngươi đã trồng những vườn nho ngon ngọt, nhưng sẽ không uống rượu nó. 12 Vì ta biết tội ác các ngươi nhiều là bao nhiêu, tội lỗi các ngươi lớn là bao nhiêu, các ngươi là kẻ hiếp đáp người công bình, nhận lấy của hối lộ, ở nơi cửa thành làm cong lẽ thẳng của những kẻ nghèo. (A-mốt 5:11-12)
Hay tiên tri Ha-ba-cúc lên án những kẻ độc ác: Khốn thay cho kẻ tìm lợi bất nghĩa cho nhà mình, để lót ổ mình trong nơi cao, để được cứu khỏi tay hung ác. 10 Ngươi đã dùng mưu xấu hổ cho nhà mình mà diệt nhiều dân tộc, ngươi đã phạm tội nghịch cùng linh hồn ngươi. 11 Vì đá trong vách sẽ kêu lên, rường trên mái sẽ đáp lại. 12 Khốn thay cho kẻ lấy huyết dựng ấp, và lấy sự gian ác xây thành! 13 Phải, ấy há chẳng phải bởi Đức Giê-hô-va vạn quân mà các dân làm việc cho lửa, và các nước nhọc nhằn cho sự hư không hay sao? (Ha-ba-cúc 2:9-13)
Khi thấy người quanh mình gặp khó khăn về kinh tế, tài chánh có nhu cầu, KT dạy chúng ta nhớ nhắm mắt làm ngơ nhưng phải giúp đở: Hỡi anh em, nếu ai nói mình có đức tin, song không có việc làm, thì ích chi chăng? Đức tin đó cứu người ấy được chăng? 15 Ví thử có anh em hoặc chị em nào không quần áo mặc, thiếu của ăn uống hằng ngày, 16 mà một kẻ trong anh em nói với họ rằng: Hãy đi cho bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác, thì có ích gì chăng? (Gia-cơ 2:14-16)
Đây là nguyên nhân mà người tin Chúa đấu tranh để xóa bỏ chế thể nô lệ tại Anh Quốc năm 1833. Hay lập các bệnh viện cho những người phung cùi, những viện cô nhi cho trẻ em mồ côi hay bị bỏ rơi. Chỉ mới 2 tháng trước đây tổ chức Samaritan Purse đã lập một bệnh viện dã chiến giữa thành phố NY khi cơn đại dịch covid-19 đang trong lúc cao điểm để chăm sóc cho những người nhiễm bệnh và cần cấp cứu. Khi thiên tai tại các quốc gia nghèo khó thì các tổ chức Cơ Đốc luôn có mặt để trợ giúp.
Tuy nhiên KT dạy rất rõ mọi người đều có tội. KT dạy trong sâu kín nhất của mỗi tấm lòng, mỗi con tim là mầm móng của mọi tội lỗi kinh khủng, xấu xa nhất. Nếu có một máy chiếu tất cả những ý nghĩ, dự tính, hành động của chúng ta lên một màng hình thật lớn cho mọi người trong HT, trong thành phố xem thấy thì có ai muốn xung phong?
Trong bài giảng trên núi, ĐCJC giải thích về mầm móng của tội lỗi trong tâm hồn, tấm lòng con người. Trước khi có giết người thì đã có thù ghét, oán giận trong lòng. Trước khi chiếm đoạt của cải của người thì trong lòng bắt đầu với lòng tham muốn, dục vọng, với sự ghen tị, ganh ghét vì người khác hơn mình. Trước khi phạm tội tà dâm, thì trong lòng đã có những ý nghĩ tội lỗi với người khác phái. Con người đáng giá nhau qua hành động, lời nói nhưng trước khi có hành động, có lời nói thì phải có dự tính, ý muốn.
KT dạy tội lỗi tìm ẩn trong dự tính, ý muốn thầm kín trong lòng con người, như đã viết trước khi Ca-in giết A-bên vì lòng ganh tị: Đức Giê-hô-va phán hỏi Ca-in rằng: Cớ sao ngươi giận, và cớ sao nét mặt ngươi gằm xuống? 7 Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành, thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó. (STK 4:6-7)
KT dạy không có nền giáo dục nào, cuộc cách mạng nào, chế thể, tôn giáo nào có thể thay đổi tấm lòng tội lỗi này, ngoại trừ ĐTL của ĐCT. Nói cách khác con người và khả năng con người không thể nào thay đổi được con người. Chỉ có ĐCT mới có thể thay đổi con người. Chỉ khi một người thật sự tin mình là người có tội, xưng nhận tội mình, xin Chúa tha tội, ăn năn, khiêm nhường xin ĐTL đến ngự vào đời sống để thay đổi thì thay đổi thật sự mới có thể xảy ra.
Đây là điều bi quan của đạo Chúa. Nhưng chính bởi sự bi quan này con người mới thật sự trở nên khiêm nhường, hối hận về tội và hy vọng được thay đổi. Chính bi quan này đem đến hy vọng, bình an. Làm sao chúng ta có thể thay đổi nếu không nhận, không thấy được lỗi của chính mình. Đây chính là vấn đề của các tư tưởng, triết lý, của những người trí thức, những người cổ xướng thay đổi, cách mạng. Họ chỉ trích, lên án, chê bai những tư tưởng, chế thể khác, ngoại trừ chính suy nghĩ, chính con người họ. Với những người này, mọi tư tưởng đều tương đối ngoại trừ tư tưởng của họ. Họ nói: Mọi người đều là người kỳ thị, nhưng qv không nghe họ nhận chính họ cũng là người kỳ thị. Nhưng KT lại dạy rằng mọi người đều kỳ thị, mọi suy nghĩ con người đều sai lầm. Có thể xem là bi quan nhưng tôi bảo là thực tế, vô cùng thực tế, và hoàn toàn đúng với thực tế.
Đây cũng chính là lý do mà KT viết về những tội lỗi, sai lầm, về những ích kỷ, mưu toan sai quấy, xấu xa của tất cả những người mà chúng ta gọi là anh hùng, liệt nữ đức tin trong cả CU và TU. Tất cả các nhân vật mà người đời gọi là thánh đều đầy những tì vết, lỗi lầm. Mới đây khi có phong trào biểu tình đòi dẹp bỏ các tượng của những nhân vật xưa vì là người kỳ thị màu da, làm chủ nô lệ, một tín đồ người nữ hỏi đức hồng y của tiểu bang NY (Cardinal Nolan of NY) làm sao một số nhà thờ vẫn còn mang tên của Phi-e-rơ, một người hèn nhát đã chối ĐCJC ba lần. Giám mục Nolan hỏi lại bà đi nhà thờ nào. Bà ấy trả lời St Mary Magdelene. Giám mục Nolan nói với bà ấy rằng Mary Mác-đơ-len cũng đã từng bị quỉ ám và làm nghề không chính đáng lắm. Trong KT không một nhân vật nào lại trọn vẹn, toàn thiện ngoại trừ ĐCJC.
Đây là điều hoàn toàn khác với những kinh điển của các tôn giáo, khác với các truyện thần thoại, khác với các giáo chủ, lãnh đạo của một số chế thể cộng sản và hồi giáo hôm nay. Không ai có thể nói điều gì tiêu cực hay chỉ trích những người lãnh đạo này. Họ có thể lên án, chỉ trích ĐCT nhưng dân chúng không thể lên án hay chỉ trích họ vì họ còn cao hơn cả ĐCT! Chủ tịch nhà nước TQ lên án tham nhũng, trừng phạt những người tham nhũng, nhưng không ai được viết, được phê bình, chỉ trích về gia đình tham nhũng của ông. Đây là những người thấy rất rõ những cây dầm trong mắt người khác nhưng không hề nhận chính họ có cây cột lớn trong mắt mình.
Vì hiểu về bản chất tội lỗi của con người nên những người sáng lập quốc gia HK này đã thiết lập một cơ cấu tổ chức của chính quyền gồm 3 ngành độc lập để bảo vệ khỏi sự độc tài của một cá nhân hay một đảng phái. Một hình ảnh tôi muốn dùng để dẫn chứng về lời buộc tội niềm tin Cơ Đốc quá bi quan hay quá lạc quan. Đây là tấm hình chụp trong một cuộc biểu tình chống kỳ thị tại một khoảng trường lớn giữa tòa Bạch Ốc (White House) và Quốc Hội (House of Representative). Qv có thể thấy một hồ nước dài và một tượng đài cao của khoảng trường này, gọi là the Mall tại Washington DC. Trên lá cờ HK có nhiều dòng chữ viết nhưng nỗi bật hơn hết là dòng chữ NOT FREE. Thường thì công dân một quốc gia tôn trọng lá cờ của quốc gia họ. Không ai bôi nhọ lá cờ quốc gia mình. Nhưng với những người biểu tình này thì đây là điều đáng làm vì họ cho rằng đất nước này không thật sự tự do, không thật sự bình đẳng giữa các chủng tộc, màu da. Đây là ý của dòng chữ viết trên lá cờ. Một ý chỉ trích, lên án quốc gia HK tượng trưng bởi lá cờ. Nhưng câu hỏi là nếu quốc gia này không tự do thì làm sao những người này có quyền biểu tình, có quyền bôi nhọ lá cờ của quốc gia họ?
Đang lúc Ngài ở thành Giê-ru-sa-lem để giữ lễ Vượt Qua, có nhiều người thấy phép lạ Ngài làm, thì tin danh Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus chẳng phó thác mình cho họ, vì Ngài nhận biết mọi người, và không cần ai làm chứng về người nào, bởi Ngài tự hiểu thấu mọi điều trong lòng người ta. (Giăng 2:23-25) Chúa không phó thác hay không tin những người này vì Chúa hiểu thấu mọi điều trong lòng người ta. Chúa biết chúng ta mau thay lòng đỗi dạ, theo Chúa vì thấy phép lạ, thấy bánh, nhưng khi không còn bánh, không còn phép lạ thì bỏ Chúa. Dù vậy ĐCJC chết cho những người này, cho tôi và qv đây.
Đây là lý do mà chúng ta không nên ủy thác hoàn toàn niềm tin và đời sống chúng ta vào lời hứa của các chính trị gia, các đảng phái, những người hô hào đòi hỏi bình đẳng nhân quyền nhưng lại đốt phá, mạ lị những người nghịch cùng họ. Một điều tôi nhận xét trong hơn 60 năm sống trên đất này là mọi đòi hỏi thay đổi, mọi cuộc cách mạng đều có 2 điều hoàn toàn giống nhau như mọi cuộc cách mạng trước đó: 1) Lên án chế độ hiện tại, nền kinh tế, xã hội hiện tại còn rất nhiều thiếu sót, đầy dẫy bất công, sai lầm, đòi hỏi thay đổi; vì vậy cần có một cuộc cách mạng mới để sửa lại những sai lầm. 2) Bảo đảm sẽ thiết lập một chế thể, chính sách, đường lối mới công bình hơn, tự do hơn, no ấm, hạnh phúc hơn cho mọi người. Chẳng phải 2 điều này buộc chúng ta phải hỏi: lý do gì khiến tôi có thể hoàn toàn tin tưởng vào lời hứa hẹn của những thay đổi mới, của những người kêu gào cách mạng nhưng chính họ lại không chịu thay đổi chính mình.
MS Tôn Thất Bình kể một câu chuyện về một người đàn ông. Ngày nọ sau bửa ăn ông phàn nàn với người chung quanh rằng sau họ có mùi gì hôi quá, mùi như mùi nước mắn. Rốt ra mới biết rằng khi ông ăn bửa dùng nước mắm rồi dính vào bộ râu dài của ông nên đi đâu cũng ngữi thấy mùi đó cả.
Không phải người hay chỉ trích, buộc tội là người đáng kể; không phải người thường chỉ ra lý do người mạnh mẽ thất bại hay cách nào người đang làm việc có thể làm cách tốt hơn. Nhưng công trạng thuộc về người thật sự đang ở trong chiến trường, mặt đang bị đen bởi bụi đất, mồ hôi và máu; người cố hết sức mình cách can đảm; người phạm lỗi, và sẽ thiếu xót lần này sang lần khác, bởi vì không có nổ lực nào lại không có lỗi lầm, thiếu sót; nhưng đây là người thật sự cố hết sức để thực hiện; người có lòng nhiệt tình, sự cống hiến, người đã dâng trọn cuộc đời cho một lý tưởng chính đáng; người mà trong thời cao điểm kinh nghiệm được thắng lợi vẽ vang, và trong lúc xấu nhất, nếu có thất bại ít ra thất bại khi gắng hết sức mình, để cuối cùng nơi của người đó không bao giờ có cùng những kẻ thiếu nhiệt tâm, nhút nhát không bao giờ biết chiến thắng hay thất bại – Theodore Roosevelt “Citizen in a Republic” delivered in Paris April 23, 1910. “It is not the critic who counts, not the the man who points out how the strong man…”
Chúng ta đọc lại lời nhắn gởi của ĐCJC cho các môn đồ trước khi chịu thương khó: Nầy, giờ đến, đã đến rồi, là khi các ngươi sẽ tản lạc, ai đi đường nấy, và để ta lại một mình; nhưng ta không ở một mình, vì Cha ở cùng ta. 33 Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! (Giăng 16:32-33) ĐCJC không hứa với các môn đồ về một thiên đàng trên đất nhưng Ngài nói về hoạn nạn chắc chắn sẽ xảy đến. Đây là một thực tế mà mọi người đều kinh nghiệm được.
Nhưng Chúa chắc chắn về một điều sẽ ban cho người tin Ngài: lòng bình yên trong Ta. Chúng ta có bình an không phải vì được ấm no, mạnh khỏe, nhưng vì có Chúa. Cảnh ngộ bên ngoài chắc chắn sẽ thay đổi. Trong đời này có lúc chúng ta kinh nghiệm ấm no, mạnh khỏe, nhưng cũng có nhiều lúc khó khăn, khổ sở. Dù thế nào người tin Chúa vẫn có thể kinh nghiệm sự bình an trong tâm hồn. Vì có Chúa.
Bởi sự bi quan về bản chất con người, về sức mạnh của tội lỗi, nên chúng ta mới không tin tưởng mù quán vào những lời gọi cách mạng, nhân quyền, công bình, tự do, bác ái. Vì biết rằng những điều này sẽ không bao giờ xảy ra trên thế gian này cách tuyệt đối như lời hứa hẹn của chính trị gia, kinh tế, khoa học gia. Nhưng bởi sự lạc quan vào quyền năng tái tạo của ĐCT trong đời sống tội nhân, vào sự tha thứ tội nên người tin Chúa hy vọng dù trong những cảnh ngộ khó khăn, đen tối, biết rằng quê hương trên trời mới là quê hương thật sự trường cữu, đời đời. Chính sự quân bình này đem lại sự bình an và hy vọng mà thế gian này không thể nào ban cho được, như lời ĐCJC: Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi. (Giăng 14:27)
