Những Lời Dạy Khó của Chúa Giê-xu – Kinh Thánh Làm Chứng Về Chúa
Từ hôm nay đến tháng 12, chúng ta bắt đầu loạt bài về những lời dạy khó của ĐCJC trong các sách PA. Qv có thể hỏi thế nào là những lời dạy khó? Thế nào là khó? Có 3 nghĩa về những lời dạy khó của ĐCJC.
Nghĩa thứ nhất là khó hiểu. Một ví dụ về lời dạy khó này là lời Chúa dạy về sự tái sinh với Ni-cô-đem trong Giăng 3. Dù Ni-cô-đem là thành viên của tòa công luận, tức một người rất trí thức, tài giỏi và quyền thế, ông vẫn không hiểu được lời Chúa dạy nên hỏi: Người đã già thì sanh lại làm sao được? Có thể nào trở vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao? (Giăng 3:4).
Nghĩa thứ hai của khó là khó nghe hay khó tin. Chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều lời dạy của ĐCJC không phải khó hiểu, trái lại rất rõ ràng, dễ hiểu nhưng lại rất khó nghe, khó tin. Như lời Chúa dạy rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta.(Giăng 8:58). Hay lời tuyên bố rằng Chúa thấy Sa-tan từ trời xa xuống thế gian (Lu-ca 10:18), hay như lời dạy: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. (Giăng 14:6).
Nghĩa thứ ba của khó là khó làm. Nhiều lời Chúa dạy dễ hiểu, có thể tin được nhưng rất khó làm theo. Đây là điều khó khăn hơn hết cho tín đồ. Như lời dạy về sự tha thứ cho nhau. Không khó hiểu, hay khó tin nhưng khó vô cùng để làm theo. Như khi Phi-e-rơ đến hỏi Chúa về sự tha thứ cho người anh em: Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng?22 Ngài đáp rằng: Ta không nói cùng ngươi rằng đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy (Ma-thi-ơ 18:21-22).
Dĩ nhiên cũng có lời dạy là tổng hợp của 3 nghĩa trên, tức vừa khó hiểu, khó tin và khó làm theo. Một ví dụ là lời ĐCJC dạy trong Ma-thi-ơ 19 với người trẻ tuổi giàu có về việc người giàu khó vào nước thiên đàng hơn lạc đà chui qua lỗ kim.
Là mục sư tôi hy vọng sẽ cắt nghĩa, giải thích để có thể giúp cho qv hiểu được lời Chúa dạy. Thuyết phục qv rằng dù có những lời Chúa dạy khó nghe, khó tin, nhưng cần thiết và quan trọng. Về những lời dạy khó làm, thì dù khi qv có thể đã hiểu rõ, đã thật sự tin tưởng, nhưng thật sự làm theo lại là một vấn đề mà chỉ có qv mới có thể giải quyết.
Thông thường thì khi chúng ta hiểu, tin, chúng ta sẽ làm theo. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng vậy. Đây là một vấn đề lớn cho hội thánh và người tin Chúa: vì dù hiểu, tin nhưng lại không vâng phục, làm theo.
BỐI CẢNH GIĂNG 5:31-47
Trước hết đối tượng của lời Chúa dạy là ai? Là dân sự Giu-đa gồm những người Pha-ri-si, các thầy thông giáo. Lý do gì ĐCJC lại nói những lời này cùng dân sự? Sau khi ĐCJC chửa bệnh cho người tàn tật trong ngày Sa-bát, dân sự lên án Ngài làm trái luật pháp Mô-se. Nhưng Ngài phán cùng họ rằng: Cha ta làm việc cho đến bây giờ, ta đây cũng làm việc như vậy. 18 Bởi cớ đó, dân Giu-đa càng kiếm cách nữa để giết Ngài, chẳng những vì Ngài phạm ngày Sa-bát thôi, mà lại vì Ngài gọi Đức Chúa Trời là Thân Phụ mình, làm ra mình bằng Đức Chúa Trời. (Giăng 5:17-18) Họ muốn tìm cách giết Chúa vì xưng ngang hàng với ĐCT.
Không những thế, Chúa lại còn dạy: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. 25 Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, giờ đến, và đã đến rồi, khi những kẻ chết sẽ nghe tiếng của Con Đức Chúa Trời, và những kẻ nghe sẽ được sống. 26 Vì như Cha có sự sống trong mình, thì Cha cũng đã ban cho Con có sự sống trong mình vậy. (Giăng 5:24-26). ĐCJC dạy rằng ai tin Ngài sẽ vượt thoát khỏi sự chết đời đời nơi địa ngục và nhận được sự sống đời đời trên thiên đàng. Chúa tự nhận rằng Ngài là Đấng ban cho sự sống đời đời.
Không chỉ ban cho sự sống đời đời, ĐCJC còn tự nhận rằng Ngài chính là Đấng sẽ phán xét trong ngày sau rốt: Ta không thể tự mình làm nổi việc gì; ta xét đoán theo điều ta nghe, và sự xét đoán ta là công bình, vì ta chẳng tìm ý muốn của ta, nhưng tìm ý muốn của Đấng đã sai ta. (Giăng 5:30).
Vậy ĐCJC tự nhận Ngài có thẩm quyền như ĐCT, là Đấng sẽ phán xét mọi người trong ngày cuối và Đấng sẽ ban cho sự sống đời đời hay xử phạt đời đời. Trước lời tự nhận quá lớn này, dĩ nhiên dân sự không tin và vấn hỏi Ngài: làm sao chúng tôi có thể tin những lời này. Và đoạn KT từ câu 31 đến 47 trả lời sự hoài nghi của dân sự về ĐCJC.
ĐỨC CHÚA TRỜI BÀY TỎ NGÀI CHO LOÀI NGƯỜI
Dù dân Giu-đa nghi ngờ về lời tự xưng của ĐCJC rằng Ngài ngang hàng với ĐCT, rằng Ngài có thẩm quyền như ĐCT: thẩm quyền để ban cho sự sống đời đời, thẩm quyền phán xét mọi người, nhưng một điều họ tin rằng có ĐCT và tin rằng ĐCT đã bày tỏ Ngài cho họ. Trong xã hội, thời đại chúng ta đang sống, không phải ai cũng tin điều này. Rất nhiều người hỏi, làm sao tôi có thể biết rằng có ĐCT và biết ĐCT bày tỏ Ngài cho loài người.
ĐCT bày tỏ sự hiện hữu của Ngài cho loài người chủ yếu qua 5 điều, cách thức sau đây. Đầu tiên qua sự sáng tạo của Ngài, tức thiên nhiên, trời đất, vũ trụ, các loài sinh động vật. Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, bầu trời giãi tỏ công việc tay Ngài làm. TT 19:1). Điều thứ hai là qua luật pháp Chúa ghi khắc trong lòng mỗi người để giúp phân biệt đúng sai, phải quấy. Họ tỏ ra rằng việc mà luật pháp dạy biểu đã ghi trong lòng họ: Chính lương tâm mình làm chứng cho luật pháp, còn ý tưởng mình khi thì cáo giác mình, khi thì binh vực mình. (Rô-ma 2:15).
Điều hay cách thứ 3 ĐCT bày tỏ về Ngài cho loài người qua quan hệ của Ngài cùng dân tuyển Y-sơ-ra-ên. Khi vua Louis XIV (14) của Pháp hỏi nhà toán học và triết gia xuất chúng Pascal về bằng chứng về sự hiện hữu của ĐCT, Pascal không hề do dự trả lời: Người Do Thái, thưa Ngài, người Do Thái! Cũng vậy khi nữ hoàng Anh Quốc Victoria trong thế kỷ 19 hỏi thủ tướng Benjamin Disraeli về bằng chứng của sự hiện hữu của ĐCT, ông trả lời lập tức: Người Do Thái, thưa nữ hoàng (The Jew, your majesty). Trong lịch sử nhân loại, không một quốc gia nào bị tản lạc trên toàn thế giới sau hơn 2500 năm (từ 586BC đến 1948), không còn đất đai, lãnh thổ lại có thể tồn tại và tái lập lại xứ như DT. Điều thứ 4: ĐCT bày tỏ về Ngài cho loài người qua ĐCJC. Cuối cùng điều thứ 5 qua KT. Đây là 2 điều ĐCJC đề cập đến trong lời dạy khó này trong Giăng 5:31-47.
BẰNG CHỨNG VỀ ĐỨC CHÚA GIÊ-XU
Còn bằng chứng gì về lời tự nhận của ĐCJC rằng Ngài ngang hàng với ĐCT, có thẩm quyền ban cho sự sống đời và phán xét mọi người như ĐCT? Chúa nêu ra 3 bằng chứng chính yếu: 1) Lời chứng của Giăng Báp-tít (33-35); 2) Cuộc đời và công việc của ĐCJC, như phép lạ, việc làm, lời dạy, cả đến sự chết và sống lại của Chúa (36-38); 3) KT (39-47). Khi ai hỏi qv lý do gì qv tin Chúa Giê-xu, đây là đoạn KT qv có thể dùng để trả lời câu hỏi quan trọng đó.
Bằng chứng thứ nhất về ĐCJC là lời chứng của Giăng Báp-tít (33-35). 31 Nếu ta tự mình làm chứng lấy, thì sự làm chứng ấy không đáng tin. 32 Có người khác làm chứng cho ta, và ta biết rằng chứng người đó làm cho ta là đáng tin. 33 Các ngươi có sai sứ đến cùng Giăng, thì người đã làm chứng cho lẽ thật. 34 Còn ta, lời chứng mà ta nhận lấy chẳng phải bởi người ta; nhưng ta nói vậy, đặng các ngươi được cứu. 35 Giăng là đuốc đã thắp và sáng, các ngươi bằng lòng vui tạm nơi ánh sáng của người.
Từ làm chứng trong câu 31-33 cũng là từ dùng trong câu 36-37 và câu 39 để nói về 3 bằng chứng về lời tự xưng của ĐCJC. Câu 33 người (GBT) đã làm chứng cho lẽ thật, tức GBT làm chứng về Ngài. Câu 36-37 tức là các việc ta làm đó, làm chứng cho ta rằng Cha đã sai ta. 37 Chính Cha, là Đấng đã sai ta, cũng làm chứng về ta, tức công việc Chúa làm chứng rằng ĐCT đã sai Ngài đến. Câu 39 Ấy là Kinh thánh làm chứng về ta vậy.
Từ làm chứng là martyreō. Tiếng Anh có từ martyr, người tử đạo cùng một gốc từ làm chứng.
Khi dân chúng hỏi GBT rằng ông có phải là Đấng Mê-si hay không thì Giăng trả lời họ: Ta là tiếng của người kêu trong đồng vắng rằng: Hãy ban đường của Chúa cho bằng, như đấng tiên tri Ê-sai đã nói. (Giăng 1:24). Giăng xác nhận rằng ông chỉ là người dọn đường cho ĐCJC.
Khi ĐCJC đến với Giăng Báp-tít để nhận lễ báp-tem, KT viết: Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Jêsus đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi. 30 Ấy về Đấng đó mà ta đã nói: Có một người đến sau ta, trổi hơn ta, vì người vốn trước ta. (Giăng 1:29-30). GBT gọi ĐCJC là Chiên con của ĐCT, Đấng cất tội lỗi thế gian. Người có thể tha tội cho nhau khi phạm tội cùng nhau, nhưng chỉ có ĐCT mới có quyền tha tội cho thế gian. Đây cũng chính là lời tự nhận của ĐCJC rằng Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. Hơn thế nữa trong lời của GBT ông xác nhận rằng ĐCJC vốn trước ta. GBT sanh trước Chúa, lớn tuổi hơn Chúa thì làm thế nào có trước ông. Ngoại trừ như chính lời tự nhận của ĐCJC: trước Áp-ra-ham đã có Ta.
Khi nói về GBT, ĐCJC gọi ông là đuốc đã thắp và sáng (35). Tôi và qv tin Chúa cũng nhờ những người làm chứng như GBT- những đuốc đã thắp và sáng về đời sống, về phẩm tính, về tình yêu thương, lòng nhân từ của họ mà mọi người đều có thể thấy và khen ngợi. Đây là những người tin Chúa mà khi nhìn đời sống họ, người ta tự hỏi: điều gì khiến họ sáng láng, đáng mến chuộng như vậy? Làm sao đời sống tôi có thể thay đổi như họ? Chúng ta gọi bằng chứng này là nhân chứng sống cho ĐCJC.
Bằng chứng thứ hai về lời tự xưng của ĐCJC ngang hàng với ĐCT, có thẩm quyền ban cho sự sống đời đời và thẩm quyền phán xét mọi người của ĐCT là cuộc đời và công việc của ĐCJC. Nhưng ta có một chứng lớn hơn chứng của Giăng; vì các việc Cha đã giao cho ta làm trọn, tức là các việc ta làm đó, làm chứng cho ta rằng Cha đã sai ta. 37 Chính Cha, là Đấng đã sai ta, cũng làm chứng về ta. Các ngươi chưa hề nghe tiếng Ngài, chưa hề thấy mặt Ngài, 38 và đạo Ngài không ở trong các ngươi, vì các ngươi không tin Đấng mà Ngài đã sai đến.
Nhìn vào những phép lạ Chúa thực hiện, những lời Chúa dạy, hành động Chúa làm cho mọi người. Nhìn vào cuộc đời của ĐCJC, về sự giáng sinh, chịu chết, và sống lại. Cuộc đời ĐCJC là một bằng chứng rõ ràng, cụ thể và thuyết phục nhất về ĐCT. Qua ĐCJC chúng ta biết ĐCT.
Bằng chứng thứ ba về lời tự xưng của ĐCJC ngang hàng với ĐCT, có thẩm quyền ban cho sự sống đời đời và thẩm quyền phán xét mọi người của ĐCT là Kinh Thánh. Trọng tâm của bài giảng sáng nay là về bằng chứng này.
Vậy khi một người hỏi qv: làm sao tôi có thể nghe tiếng Chúa, biết về Chúa, làm thế nào để tôi có thể tin ĐCT hiện hữu, có thật, làm sao tôi có thể biết ĐCT ra sao, qv có thể trả lời với 3 bằng chứng này. Thứ nhất, anh chị có biết một đuốc đã thắp và sáng, một người có đời sống phản ánh ĐCJC hay không? Khi nhìn vào đời sống họ, qv sẽ tin ĐCT là thật bởi vì Chúa đã, đang và sẽ tiếp tục thay đổi phẩm tính, con người họ. Thấy được tình yêu thương, lòng nhân từ, lòng rộng lượng, thấy được sự tha thứ. Thứ hai anh chị đã tìm hiểu về cuộc đời và lời dạy của ĐCJC chưa? Thứ ba, anh chị có tìm hiểu lời dạy của KT chưa?
CẢ KINH THÁNH LÀM CHỨNG VỀ CHÚA GIÊ-XU
Khi đọc 4 sách PA chúng ta thấy ĐCJC tự nhận rất nhiều điều không tiền khoáng hậu (từ trước đến nay chưa bao giờ có), nhiều điều tưởng như lộng ngôn. Như tự nhận Ngài và ĐCT là một, ai thấy, biết Ngài là thấy, biết ĐCT. Nhận Ngài có trước Mô-se; thấy Sa-tan từ trời rơi xuống; có quyền tha tội. Sẽ chịu chết đến ngày thứ 3 sẽ sống lại.
Trong Xuất, khi ĐCT hiện ra cùng Mô-se trong bụi cây cháy hoài, ĐCT xưng tên Ngài là Ta Là (I am). 7 lần ĐCJC tự xưng Ta Là: 1) Ta là bánh hàng sống (Giăng 6:35, 41, 48, 51); 2) Ta là sự sáng thế gian (Giăng 8:12, 9:5); 3) Ta là cánh cửa dẫn đến sự sống, nước Trời (Giăng 10:7, 9); 4) Ta là người chăn nhân từ (Giăng 10:11, 14) như khi Đa-vít gọi ĐGHV là Đấng chăn tôi trong TT 23; 5) Ta là sự sống lại và sự sống (Giăng 11:25); 6) Ta là đường đi, lẽ thật, sự sống (Giăng 14:6); 7) Ta là gốc nho (Giăng 15:1, 5). Nói tóm lại, ĐCJC tự nhận Ngài là ĐCT trong KTCU.
Một điều tự nhận không tiền khoáng hậu, có 1 không 2 là lời tự nhận rằng cả KTCU, không phải một phần lớn hay phần nhỏ, không phải chỉ vài sách nhưng cả 39 sách của CU đều viết về Ngài, làm chứng về Ngài. Các ngươi dò xem Kinh thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: Ấy là Kinh thánh làm chứng về ta vậy. 40 Các ngươi không muốn đến cùng ta để được sự sống! (Giăng 5:39-40).
Sau khi sống lại từ cõi chết, ĐCJC hiện ra cùng 2 môn đồ trên đường đến làng Ê-ma-út. Chúa giải thích KT cho họ và chỉ cho họ rằng tất cả KTCU đều viết về Ngài và phải được ứng nghiệm qua sự giáng sinh, cuộc đời, sự chịu chết trên thập giá để chuộc tội cho con người và đến ngày thứ 3 sống lại từ cõi chết: Đoạn, Ngài phán rằng: Ấy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các thi thiên phải được ứng nghiệm. 45 Bấy giờ Ngài mở trí cho môn đồ được hiểu Kinh thánh. (Lu-ca 24:44-45)
Đối với người DT, với các thầy thông giáo, người Pha-ri-si, KTCU là lời của ĐCT. Theo lời tự nhận của ĐCJC, thì lời ĐCT hoàn toàn làm chứng về Ngài. Đây là một lời tự nhận phạm thượng, lộng ngôn! ĐCJC xác nhận rằng dù KT do con người viết (như trong câu 46 Mô-se đã viết về Ngài) nhưng tác giả chính yếu là ĐCT. KT không phải một quyển sách của loài người nhưng của ĐCT.
Cả Kinh thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, 17 hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành. (2 Ti-mô-thê 3:16-17)
Chính chúng tôi cũng từng nghe tiếng ấy đến từ trời, lúc chúng tôi ở với Ngài trên hòn núi thánh. 19 Nhân đó, chúng tôi càng tin lời các đấng tiên tri chắc chắn hơn, anh em nên chú ý lời đó, như cái đèn soi sáng trong nơi tối tăm, cho đến chừng nào ban ngày lộ ra, và sao mai mọc trong lòng anh em. Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh thánh lấy ý riêng giải nghĩa được. 21 Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời. (2 Phi-e-rơ 1:20-21) Chú ý lời P. Dù đã nghe tiếng từ trời, dù thấy được sự hóa hình mầu nhiệm của ĐCJC trên núi nhưng điều khiến P. chắc chắn hơn chính là lời các đấng tiên tri, tức là KTCU.
PL viết trong thư Ga-la-ti: Nhưng nếu có ai, hoặc chính chúng tôi, hoặc thiên sứ trên trời, truyền cho anh em một tin lành nào khác với Tin lành chúng tôi đã truyền cho anh em, thì người ấy đáng bị a-na-them! (Ga-la-ti 1:8). Tin lành chúng tôi đã truyền cho anh em tức những lời PL viết xuống giấy trắng mực đen gởi cho tín đồ HT Galati. Tôi lấy một ví dụ này để giải thích ý nghĩa và quan trọng của lời P., lời PL, lời ĐCJC dạy về KT.
Thường chúng ta nghĩ bằng chứng rõ nhất về ĐCT là phép lạ, như khi thiên sứ hiện ra trước mắt. Giả sử trong lúc này thiên sứ hiện ra trong vòng chúng ta tại phòng nhóm này. Thiên sứ đuổi tôi sang một bên và bắt đầu giảng lời Chúa. Thiên sứ phán như sấm: Lời ta đây là lời ĐCT. Dù sợ đến mấy, tôi cũng sẽ làm gan mà dơ tay hỏi: thưa thiên sứ, thiên sứ có tin rằng sự cứu rỗi chỉ bởi ân điển qua đức tin trong ĐCJC là cách thức duy nhất hay không? Nếu thiên sứ trả lời, không còn có nhiều cách khác thì chúng ta chắc phải ném thiên sứ ra khỏi HT.
KT phải là tiêu chuẩn để xét đoán mọi lời dạy từ mọi người tự nhận đến từ ĐCT, nói lời ĐCT. Chuyên gia, khoa học, thông thái dù có ý kiến hay đến mấy nhưng nếu trái lại với lời KT dạy? Không tin. Đây là một vấn đề vô cùng quan trọng mà rất nhiều tín đồ, nhất là người trẻ tuổi, học thức, cấp tiến, văn minh, hiện đại. Họ bảo lời dạy này, lời dạy kia của KT hôm nay đã lỗi thời, cổ hủ, không còn có thể chấp nhận, vâng lời, làm theo. Tôi xin hỏi tại sao? Câu trả lời thường là vì KT cần thay đổi, thích ứng theo phong tục, tập quán, thời đại, xã hội. Tôi xin giải thích thế này.
Qv chắc đồng ý với tôi rằng mỗi dân tộc đều có những phong tục, tập quán khác nhau. Người VN, Á Châu chúng ta xem trọng ý kiến gia đình, đoàn thể, nhưng người HK, Tây Phương xem trọng ý kiến cá nhân. Dưới mắt người VN chúng ta người HK đi quá xa. Dưới mắt người HK, người VN chúng ta có phần bảo thủ, thiếu sự tôn trọng cá nhân. Ai đúng ai sai?
Nếu KT là lời của ĐCT qv nghĩ xem KT có hoàn toàn hợp với mọi niềm tin, phong tục, tập quán của mọi dân tộc, giống người hay không? Dĩ nhiên nếu ĐCT là Đấng siêu nhiên thì chắc lý lẽ của Ngài cũng cao siêu hơn con người. Vậy chắc cũng có những lời dạy sẽ đối nghịch với một số dân tộc, phong tục. Người bảo thủ đồng ý với KT về hôn nhân giữa một nam một nữ, về tình dục chỉ giữa vợ chồng; nhưng lại bất đồng với lời KT dạy về lời dạy phải xóa hết nợ cho người sau 7 năm, phải đối với người di dân như người bản xứ, hay về những chính sách xã hội trợ giúp cho người nghèo khó, di dân. Người tự do đồng ý với KT về bình đẳng xã hội, nhưng lại bất đồng hoàn toàn về hôn nhân và tình dục.
[Những vấn đề khác như thiên đàng và địa ngục. Mọi người muốn thiên đàng nhưng không phải ai cũng tin địa ngục. Yêu thương, tha thứ và xử phạt, buộc tội. ]
Tín đồ lý luận KT cần thay đổi để thích hợp với thời đại là người tô đậm những điều mình đồng ý với KT nhưng lại xé bỏ đi phần mình bất đồng. Có nghĩa là chúng ta không còn xem KT là lời của ĐCT, nhưng là lời của con người. Có nghĩa là chúng ta tự xem mình tài giỏi, cao siêu hơn Đấng Sáng Tạo muôn loài vật.
Một cách giải thích khác thế này. Qv nghĩ thế nào về người qv gọi là thầy, cố vấn, sự phụ hay quân sư nhưng không bao giờ khác biệt ý kiến với qv. Bất cứ điều gì qv muốn làm, muốn nói, muốn ước mơ, suy nghĩ, dự tính, người thầy đó đều tán đồng, khen tặng. Qv có tin người thầy, cố vấn, quân sư đó hay không? Đây là một điều vô cùng nguy hiểm khi người lãnh đạo chỉ tập hợp quanh họ những người yes sir mà không hề bất đồng ý kiến. Cũng vậy KT có giá trị gì, làm sao có thể gọi KT là lời ĐCT nếu để chúng ta tự do làm mọi điều mình muốn?
ĐCJC xác nhận thẩm quyền của KTCU hoàn toàn trong mọi lãnh vực của đời sống. Khi bị cám dỗ trong đồng vắng bởi ma quỉ, Chúa trích dẫn KT để chống trả và được thêm sức. Khi dạy các môn đồ trong bài giảng trên núi, Chúa khẳng định Ngài đến không phải để phá bỏ luật pháp nhưng để làm trọn và xác nhận: Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn. 18 Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn. (Ma-thi-ơ 5:17-18). Trong vườn Ghết-sê-ma-nê khi bị Giu-đa phản bội đem quân lính đến để bắt, Phi-e-rơ dùng gươm để bảo vệ, Chúa phán cùng P. 2 lần rằng những điều đang xảy ra là ứng nghiệm lời KT: Ngươi tưởng ta không có thể xin Cha ta lập tức cho ta hơn mười hai đạo thiên sứ sao? 54 Nếu vậy, thế nào cho ứng nghiệm lời Kinh thánh đã chép rằng việc nầy tất phải xảy đến? 55 Lúc bấy giờ, Đức Chúa Jêsus phán cùng chúng rằng: Các ngươi đem gươm và gậy đến mà bắt ta, khác nào như ta là kẻ cướp. Ta thường ngày ngồi trong đền thờ và giảng dạy tại đó, mà các ngươi không bắt ta. 56 Nhưng mọi điều ấy phải xảy đến, hầu cho những lời các đấng tiên tri đã chép được ứng nghiệm. (Ma-thi-ơ 26:53-56). Quân lính đến với gươm giáo, xiềng xích để bắt, Chúa nghĩ đến KT.
Trên đường lên đồi Gô-gô-tha, vai gác thập giá, thấy các phụ nữ than khóc cho Ngài, Chúa trích lời tiên tri Ô-sê: Hỡi con gái thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc về ta, song khóc về chính mình các ngươi và về con cái các ngươi. 29 Vì nầy, ngày hầu đến, người ta sẽ nói rằng: Phước cho đàn bà son, phước cho dạ không sanh đẻ và vú không cho con bú! (Lu-ca 23:28-29) Trên thập giá trích TT 21:1 như lời thở than: Cha ơi sao Ngài lìa bỏ con. Và trong giờ phút cuối đời trước khi tắt hơi, Chúa trích TT 31:5 Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha!
Khi một người tin Chúa nói tôi tin ĐCJC nhưng tôi không hoàn toàn tin lời KT thì họ chỉ tin một Giê-xu trong trí tưởng tượng của họ. Người đó không biết rằng ĐCJC trong KTTU là Đấng hoàn toàn tin tưởng vào tất cả KTCU dù một chấm, một phép, dù một chi tiết nhỏ tưởng như không quan trọng.
Cả KTCU là lời làm chứng về ĐCJC. Cả KTCU là lời làm chứng của ĐCT. Vậy khi chúng ta đọc, học KTCU, chúng ta phải tin và hiểu rằng mọi câu chuyện, mọi lời dạy đều nhằm để chỉ về ĐCJC, là Đấng Mê-si. Đây là lý do chính mà người tin Chúa có thể hoàn toàn tin vào KTCU là lời ĐCT, vì Chúa tin KTCU là lời ĐCT.
Giăng 5:31-47 là một lời dạy rất khó. Không phải khó hiểu, nhưng khó nghe, khó tin và hơn hết khó làm theo.
