Những Bài Hát Trong Cơn Gian Truân – Thi Thiên và Đa-vít
Chỉ còn 2 tháng nữa là đã hết một năm. Đây là 2 tháng dường như qua nhanh nhất trong năm, đặc biệt là đối với người tin Chúa. Tháng 11 chuẩn bị cho Lễ Tạ Ơn và Báp-tem và tháng 12 cho Giáng Sinh và những dự tính, chương trình cho năm tới. HT đã bắt đầu tập dượt cho GS từ tháng qua và sẽ bận rộn tiếp tục cho đến GS. Dù mùa Thu năm nay chính thức bắt đầu vào 22/09 nhưng đến tháng 11 này chúng ta mới thật sự cảm được mùa thu vì thời tiết bắt đầu trở lạnh và cây đổi lá vàng.
Đối với các thi sĩ, nhạc sĩ thì mùa thu là bối cảnh thơ mộng, trữ tình cho những bài thơ, bài hát, bài văn. Về thơ thì nhiều người chắc biết bài thơ Tiếng Thu của Lưu Trọng Lưu: Em không nghe rừng thu; Lá thu rơi xào xạc; Con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng thu, hay Thu Điếu của cụ Nguyễn Khuyến sau khi từ quan về sống đời ẩn dật: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo; Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo; Sóng biếc theo làn hơi gợn tí, Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo. Về nhạc thì có biết bao nhiều bài hát về mùa thu: Thu Vàng (Cung Tiến), Lá đổ muôn chiều (Đoàn Chuẩn Từ Linh), Chiếc lá thu phai (Trịnh Công Sơn), Mùa thu ru em (Đức Huy), Mùa thu chết (Phạm Duy), Giọt mưa thu (Đặng Thế Phong), Nhìn những mùa thu đi (Trịnh Công Sơn), mới hơn thì có Đâu phải bởi mùa thu (Phú Quang), Có phải em mùa thu Hà Nội (Trần Quang Lộc); và dĩ nhiên Mùa thu lá bay (Lệ Thanh) mà điệu nhạc rất quen thuộc từ một cuốn phim đã được đổi lời để hát tôn vinh Chúa. Khi còn ở tại trại tị nạn Mã Lai, mỗi đêm trước khi có số người mới rời đảo để định cư thì trung tâm phỏng vấn lại phát thanh bài hát Chiếc lá cuối cùng (Tuấn Khanh) nghe mà buồn đứt ruột: Đêm qua chưa mà trời sao vội sáng, Một đàn chim cánh nhỏ chở mùa sang, Chiều vào thu tiễn em sầu lạnh giá, Lá trên cành từng chiếc cuốn bay xa.
Đối với người tin Chúa sinh sống trên xứ HK này thì mùa thu là mùa của lễ Tạ Ơn (Thanksgiving), mùa để chúng ta nhớ lại và kể lại cho nhau những ơn phước Chúa đã ban, để bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sa với ĐCT và với những người đã đem lại ơn phước. Những bài giảng trong tháng này cũng nhằm mục đích đó: để nhắc nhở về sự thành tín và ơn phước Chúa, đặc biệt trong những chặn đường khó khăn, gian truân của đời sống, khi tưởng như không còn sức lực và đức tin để tiếp tục bước đi, huống chi vượt qua. Dù là những bài hát nhưng chúng ta không thể nghe được âm điệu mà chỉ có thể đọc lại lời vì đến nay chỉ còn lại lời thơ. Những bài hát chỉ còn lời trong KT là 150 bài TT. Trong loạt bài giảng này, dĩ nhiên chúng ta không đủ thời gian để đọc hết 150 bài TT. Tôi chỉ muốn cùng qv tìm hiểu những bài hát, bài TT của Đa-vít, một nhân vật rất quen thuộc và nổi tiếng trong KT, đã được viết trong khoảng thời gian đen tối, sầu nảo, khó khăn nhất trong đời ông, khi bị vua Sau-lơ tìm giết. Vì vậy tôi gọi loạt bài giảng này là Những bài hát trong cơn gian truân. Chính xác hơn là những bài hát trong cơn gian truân của Đa-vít.
Trong bài giảng sáng nay trước hết tôi sẽ giới thiệu về TT và sau đó về 9 bài TT Đa-vít viết về khoảng thời gian đen tối nhất trong cuộc đời ông, khoảng thời gian dài gần 12 năm. Qua loạt bài giảng này tôi cũng hy vọng giúp qv hiểu biết rõ hơn về Đa-vít và cuộc đời của ông. Hai phần: 1) Thi Thiên, những bài hát dâng lên Chúa; 2) Đa-vít và những bài hát trong cơn gian truân
THI THIÊN - NHỮNG BÀI HÁT DÂNG LÊN CHÚA
Thi Thiên là một sách trong KTCU, gồm 150 bài. Thi có nghĩa là thơ và thiên là trời, TT là thơ về ĐCT. BDM dịch là Thánh Thi tức những bài thơ thánh. Vậy TT hay Thánh Thi có nghĩa là những bài thơ về ĐCT. Gần đúng, nhưng chưa hẳn. Thật ra đây là những bài hát với lời thơ bày tỏ qua âm nhạc với người hát và nhạc cụ. Chính xác hơn TT là những bài hát về ĐCT. Dĩ nhiên hôm nay chúng ta không còn nghe được những âm điệu của những bài hát này mà chỉ còn lại lời nên gọi là TT.
TT là quyển thánh ca và sách cầu nguyện của biết bao nhiêu thế hệ tín đồ, cả người tin Chúa và người Do Thái. TT nói lên tất cả những cảm xúc chân thật nhất của con người chúng ta: từ niềm vui rạn rỡ, hân hoan nhất cho đến lòng sầu thảm, khóc than; từ phẩn nộ, căm hờn cho đến ước muốn trả thù; từ những nỗi buồn khi bị người phụ bạc cho đến nỗi tuyệt vọng khi mất tất cả trong đời; từ sợ hãi cho đến nghi ngờ, cả người và ĐCT; từ lòng cảm tạ, biết ơn Chúa về sự giải cứu cho đến những than vãn, trách móc sự bỏ rơi, vắng mặt của Ngài. Lớp thứ sáu của thanh niên cũng đang học về 12 cảm xúc (emotions) khác nhau trong TT. Lớp đã đọc qua 2 bài TT về niềm vui (33), bị bỏ rơi (22) và tuần tới sẽ về sợ hãi (55).
Vì bày tỏ những cảm xúc thật nhất của con người với ĐCT nên TT có giá trị vượt cả thời gian và không gian, và được mọi người tin Chúa yêu mến. Bởi vì dù màu da nào, phong tục, tập quán, ngôn ngữ nào thì cảm xúc con người qua mọi lãnh thổ và thời đại đều như nhau. Vì vậy mà TT là nguồn an ủi, động viên, khích lệ lớn cho tín đồ bởi vì mọi người rồi cũng sẽ trải qua những cảnh ngộ trong đời sống như các tác giả TT từ ngàn xưa.
Khác với các sách khác trong KT chủ yếu ghi lại lời của ĐCT cho con người, TT chủ yếu ghi lại lời của con người với ĐCT, lúc vui, lúc buồn, lúc cầu khẩn, lúc ngợi ca, lúc tức giận, lúc căm thù, thậm chí có lúc than vãn, trách móc người và ĐCT. TT cũng bày tỏ tất cả những chủ đề trọng yếu của KTCU về con người, quốc gia, thiên nhiên, về ĐCT, quyền năng và sự tể trị của ĐCT, sự giải cứu và dạy dỗ, về sự thờ phượng Chúa. Nhưng thay vì là những bài giảng khô khan thì TT là những bài hát bày tỏ cảm xúc thật nhất giúp người nghe, người đọc có thể cảm thông và ghi nhớ.
TT có một vai trò vô cùng quan trọng cho quan hệ cá nhân của người tin Chúa với ĐCT. Một học giả viết như sau về TT: Có lẽ không một sách nào trong KT, ngay cả KTTU, chiếm một chổ đặc biệt trong con tim của đạo Chúa (JJ. Stewart Perowne). Một học giả khác viết: TT là sách cầu nguyện của ĐCJC theo ý nghĩa thật nhất. Chúa dùng TT để cầu nguyện và bây giờ đã trở nên lời cầu nguyện của Ngài cho mọi thời gian (Dietrich Bonhoeffer) (đến nay trong nhà hội Do Thái Giáo, TT được đọc, hay hát, hay dùng để cầu nguyện. ĐC Jesus là người DT và lớn lên nhóm thờ phượng trong các nhà hội và dùng TT cho sự cầu nguyện). Một học giả khác nữa tóm tắt đơn giản: Nếu bạn cần sự hướng dẫn trong mối quan hệ đang có với ĐCT, đọc TT (Jim George)
Tên của sách theo tiếng Hebrew là Tehillim, có nghĩa là những bài hát ngợi ca (song of praises) đúng như ý chính của sách là sự ngợi ca ĐCT. TT là một tập hợp của 150 bài thơ, bài hát, bài cầu nguyện từ nhiều tác giả khác nhau trong một thời gian dài trên 500 năm. Theo các đề tựa, chúng ta biết ít nhất tên của 7 tác giả: Mô-se, Đa-vít, Sa-lô-môn, A-sáp, Con cháu Cô-rê, Hê-man, và Ê-than. Khoảng 45 bài Thi Thiên không có tên tác giả (ẩn danh). Nếu PL là người viết nhiều sách, thư hơn hết trong KTTU (13 trong 27), thì Đa-vít là người viết nhiều bài TT hơn hết. Đa-vít viết 73 bài TT. Nếu cộng thêm 2 đoạn trích trong KTTU từ sách CV 4:25-26 theo TT 2 và Hê-bơ-rơ 4:7 Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, Thì chớ cứng lòng theo TT 95 thì Đa-vít là tác giả của 75 bài TT, tức 1/2 sách.
TT được phân làm 5 phần (có người gọi là sách). Phần (sách) 1 từ TT 1-41; phần 2 từ 42-72; phần 3 73-89; phần 4 90-106, và phần 5 107-150. Mỗi phần đều kết thúc với câu KT ngợi ca, chúc tụng Đức Chúa Trời. Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, Từ trước vô cùng cho đến đời đời! A-men, A-men! (Thi Thiên 41:13)
Phàm vật chi thở, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va! Ha-lê-lu-gia! (Thi Thiên 150:6)
150 bài TT có thể được phân làm mấy thể loại chính như sau: 1) Than thở cá nhân; 2) Than thở dân tộc; 3) Tạ ơn; 4) Ngợi ca. 116 bài TT, trong số 150 bài, có đề tựa hay phụ chú cho biết tác giả, thể loại nhạc, bối cảnh lịch sử, vân vân. Nhờ các đề tựa này mà chúng ta biết Đa-vít viết ít nhất 73 bài TT. Ví dụ như TT 3 có đề tựa Thơ Đa-vít làm, khi người trốn khỏi Áp-sa-lôm, con trai người, hay TT 18: Thơ Đa-vít, tôi tớ của ĐGHV, làm; người đọc các lời bài này cho ĐGHV trong ngày ĐGHV giải cứu người khỏi tay mọi kẻ thù nghịch, và khỏi tay Sau-lơ.
Trong số 73 TT Đa-vít viết, có 14 bài có phụ chú, đề tựa liên quan đến những sự kiện xảy ra trong cuộc đời ông ghi lại trong 3 sách 1&2 Sa-mu-ên và 1Sử Ký (nếu qv muốn biết chi tiết về liên hệ giữa 14 bài TT này của Đa-vít trong 3 sách đó, xin cho tôi biết). Trong số 14 bài TT đó, có ít nhất 9 bài có đề tựa hay phụ chú về những diễn biến cụ thể đã xảy ra trong khoảng đời khó khăn, đen tối nhất khi bị vua Sau-lơ tìm giết cách vô cớ chỉ bởi vì ghen tị. Có thể Đa-vít đã viết nhiều hơn 9 bài trong thời gian này nhưng tôi chỉ chọn những bài TT căn cứ vào phụ chú/đề tựa trong KT. Tôi gọi 9 bài TT này là những bài hát trong cơn gian truân. Nhưng để có thể hiểu rõ về 9 bài hát trong cơn gian truân của Đa-vít, chúng ta cần phải biết qua về Đa-vít và những sự kiện đã xảy ra trong đời ông trong những năm tháng đen tối này.
ĐA-VÍT VÀ NHỮNG BÀI HÁT TRONG CƠN GIAN TRUÂN
Những lời trong TT 116:1-4 nói lên rất rõ tình cảm của Đa-vít đối với Chúa sau khi trải qua những ngày tháng gian truân, đen tối chạy trốn khỏi tay vua Sau-lơ: Tôi yêu mến Đức Giê-hô-va, vì Ngài nghe tiếng tôi, Và lời nài xin của tôi. 2 Tôi sẽ cầu khẩn Ngài trọn đời tôi, Bởi vì Ngài có nghiêng tai qua tôi. 3 Dây sự chết vương vấn tôi, Sự đau đớn âm phủ áp hãm tôi, Tôi gặp sự gian truân và sự sầu khổ. 4 Nhưng tôi kêu cầu danh Đức Giê-hô-va, rằng: Đức Giê-hô-va ôi! cầu xin Ngài giải cứu linh hồn tôi. Những lời này cũng bày tỏ tâm tình của những ai đã kinh nghiệm được sự giải cứu của ĐCT.
Cuộc đời của Đ đọc như một câu chuyện tiểu thuyết vô cùng éo le, đầy những bất ngờ, lắm gian truân và đau khổ. Ít có ai trong qv hình dung một Đ đầy sự sợ hãi, lo lắng, nước mắt dàn dụa. Đây là chính lời Đ viết: Tôi kiệt sức vì than thở. Đêm đêm giường tôi ngập tràn dòng lệ, Chõng tôi ướt đẫm nước mắt. 7 Mắt tôi mờ yếu vì sầu khổ, Trở nên mòn mỏi vì những kẻ thù địch tôi. (6:6 - BDM)
Lạy CHÚA, xin nghe lời cầu nguyện tôi, Xin lắng tai nghe tiếng kêu cứu của tôi. Xin chớ bịt tai trước giọt nước mắt than khóc của tôi. (39:12 – BDM)
Tên Đ theo tiếng Hy-bá-lai có nghĩa là người đáng yêu (beloved). Đ sinh ra tại thành Bết-lê-hem (chính vì vậy mà Giô-sép khi lập sổ dân phải về quê Bết-lê-hem, cũng gọi là thành Đ. Đây cũng nơi ĐCJC sinh ra. Đ là con trai út của Y-sai trong số 7 con trai (1Sam 16:1, 10). Lớn lên Đ là người chăn chiên, một thanh niên rất can đảm dùng tay và gậy giết sư tử và gấu để bảo vệ đàn cừu (1Sam 17:34-36). Đ có một tài năng rất đặc biệt là người đàn rất hay (1Sam 16:18). KT cũng gọi ông là chơi đàn giỏi, là một dũng sĩ chiến đấu can trường, nói năng lưu loát, lại đẹp trai (1Sam 16:18 – BDM)
Sau khi vua Sau-lơ, vị vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên làm trái lại lời ĐCT, Chúa lìa bỏ ông và chọn Đ làm người kế vị. Nhưng việc kế ngôi không đơn giản và nhanh chóng, dễ dàng như thường nghĩ. Tôi sẽ bỏ qua nhiều chi tiết về cuộc đời của Đ. Sau khi giết người khổng lồ Gô-li-át, Đ được vua chọn vào đội quân và danh tiếng nổi lên trong vòng dân chúng đến nỗi phụ nữ hát ca ngợi Sau-lơ giết hàng ngàn, Đ giết hàng vạn! Những lời hát này khiến S ghen tức và từ đó tìm đủ mọi cách để tìm bắt giết Đ.
Từ là một anh hùng dân tộc, bạn của hoàng tử Jonathan, con trai vua S, con rể của vua, Đ trở thành một người vua xem là kẻ thù phải tìm giết. Từ trên đỉnh cao của thành công, danh vọng, Đ rớt xuống một hố sâu như không đáy, ngày càng tối tăm, kinh hoàng. Là kẻ thù của vua vô cớ, oan uổng, Đ phải chạy trốn từ nơi này đến nơi khác một cách đau khổ, nhục nhả trong khoảng 12 năm dài (có tài liệu 7-8 năm; lại có những tài liệu khác 11-12 năm).
Đ đã viết ít nhất 9 bài TT về thời gian đen tối đó để bày tỏ nỗi lòng đau khổ, tuyệt vọng với ĐCT và kêu van xin Chúa giải cứu ông. Trong Đoạn Trường Tân Thanh có nghĩa là tiếng kêu mới về nỗi đau đớn đến đứt ruột (truyện Thúy Kiều) có câu: Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Có thể nói tiếng kêu của Đ trong những ngày tháng đó là tiếng kêu về nỗi đau đớn đến đứt ruột.
9 bài TT của Đa-vít viết về thời gian khoảng 12 năm bị vua Sau-lơ tìm giết vì lòng ghen tị phải chạy trốn từ nơi này sang nơi khác. Bối cảnh của những việc này cũng được ghi lại trong sách 1Sa-mu-ên. Dưới đây là 9 bài TT về những diễn biến xảy ra trong khoảng đời đen tối theo thứ tự thời gian:
TT 59 - Thơ Đa-vít làm, khi Sau-lơ sai canh giữ nhà người đặng giết người. – 1Sam 19:11-17
TT 56 - Thơ Đa-vít làm, khi dân Phi-lít-tin bắt người trong thành Gát. – 1 Sa-mu-ên 21:11-16
TT 34 – Bài hát (Thơ) Đa-vít làm, khi người giả bộ điên dại trước mặt A-bi-mê-léc, và bị người đuổi đi. 1 Sa-mu-ên 21:10-14
TT 52 - Thơ Đa-vít làm, để dạy dỗ, khi Đô-e, người Ê-đôm, đến cho Sau-lơ hay rằng: Đa-vít đã vào nhà A-bi-mê-léc – 1 Sa-mu-ên 22:6-23
TT 54 - Thơ Đa-vít làm, để dạy dỗ, khi người Xíp đến nói cùng Sau-lơ rằng: Đa-vít há chẳng ẩn núp giữa chúng tôi sao? – 1 Sa-mu-ên 23:19; 26:1
TT 57 - Thơ Đa-vít làm, khi người chạy trốn trong hang đá, khỏi Sau-lơ. – 1 Sa-mu-ên 22:1
TT 142 - Thơ dạy dỗ Đa-vít làm, khi ở trong hang đá. Bài cầu nguyện – 1 Sa-mu-ên 22:1; 24:1-7
TT 63 - Thơ Đa-vít làm, khi người ở trong rừng vắng Giu-đa – 1 Sa-mu-ên 23:14; 24:1
TT 7 - Thơ Đa-vít làm, và hát cho Đức Giê-hô-va về việc Cút, là người Bên-gia-min. 1Sam 26:1 Một số nhà giải Kinh giải thích rằng Cút (nghĩa là đen) là hình ảnh của người hay nhóm người ghét Đ và tố cáo nơi Đ trốn với vua Sau-lơ. TT 7 có thể gọi là bài hát của người bị vu oan vô cớ.
Tôi xin được trích đọc một vài câu từ 9 bài TT này để qv có thể nghe được tiếng than khóc cũng như thấy được sự yên ủi tìm được trong Chúa. Qua những ngày tháng dài đen tối này, Đ học được sự nương cậy vào Chúa, hiểu rõ rằng có những lúc trong đời sống khi bị người bỏ rơi, phụ bạc, bán đứng thì ông vẫn còn Chúa, vẫn có thể đặt niềm tin, hy vọng vào Ngài.
Thơ Đa-vít làm, khi Sau-lơ sai canh giữ nhà người đặng giết người: Đức Chúa Trời tôi ôi! xin giải cứu tôi khỏi các kẻ thù nghịch tôi, Bảo hộ tôi khỏi những kẻ dấy nghịch cùng tôi. 2 Xin hãy giải tôi khỏi những kẻ làm ác, Và cứu tôi khỏi những người làm đổ huyết. (TT 59:1-2)
Thơ Đa-vít làm, khi dân Phi-lít-tin bắt người trong thành Gát: Đức Chúa Trời ôi! xin thương xót tôi; vì người ta muốn ăn nuốt tôi; Hằng ngày họ đánh giặc cùng tôi, và hà hiếp tôi. 2 Trọn ngày kẻ thù nghịch tôi muốn ăn nuốt tôi (TT 56:1-2)
Thơ Đa-vít làm, khi người giả bộ điên dại trước mặt A-bi-mê-léc, và bị người đuổi đi: Kẻ khốn cùng này kêu cầu, CHÚA nghe lời người, Và giải cứu người khỏi mọi điều khốn khổ… CHÚA ở gần những người có tấm lòng đau thương, Và cứu những người có tâm linh thống hối. (34:6, 18 - BDM)
Thơ Đa-vít làm, để dạy dỗ, khi người Xíp đến nói cùng Sau-lơ rằng: Đa-vít há chẳng ẩn núp giữa chúng tôi sao? Đức Chúa Trời ôi! xin hãy lấy danh Chúa mà cứu tôi, Dùng quyền năng Chúa mà xét tôi công bình. 2 Hỡi Đức Chúa Trời, xin hãy nghe lời cầu nguyện tôi, Lắng tai nghe các lời của miệng tôi, (TT 54:1-2)
Thơ Đa-vít làm, để dạy dỗ, khi Đô-e, người Ê-đôm, đến cho Sau-lơ hay rằng: Đa-vít đã vào nhà A-bi-mê-léc: Còn tôi khác nào cây ô-li-ve xanh tươi trong nhà Đức Chúa Trời; Tôi nhờ cậy nơi lòng nhân từ của Đức Chúa Trời đến đời đời vô cùng. 9 Tôi sẽ cảm tạ Chúa đời đời, vì Ngài đã làm việc đó: Tôi sẽ trông cậy nơi danh Chúa Trước mặt các người thánh của Chúa, vì điều đó là tốt lành. (TT 52:8-9)
Thơ Đa-vít làm, khi người chạy trốn trong hang đá, khỏi Sau-lơ: Đức Chúa Trời ôi! xin thương xót tôi, xin thương xót tôi, Vì linh hồn tôi nương náu nơi Chúa! Phải, tôi nương náu mình dưới bóng cánh của Chúa, Cho đến chừng tai họa đã qua… Hỡi Chúa, tôi sẽ cảm tạ Chúa giữa các dân, Hát ngợi khen Chúa trong các nước. 10 Vì sự nhân từ Chúa lớn đến tận trời, Sự chân thật Chúa cao đến các từng mây. 11 Hỡi Đức Chúa Trời, nguyện Chúa được tôn cao hơn các từng trời. Nguyện sự vinh hiển Chúa trổi cao hơn cả trái đất! (57:1, 9-11)
TT 63 - Thơ Đa-vít làm, khi người ở trong rừng vắng Giu-đa Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa là Đức Chúa Trời tôi, vừa sáng tôi tìm cầu Chúa; Trong một đất khô khan, cực nhọc, chẳng nước, Linh hồn tôi khát khao Chúa, thân thể tôi mong mỏi về Chúa, 2 Đặng xem sự quyền năng và sự vinh hiển của Chúa, Như tôi đã nhìn xem Chúa tại trong nơi thánh. 3 Vì sự nhân từ Chúa tốt hơn mạng sống; Môi tôi sẽ ngợi khen Chúa. 4 Như vậy, tôi sẽ chúc phước Chúa trọn đời tôi; Nhân danh Chúa tôi sẽ giơ tay lên (63:1-4)
Trong những tuần tới chúng ta sẽ đọc vài bài TT tiêu biểu trong 9 bài hát trong cơn gian truân này của Đa-vít. Để thấy rằng dù trong bất cứ cảnh ngộ nào của đời sống, chúng ta đều có thể trút nỗi lòng và cảm xúc chân thật nhất của mình cùng Chúa, biết chắc rằng Ngài lắng nghe và sẽ giải cứu. Một điều quan trọng cần nhớ là không chỉ trong 9 bài TT này nhưng trong tất cả 73-75 TT Đ viết đều có những lời ngợi ca ĐCT cho dù hoàn cảnh có đen tối hay cảm thấy tuyệt vọng đến thế nào.
TT 30 chúng ta đã đọc đối đáp được viết bởi Đ khi làm lễ khánh thành cung điện sau khi làm vua cả đất nước là một bài hát ca ngợi, bày tỏ sự vui mừng về những giải cứu kỳ diệu của ĐCT sau khoảng đời đen tối bị vua Sau-lơ tìm giết, sau khi chiến thắng kẻ thù. Chúng ta biết Đ lên ngôi lúc 30 tuổi. Vài năm sau đó vua xây cung điện. TT 30 có những lời mà ai đang đi qua khó khăn có thể dùng để cầu nguyện như một lời hứa; còn ai đã kinh nghiệm được sự giải cứu và quyền năng của ĐCT dùng như những lời ngợi ca với Chúa chúng ta.
Qv nào buổi sáng nay đang lo sợ, đang sầu não vì những nan đề như không giải quyết; ai đang thất vọng và cảm thấy như bị Chúa bỏ rơi, hãy nhớ lại TT 30:4-5 : Hỡi các thánh của Đức Giê-hô-va, hãy hát ngợi khen Ngài, Cảm tạ sự kỷ niệm thánh của Ngài. 5 Vì sự giận Ngài chỉ trong một lúc, Còn ơn của Ngài có trọn một đời: Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, Nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng. (TT 30:4-5)
Và Đ bài TT này với những lời cảm tạ đáng cho chúng ta ghi nhớ rằng Chúa sẽ hứa chắc rằng Ngài sẽ giải cứu con dân Ngài: Lạy CHÚA, xin hãy nghe, Lạy CHÚA, xin thương xót tôi, xin giúp đỡ tôi. 11 Ngài đã đổi lời than khóc của tôi ra nhảy múa, Ngài cởi áo tang chế của tôi đi và mặc cho tôi vui mừng. 12 Để linh hồn tôi ca ngợi Ngài và không im lặng. Lạy CHÚA, Đức Chúa Trời của tôi. Tôi cảm tạ Ngài đời đời. (TT 30:10-12 – BDM)
