Nhẫn Nhục Vì Con
Bài giảng sáng nay dựa vào đoạn KT trong Ma-thi-ơ 15:21-28. Câu chuyện này cũng được ghi lại trong Mác 7:24-30. Tôi xin được đọc lời Chúa trong Ma-thi-ơ 15.
Đoạn KT này ghi lại câu chuyện về một người đàn bà xứ Ca-na-an chủ ý tìm đến ĐCJC để xin Chúa giải cứu người con gái của bà đang trong tình trạng bị ma quỉ ám rất khốn khổ. Một vài bản dịch Anh cho biết người con gái này còn nhỏ tuổi. Nhỏ đây không phải vì nhỏ tuổi, nhưng nói lên tình cảm thân yêu nhất đối với mẹ.
Đây là một câu chuyện rất cảm động về đức tin của một người mẹ mất con, lòng nhẫn nhục của mẹ làm tất cả chỉ để thấy con được cứu. Bà tin chắc rằng chỉ có ĐCJC mới có quyền năng để cứu đứa con gái nhỏ thoát khỏi sự trói buộc, hành hạ của ma quỉ. Vì tình mẫu tử của người mẹ yêu thương con mình mà bà sẵn lòng làm mọi việc để con được cứu, được chửa lành, cho dù đức tin có bị thử thách, danh dự, và lòng tự ái có thể tổn thương, thậm chí danh dự bị xúc phạm. Vì yêu thương con, mẹ nhẫn nhục trước mọi chướng nghiệp, thử thách.
Câu 21 cho biết: Đức Chúa Jêsus đi từ đó, vào bờ cõi thành Ty-rơ và thành Si-đôn. Từ đó là từ xứ Ga-li-lê, nơi Chúa đã rao giảng TL, dạy dỗ, chửa bệnh, thực hiện phép lạ cho dân sự Y. T. & S. là 2 thành phố cảng lớn ngoài lãnh thổ xứ Ỵ, nằm về phía bắc của xứ Ga-li-lê. 2 thành Ty-rơ & Si-đôn là 2 thành phố cảng lớn của xứ Phoenicia, cách nhau khoảng 20mi. Hôm nay 2 thành này thuộc xứ Lê-ba-nôn.
Đây là lần đầu tiên và duy nhất trong cả 4 sách PA cho biết ĐCJC ra khỏi xứ Ỵ để đến một lãnh thổ ngoài xứ mình. Cả 2 sách PA Ma-thi-ơ & Mác đều cho biết trước khi đến bờ cõi thành Ty-rơ và Si-đôn, ĐCJC đã tranh luận, đối chấp rất dữ dội với những người Pha-ri-si và các thầy thông giáo về những truyền thống họ buộc những người chung quanh phải vâng giữ; xem truyền thống hơn cả, trên cả luật pháp ĐCT. Một vấn đề cụ thể của cuộc tranh luận này là về điều gì là sạch, điều gì là dơ dáy.
Đối với người DT thì dân ngoại là người ô uế, nên họ không hề giao tiếp, ăn uống chung. Ai sờ vào, đụng vào dân ngoại cũng sẽ bị ô uế, không được vào đền thờ để thờ phượng, ngoại trừ khi phải thanh tẩy thân thể. Hơn thế nữa, đối với người Pha-ri-si và rất nhiều dân sự Ỵ thời đó, 2 thành này và dân sự trong thành tượng trưng của sự sa đọa, tội lỗi, thờ ma quỉ, tà thần. Một hoàng hậu xem là độc ác nhất trong CU tên Giê-xê-bên, người khuyến dụ chồng là vua Ỵ bỏ ĐCT để thờ phượng tà thần là người của thành Si-đôn.
Vậy quyết định của ĐCJC đi lên phía bắc xứ Ga-li-lê để vào bờ cõi thành Ty-rơ và Si-đôn chắc chắn gây nên rất nhiều câu hỏi, thắc mắc, có thể cả sự phản đối của các môn đồ. Vậy tại sao ĐCJC lại đến 2 thành này? Để dạy các môn đồ không có dân nào là ô uế phải lánh xa.
Tin đồn về ĐCJC đến ranh giới của 2 thành Ty-rơ và Si-đôn lan xa và nhanh. Một người phụ nữ người ngoại nghe tin về ĐCJC đến nên vội vã tìm đến gặp Ngài để hỏi xin Chúa cứu người con gái đang bị ma quỉ ám khổ sở vô cùng. Vì thương con mình mà bà tìm đến ĐCJC.
Có động cơ gì trong đời mạnh mẽ hơn là tình mẹ thương con mình. Mẹ là người đầu tiên con biết trong đời. 9 tháng dài con là phần thân thể mẹ. Đời sống con hoàn toàn gắn liền và tùy thuộc vào đời sống mẹ qua sợi nhau, cuốn rún. Mẹ ăn gì, con ăn nấy; mẹ uống gì, con uống nấy. Nhờ hơi thở mẹ, con được thở. Nhờ ở trong lòng êm ấm của mẹ, con được bảo vệ an toàn. Mẹ và con, dù là hai nhưng là một, cho đến ngày con rời lòng mẹ chào đời. Dù sau khi cuốn rún được cắt đi để con lìa khỏi mẹ, để con là người độc lập thì sợi dây tình mẹ con thiêng liêng vẫn theo hoài, giữ chặt đứa con trong tim mẹ. Đúng như một câu thơ vô cùng ý nghĩa Con dù lớn vẫn là con của mẹ. Đi hết đời lòng mẹ cũng theo con.
Cũng chính vì tình mẹ thương con mà người phụ nữ Ca-na-an này nhẫn nại, kiên trì trong đức tin khi đến xin Chúa cứu con bà. Chúng ta sẽ thấy trong câu chuyện này ĐCJC cố ý dựng lên những chướng ngại để thử thách đức tin của người mẹ này. Nhưng vì yêu thương con, bà nhẫn nhục trước bốn chướng ngại cho đến khi con được Chúa chữa lành.
Nhẫn nhục là gì? Nhẫn nhục, theo nghĩa thông thường, nhẫn là nhịn chịu, nhục là tổn thương, bị sỉ nhục. Nhẫn nhục là chịu nhịn những điều mà người khác sỉ nhục, làm cho xấu hổ; chịu đựng tổn thương trước những việc không vừa lòng, nghịch ý, trái tai gai mắt nhưng vẫn cố gắng giữ tâm không tức giận, không phản ứng lại và không nghĩ đến việc sẽ báo thù.
Đây là một phẩm tính dễ nói nhưng hết sức khó làm. Giả sử nếu qv hỏi xin một anh chị em trong HT giúp mượn một điều gì. Khi nghe như vậy, họ làm ngơ, làm thinh, không trả lời. Rồi các tín đồ nghe điều đó, lại bảo nhỏ với người đó, kêu họ đi chỗ khác đi….
Chướng ngại thứ nhất là sự làm ngơ, làm thinh của Chúa khi bà xin Chúa cứu con gái bà như trong câu 22-23: Xảy có một người đàn bà xứ Ca-na-an, từ xứ ấy đến, mà kêu lên rằng: Lạy Chúa, là con cháu vua Đa-vít, xin thương xót tôi cùng! Con gái tôi mắc quỉ ám, khốn cực lắm. 23 Nhưng Ngài chẳng đáp một lời.
Mác 9:18 viết về lời của một người cha nói về đứa con trai của ông bị quỉ ám đau khổ thế nào: mỗi lần quỷ nhập vào thì vật cháu ngã xuống, làm cho sùi bọt mép, nghiến răng rồi cứng đờ người ra.
Chú ý câu 22: Lạy Chúa, là con cháu vua Đa-vít, xin thương xót tôi cùng! Con gái tôi mắc quỉ ám, khốn cực lắm. Người mẹ xin ĐCJC thương xót cho bà vì con gái của bà bị quỉ ám, hết sức khốn khổ. Bà nói nếu Chúa thương xót con gái tôi, tức là Chúa đã thương xót cho chính tôi. Khi xin ĐCJC thương xót cho bà, bà hoàn toàn không cầu xin điều gì cho chính mình: bà chỉ mong được thấy con mình không còn bị khốn khổ vì bị quỉ ám. Hạnh phúc của đời gắn liền, tùy thuộc theo hạnh phúc đời con gái bà. Con khổ, mẹ cũng khổ. Con khóc, mẹ cũng khóc. Con vui, mẹ cũng vui.
Ma-thi-ơ 15:22 cho biết người phụ nữ, người mẹ này từ xứ Ca-na-an. Người Ca-na-an là ai? Đây là những người trong xứ mà ĐCT hứa ban cho dân sự Ngài khi họ vào đất hứa. Đây là những người thờ tà thần, chống đối dân Chúa, chống đối niềm tin vào ĐGHV và làm lung lạc đức tin của dân sự Chúa, lôi cuốn họ thờ các tà thần. Vậy người Ca-na-an biết rất rõ họ chẳng bao giờ có thể dự phần vào sự cứu rỗi, vào ân điển của ĐCT. Dù vậy, tình mẹ thương con đã khiến bà đến tìm cầu Chúa.
Mác 7:26 còn cho biết một chi tiết quan trọng: người phụ nữ này là dân Sy-rô-phê-ni-xi. Cả 2 thành Ty-rơ & Si-đôn nằm trong vùng Sy-rô-phê-ni-xi. Đây là dân thờ tà thần Ashter (Astarte) và vô số tà thần khác. KTCU cho biết một hoàng hậu độc ác nhất tên Giê-xê-bên là người ở thành Si-đôn. Có lẽ vì sinh sống trong một khu vực mà quyền lực tối tăm của ma quỉ thống trị, nên con người dễ bị quỉ ám.
Vậy nếu cha mẹ thờ cúng tà thần, con cái trong gia đình chắc chắn cũng sẽ bị ảnh hưởng và nhận lấy hậu quả. KT có câu: cha mẹ ăn trái nho chua, con cái ê răng (Ê-xê-chi-ên 18:2). Có nghĩa là việc làm, hành động, đức tin của cha mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến con mình.
Gương của những người mẹ trong KTTU, ít nhất 3 người:
1) Mác, Giăng Mác – Phi-e-rơ bèn tỉnh lại và nói rằng: Bây giờ ta nhận biết thật Đức Chúa Trời đã sai thiên sứ Ngài giải cứu ta ra khỏi tay Hê-rốt cùng khỏi điều dân Giu-đa đang mong đợi. 12 Người suy nghĩ lại điều đó, rồi đến nhà Ma-ri, mẹ của Giăng, cũng gọi là Mác, là nơi có nhiều người đang nhóm lại cầu nguyện. (Công Vụ 12:11-12)
2) Ti-mô-thê - Ta cũng nhớ đến đức tin chân thành của con, là đức tin trước đã sống trong Lô-ít, bà ngoại con, và trong Ơ-nít, mẹ con; ta tin chắc rằng đức tin ấy nay đang sống trong con. (2 Ti-mô-thê 1:5)
3) Phao-lô - Hãy chào Bẹt-si-đơ, người rất thân với tôi, và đã làm việc nhiều cho Chúa. 13 Hãy chào Ru-phu, người được chọn của Chúa, và chào mẹ người, cũng là mẹ tôi. (Rô-ma 16:12-13). Ru-phu này có thể là con của Si-mê-ôn, người vác thập giá cho ĐCJC lên đồi sọ!
Vậy cha mẹ phải cẩn thận trong đức tin, trong cách ăn ở, hành động, cư xử hàng ngày bởi vì con cái chúng ta chắc chắn sẽ nhìn thấy và bắt chước làm theo. Nếu chúng ta muốn con cái tin kính Chúa, trước hết chúng ta phải làm gương cho chúng nó qua sự trung tín thờ phượng, phục vụ Chúa.
Chúng ta cũng chú ý lời kêu cầu của bà cùng ĐCJC: Lạy Chúa, là con cháu vua Đa-vít, xin thương xót tôi cùng! Con gái tôi mắc quỉ ám, khốn cực lắm. Bà gọi Jesus là Chúa, là con cháu vua Đa-vít, một danh xưng nói về Đấng Mê-si. Bà tìm hiểu về ĐCJC, nhận biết Ngài là ai và quyết định bỏ tà thần để tìm đến hỏi xin Chúa cứu con gái bà.
Chướng ngại thứ hai là sự xua đuổi, xem thường của các môn đồ.
Câu 22-23 cũng cho biết khi người mẹ này kêu cầu cùng ĐCJC bà không giữ mặt mủi, sĩ diện, danh dự nhưng kêu gào, than khóc lớn tiếng để Chúa và các môn đồ chú ý đến và đều nghe. Vì vậy họ bực mình như BDY giải thích: Các môn đệ thưa: “Xin Thầy bảo bà ấy đi chỗ khác, vì bà kêu la ồn ào quá!”
Đọc lời này của các môn đồ, tôi tự hỏi: chẳng lẽ họ không hiểu được, cảm thông được nỗi khổ đau của người mẹ này khi chính họ cũng có con cái. Thật là một lời không chút cảm thông, nếu không nói là quá nghiệt ngã. Dù vậy, người mẹ này vẫn cứ đi theo Chúa, cứ than vãn cùng Chúa về nỗi khổ sở của đứa con gái nhỏ đang bị quỉ ám, cứ kêu van xin Chúa cứu con bà cho dù Chúa làm ngơ, làm thinh, không đáp. Hay khi các môn đồ có lời nặng nhẹ cùng bà.
Khi mẹ thương con, mẹ sẵn lòng làm tất cả cho con: không còn nghĩ đến mặt mủi, thể hiện, danh dự, tiếng tăm của mình mà chỉ nghĩ đến đứa con yêu dấu. Tình yêu thương thật sự là tình yêu thương kiên trì, chịu đựng tất cả, sẵn sàng hy sinh. Đúng như PL dạy: tình yêu thương hay nhẫn nhục… tình yêu thương chịu đựng mọi sự.
Qv chắc nhớ câu chuyện về sự phán xét anh minh của vua Sô-lô-môn khi 2 bà mẹ, là 2 người gái bán thân đến xin vua xử trong 1 CV 3:16-29. Chuyện kể 2 người ở chung một nhà và cả 2 đều sanh con trai. Một đêm khi cho 1 trong 2 đứa bé chết trên ngực mẹ mình. Người mẹ có con chết đổi con mình lấy đứa con sống. Trước vua cả 2 bà mẹ đều kêu rằng đứa con trai sống là con mình.
Vua xử thế nào? Vua bảo đem đến cho vua một thanh gươm và bảo sẽ cắt đứa bé trai còn sống làm hai mãnh để chia đều cho mỗi người mẹ. Ai là người mẹ thật? KT viết: Nhưng mẹ của đứa trẻ sống, --- vì gan ruột cảm động thương yêu con mình, --- bèn tâu với vua rằng: Ôi, chúa tôi! Xin hãy cho người kia con trẻ sống, chớ giết nó. Nhưng người kia nói rằng: Nó sẽ chẳng thuộc về tao, cũng chẳng thuộc về mầy; hãy chia nó đi. (1 CV 3:26).
Tình yêu thương thật sự là tình yêu hy sinh mọi quyền lợi của mình cho người mình yêu mến. Là nghĩ về lợi ích cho người mình yêu thương. Thậm chí hy sinh chính mạng sống mình cho con. Nhưng tình yêu thương đầu môi chót lưỡi, giả dối, tạm bợ hoàn toàn chỉ chú vào quyền lợi cá nhân.
Bà mẹ Ca-na-an, bà mẹ người Sy-rô-phê-ni-xi dù là người ngoại, vì lòng yêu thương con mình mà tìm đến Chúa, kiên nhẫn chấp nhận mọi thử thách đức tin mà ĐCJC cố ý gây ra. Khi Chúa làm ngơ, như không để ý, chú tâm đến, mẹ vẫn tiếp tục cầu khẩn, van xin Ngài cứu con mình. Ai cười, ai nói, ai chế diễu mặc ai; bà chỉ nghĩ đến con mình. Bà nhẫn nhục cam chịu mọi lời nói xì xầm, mọi chê khinh, mọi xua đuổi chỉ vì thương con mình. Đây chính là sức mạnh của tình yêu thương.
Qv chắc nhớ câu chuyện về Ru-tơ và Na-ô-mi. Trong câu chuyện đó, KT cho biết bà Na-ô-mi đặt tên hai con trai bà là Mạc-lôn và Ki-li-ôn. Qv có biết hai tên này có nghĩa gì không? Mạc-lôn là bệnh hoạn; Ki-li-ôn là mòn mõi, kiệt quệ về sức lực lẫn tâm trí. (Ru-tơ: tình bạn; Ọt-ba: con nai, gazelle). Ai cũng muốn đặt tên cho mình như Phúc, Lộc, Thọ; có ai muốn đặt tên con là Khổ, Nạn, Hoài!
Nhưng dù hai con trai bệnh hoạn nhưng dưới mắt người mẹ thì bà Naomi vẫn cho là đầy đủ. Dù con mình có thế nào: mạnh khỏe hay bệnh tật, đau yếu; dù đẹp hay xấu; dù thế nào thì mẹ vẫn nhìn con qua cặp kính của tình yêu thương bởi vì con là núm ruột, con là một phần máu mủ mà mẹ đã cưu mang trong thân thể mình suốt chín tháng dài.
Chướng ngại thứ nhất là sự làm ngơ, làm thinh của Chúa. Chướng ngại thứ hai là lời xua đuổi nghiệt ngã, xem thường của các sứ đồ. Chướng ngại thứ ba trong câu 24: Ngài đáp rằng: Ta chịu sai đến đây, chỉ vì các con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên đó thôi.
ĐCJC chủ ý nói Ngài đến trước hết để cứu dân sự Ỵ chứ không phải dân ngoại. Dù nghe vậy người mẹ này cũng không nản lòng, bỏ cuộc. Trái lại KT viết: Song người đàn bà lại gần, lạy Ngài mà thưa rằng: Lạy Chúa, xin Chúa giúp tôi cùng! Nghe ĐCJC chối từ, bà lại càng đến gần Chúa hơn và càng khẩn thiết trong lời cầu xin.
ĐCJC lại thử người mẹ này, lại dựng lên một chướng ngại thứ tư (cuối cùng): Ngài đáp rằng: Không nên lấy bánh của con cái mà quăng cho chó con ăn. Một lần nữa niềm tin của bà vào quyền năng của ĐCJC và tình yêu thương cho đứa con gái nhỏ đang khổ sở vì quỉ ám thúc đẩy bà tiếp tục kiên trì trong đức tin.
Trong tiếng nguyên thủy Hy-lạp, có 2 từ khác nhau về chó. Một từ nói về loại chó hoang, rất hung dữ, man dại đi tìm thức ăn ngoài đường phố từ các đống rác. Một từ nói về chó nhỏ nuôi trong nhà. Đây là từ ĐCJC dùng. Chúa nói về con chó nhỏ nuôi trong nhà được chủ cho ăn thức ăn của mình từ bàn ăn hay từ thức ăn thừa còn lại. ĐCJC không hề có ý khinh khi hay nhục mạ người mẹ này. Chúa chỉ muốn thử đức tin của bà.
Câu trả lời của bà cho thấy rõ sự thông minh, khôn ngoan, lòng khiêm nhường và đức tin của bà vào Chúa: Người đàn bà lại thưa rằng: Lạy Chúa, thật như vậy, song mấy con chó con ăn những miếng bánh vụn trên bàn chủ nó rớt xuống. (Ma-thi-ơ 15:27). Bà vui lòng đón nhận những miếng bánh vụn, dư thừa rớt từ bàn chủ. Một thái độ khiêm nhường sẵn lòng đón nhận sự ban cho từ ĐCT.
Chẳng phải nhờ những mãnh vụn TL mà chúng ta được cứu hay sao? Chúng ta, cũng như người mẹ Ca-na-an này đều là dân ngoại, đều nhận những mãnh vụn tin lành, tin mừng về sự cứu rỗi qua ĐCJC. Những người Pha-ra-si, dân sự Ỵ vì lòng kiêu ngạo mà từ chối TL, nghĩ rằng họ không cần vì là con cháu Áp-ra-ham. Lòng kiêu ngạo giết chết mọi đức tin trong Chúa.
Tình yêu thương con mình khiến mẹ tự hạ mình xuống để tiếp tục khấn xin Chúa cứu đứa con gái nhỏ bị quỉ ám. Và chính sự kiên trì, lòng khiêm nhường, chính tình mẹ thương con đã khiến ĐCJC thốt ra lời khen ngợi đức tin của bà: Ngài bèn phán rằng: Hỡi đàn bà kia, ngươi có đức tin lớn; việc phải xảy ra theo ý ngươi muốn! Cũng một giờ đó, con gái người liền được lành. Từ lớn đây là mega. Người phụ nữ này có mega faith, đức tin lớn. Đức tin lớn thúc đẩy từ tình mẹ thương con.
Bao nhiêu người trong chúng ta trải qua tất cả 4 chướng ngại này mà vẫn có thể nhẫn nhục? Giả sử qv đến gặp một người để hỏi xin được giúp trong cơn khốn khó. Anh ấy làm ngơ, im lặng, không hề trả lời. Rồi các bạn của anh nói với anh: anh đuổi nó đi đi, ồn ào quá! Qv tiếp tục nhẫn nhịn? Rồi anh đó lại nói: điều anh hỏi xin được giúp dù tôi có nhưng chỉ cho người cùng xóm mà thôi. Qv càng đến gần hơn, rồi quì lạy cầu khẩn, van xin? Hay tự ái: tôi phải giữ mặt mủi, danh dự chớ! Không cần anh giúp đâu! Nhưng giả như khi qv quì lạy van xin, người đó lại nói: Không nên lấy bánh của con cái mà quăng cho chó con ăn! Một lời xem thường, khinh dễ, coi rẽ như vậy có thể chấp nhận hay không?
Tôi tin rằng mức độ nhẫn nhục của chúng ta hoàn toàn tùy thuộc vào mức độ của tình yêu thương với người nào đó hay điều gì đó. Vì mẹ thương con hơn chính danh dự, mặt mủi mình nên bà nhẫn nhục cho đến con mình được cứu.
[Lời khuyên con cái đối với mẹ, nhất là khi mẹ già yếu cần có sự nhẫn nhịn, chịu đựng 1 chút như mẹ đã nhẫn nhục chịu đựng con trong bao nhiêu năm từ khi còn thơ ấu cho đến lớn khôn.]
Tuy nhiên có sự nhẫn nhục nào to lớn sự nhẫn nhục của ĐCJC để cứu tội nhân như chúng ta? Hãy tìm đến Đấng đã vì tình yêu quá lớn cho chúng ta mà gánh chịu bao nhiêu nhục hình, thậm chí chết trên thập giá.
