Nguy Hiểm Của Lòng Dửng Dưng
Một câu hỏi có từ ngàn xưa và sẽ còn mãi đến ngàn năm tới là câu hỏi về nguyên nhân của sự đau khổ (the problem of suffering). Không ai khi nhìn những đau khổ trên thế gian này như bệnh tật, già nua, chiến tranh, thiên tai, lại không có lần tự hỏi: tại sao cuộc đời này lại có những đau khổ triền miên như vầy. Tại sao cuộc đời của một thiếu nữ 18 tuổi, con của hai vợ chồng hết lòng yêu mến, hầu việc Chúa, và chính em cũng hết sức yêu mến Chúa, mong sẽ hầu việc Chúa như người truyền giáo ở Nam Mỹ lại bị cắt ngắn cách đau thương vì bị người uống rượu lái xe đụng chết? Tại sao hằng triệu người trên thế giới vẫn còn sống trong sự nghèo đói, bệnh tật, thiếu thốn mọi bề?
Dù KT có thể không trả lời hoàn toàn thỏa đáng câu hỏi về sự đau khổ theo lý lẽ, nhưng một điều chúng ta biết chắn chắn: ĐCT của KT không phải là một Đấng dửng dưng, vô tâm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của con người. Làm sao MS có thể nói như vậy? Câu trả lời là thập tự giá của ĐCJC. Vì ĐCT yêu thương thế gian… (Giăng 3:16).
Chính vì ĐCT luôn luôn quan tâm, luôn luôn yêu thương thế gian nên người tin Ngài không thể sống bàn quan với tấm lòng thờ ơ, dững dưng, lạnh nhạt trước những việc xảy ra chung quanh hay đối với những người quanh chúng ta. “I don’t care, Tôi không cần biết” là một thái độ rất đáng lo sợ, thậm chí có thể gọi là nguy hiểm. Thử nghĩ với tôi về:
Học sinh trong trường lớp
Quan hệ trong gia đình, giữa vợ chồng, cha mẹ với con cái, anh chị em với nhau
Bè bạn với nhau
Người không có khả năng, còn có thể huấn luyện, chỉ dạy. Rụt rè, nhút nhát hay sợ còn có thể khuyến khích động viên. Biến nhác còn có thể thay đổi. Nhưng người thờ ơ, dững dưng thì không thể thay đổi vì có nói cũng không nghe, khuyên bảo cũng vô ích.
“Tội nặng nhất đối với những người chung quanh chúng ta không phải là thù ghét họ, nhưng là dững dưng với họ. Đây là tính chất chính yếu, cốt lõi của mọi điều bất nhân” Tại sao? Thấy người khốn khó, đau đớn mà trong lòng không một chút thương xót, thờ ơ xoay mặt làm ngơ, bỏ đi mà trong lòng có một chút gì ái nái, ray rứt, khó chịu thì quả thật nguy hiểm.
Ít nhất 2 lần KT cho biết ĐCJC khóc. Cả 2 lần Chúa đều khóc vì thảm cảnh đã xảy ra hay sẽ ra cho người Ngài yêu mến. Trước mồ La-xa-rơ, Chúa khóc
Tình yêu thương của Chúa cũng thể hiện trong câu chuyện chúng ta sẽ đọc trong Lu-ca 19:41-44:
Khi Ngài đến gần thành và thấy thành, Ngài khóc về thành rằng, “Ước gì ngày nay chính ngươi biết những gì đem bình an đến cho ngươi; nhưng bây giờ những điều ấy đã bị che khuất khỏi mắt ngươi. Vì những ngày đến, quân thù của ngươi sẽ đắp lũy chung quanh ngươi, bao vây ngươi, và công phá ngươi tứ phía. Chúng sẽ san bằng ngươi thành bình địa và giết con cái của ngươi sống trong ngươi. Chúng sẽ không chừa một tảng đá nào trên một tảng đá nào, vì ngươi không nhận biết thời điểm ngươi được thăm viếng.”(BD2011)
ĐCJC thấy gì khi Ngài nhìn thành Giê-ru-sa-lem? Ngôi vua? Bởi vì sự chào đón của dân chúng trong thành như vua? Hay thập giá? Là nơi Chúa sẽ bị phản, bị bắt, xử, rồi đóng đinh đến chết giữa hai tên cướp?
Tại sao Chúa khóc? Bởi vì lòng thương xót, tình yêu thương cho dân sự trong thành sẽ bị hủy diệt. Khi Đức Chúa Jêsus gần đến thành, thấy thì khóc về thành, và phán rằng: Ước gì, ít nữa là ngày nay, các ngươi đã hiểu biết sự làm cho mầy được bình an! Song hiện nay những sự ấy kín giấu nơi mắt các ngươi. 43 Vì sẽ có ngày xảy đến cho các ngươi, khi quân nghịch đào hố xung quanh các ngươi, vây các ngươi chặt bốn bề. 44 Họ sẽ hủy hết thảy, các ngươi và con cái ở giữa các ngươi nữa. Không để cho các ngươi hòn đá nầy trên hòn đá kia, vì các ngươi không biết lúc mình đã được thăm viếng. (Lu-ca 19:41-44)
Chúa thấy sự hủy diệt của thành và đền thờ. Chúa thấy dân sự và con cái của họ bị thảm sát. Vì vậy Chúa khóc. Chúa không khóc cho chính thân phận mình sẽ bị đóng đinh trong tuần lễ tới. Lòng Chúa thương yêu dân sự. Điều Chúa tiên tri xảy ra 40 năm sau đó. Năm 66 người Do Thái nổi loạn cùng đế quốc La-mã. 3 năm sau đó, Titus, con của đại đế Vespasian, được phái đến Giê-ru-sa-lem để dẹp loạn. Vào năm 70 lính La-mã phá được thành và đốt đền thờ. 600 ngàn người Do Thái bị giết. Theo sử gia Josephus 1.1 triệu người bị giết trong trận chiến này. Lời Josephus viết: The Temple Mount, everywhere enveloped in flames, seemed to be boiling over from its base; yet the blood seemed more abundant than the flames and the numbers of the slain greater than those of the slayers. The soldiers climbed over heaps of bodies as they chased the fugitives.
Khi Chúa cưỡi lừa con vào thành Giê-ru-sa-lem, dân chúng cả thành chào đón, ca ngợi. Lẽ ra Chúa vui mừng, hãnh diện, nhưng trái lại Ngài động lòng thương xót cho tương lai của dân chúng. Đây là lần thứ hai cách sách PA cho biết ĐCJC khóc. Chúa khóc không phải cho chính bản thân mình, nhưng vì tình cảm đối với La-xa-rơ và tình yêu thương đối với dân sự thành Giê-ru-sa-lem.
Trước đó ĐCJC cũng đã khóc khi thấy người bạn Ngài yêu mến qua đời và hai người chị em của ông vô cùng đau buồn vì cái chết này. Đức Chúa Jêsus thấy người khóc, và những người Giu-đa đi với người cũng khóc, bèn đau lòng cảm động mà phán rằng: Các ngươi đã chôn người ở đâu? (Giăng 11:33) Chúa thấy Ma-ri và những người Giu-đa đều khóc nên cũng xúc động.
Từ dịch đau lòng cảm động thật gồm 2 động từ. Động từ dịch đau lòng (bồi hồi – BHĐ) là embrimaomai có nghĩa là phẩn nộ, tức giận khi nhìn thấy một cảnh tượng thương tâm hay bất công. Vậy KT ghi lại 2 cảm xúc mạnh mẽ khác nhau của ĐCJC khi đến mồ người bạn Chúa yêu mến. Tại sao ĐCJC lại phẩn nộ? Bởi vì sự chết là một thảm cảnh. Sự chết chia cách người thân yêu trong gia đình, chia cách bạn hữu. Một người bàng quang, dửng dưng hay thờ ơ làm sao có 2 cảm xúc mạnh mẽ như ĐCJC?
Hình ảnh ĐCT trong cả suốt KT không phải là hình ảnh của một Đấng bàn quan, vô tâm, mặt kệ loài người. Nhưng là Đấng đầy tình cảm. Câu KT quen thuộc và nhiều người yêu thích nói về sự thành tín của ĐCT trong Ca Thương 3:22 Ấy là nhờ sự nhân từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt. Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm. Chú ý lời nhấn mạnh: Sự thương xót và nhân từ của ĐCT với dân sự Ngài mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm.
Từ thương xót, compassion là racham (rakh’am) có nghĩa là bụng dạ. Đây chính là từ được dùng trong câu chuyện về vụ xử của vua Sô-lô-môn và hai bà mẹ có đứa con chết. Khi vua bảo hãy chia đứa nhỏ này làm hai thì KT viết về người mẹ thật: Nhưng mẹ của đứa trẻ sống, vì gan ruột cảm động thương yêu con mình, bèn tâu với vua rằng: Ôi chúa tôi! Xin hãy cho người kia con trẻ sống, chớ giết nó. Nhưng người kia nói rằng: Nó sẽ chẳng thuộc về tao, cũng chẳng thuộc về mầy; hãy chia nó đi. (1 Các Vua 3:24)
ĐCT của KT không phải là một chủ, chúa bàn quan, thờ ơ. Sau khi đã tạo ra loài người, cho họ vườn Ê-đen rồi bỏ mặt họ muốn làm gì làm, sống sao cũng được trên trái đất này. Ai là người mặc đồ cho A-đam và E-va sau khi họ phạm tội? Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A-đam, và mặc lấy cho. (STK 3:21).
Ai là Đấng chăm sóc dân sự trong đồng vắng 40 năm dù họ ta thán, trách móc, phàn nàn không ngừng? Đức Giê-hô-va đi trước dân sự, ban ngày ở trong một trụ mây, để dẫn đường đi; ban đêm trong một trụ lửa, để soi sáng cho chúng, hầu cho được đi luôn ngày và đêm. 22 Ban ngày trụ mây chẳng bao giờ cách xa dân sự, trụ lửa ban đêm cũng vậy. (XEDTK 13:21-22) Một lần nữa chú ý sự quan phòng của ĐCT cho dân sự Ngài xảy ra cả ngày và đêm.
Chính vì sự quan tâm, lòng yêu thương, sự giận dữ khi thấy dân sự đi xa đường lối mà ĐCT sai bao nhiêu tiên tri đến với dân sự để bảo họ trở lại cùng Ngài. Lắng nghe những lời tha thiết của ĐCT dùng tiên tri Ô-se nói cùng dân sự dù khi phạm tội, lìa bỏ Chúa mà theo các tà thần:
Ta đã dùng dây nhân tình, dùng xích yêu thương kéo chúng nó đến. Ta đã như những kẻ cởi ách khỏi hàm chúng nó, và để đồ ăn trước mặt chúng nó. Hỡi Ép-ra-im, thể nào ta bỏ được ngươi? Hỡi Y-sơ-ra-ên, thể nào ta lìa được ngươi? Thể nào ta sẽ đãi ngươi được như Át-ma, hay là làm cho ngươi như Sê-bô-im? Lòng ta rung động trong ta; lòng thương xót của ta cả đều nóng nảy. (Ô-se 11:4, 8)
Câu chuyện về tiên tri Giô-na cho thấy ĐCT yêu thương, quan tâm đến cả dân ngoại.
ĐCT trong KT CU và TU là một ĐCT luôn quan tâm đến con người, đến dân sự Chúa. Chính vì vậy người tin Chúa cũng phải quan tâm, không thể dững dưng, vô tâm.
KHÔNG PHẢI CHUYỆN CỦA TÔI
Hơn 40 năm trước đây, vào một buổi sáng sớm (13/03/1964) tại thành phố New York, một phụ nữ tên Kitty Genovese đi làm về, đậu xe khoảng 100 ft cách apartment ở. Khi đi vào apt, bà bị một người đàn ông chận lại rồi tấn công. Bà chạy ra khỏi bãi đậu xe. Tên cướp đuổi theo và đâm vào lưng bà hai lần. Bà la lớn lên “Oh my God, he stabbed me! Help me!”. Hai tuần lễ sau tờ báo New York Times có một bài viết về vụ thảm sát này với tựa đề “Thirty-Eight Who Saw Murder Didn’t Call the Police” Bài viết bắt đầu với những lời sau:
Trong hơn nửa giờ, 38 công dân tuân thủ luật pháp đáng kính ở Queens đã theo dõi một kẻ giết người và đâm một phụ nữ trong ba cuộc tấn công riêng biệt ở Kew Gardens. Hai lần trò chuyện của họ và ánh sáng đột ngột của đèn phòng ngủ của họ làm gián đoạn anh ta và làm anh ta sợ hãi. Mỗi lần anh ta trở về, tìm kiếm cô ấy, và đâm cô ấy một lần nữa. Không có ai gọi điện cho cảnh sát trong vụ tấn công; Một nhân chứng được gọi sau khi người phụ nữ đã chết. Đó là hai tuần trước hôm nay
For more than half an hour 38 respectable, law-abiding citizens in Queens watched a killer stalk and stab a woman in three separate attacks in Kew Gardens. Twice their chatter and the sudden glow of their bedroom lights interrupted him and frightened him off. Each time he returned, sought her out, and stabbed her again. Not one person telephoned the police during the assault; one witness called after the woman was dead. That was two weeks ago today.
Khi hỏi tại sao những người này không gọi cảnh sát, một phụ nữ trả lời “we thought it was a lovers’ quarrel”. Một người vợ trả lời: “I didn’t want my husband to get involved” Người khác nhún vai trả lời: “I don’t know”. Sau vụ thảm sát đó, các nhà xã hội học có từ “the Genovese Syndrome” để nói về sự dững dưng, thờ ơ, lãnh đạm khi thấy người khác trong cơn nguy hiểm.
Dững dưng, thờ ơ, “I don’t care”, “who cares” là thái độ của người bất cần, ai làm gì thì cứ làm, nhìn nhưng không thấy, nghe không cần hiểu, ai buồn giận, sống chết ra sao mặc họ, miễn đừng đụng chạm đến tôi là được rồi. Đối với người dững dưng, quan hệ chỉ là một khoảng trống giữa 2 vần, 2 chữ, chứ không phải là một gạch nối.
Sự thờ ơ, lãnh đạm có nhiều lý do:
Không phải chuyện của tôi
Sợ hãi vì phải bị nguy hiểm, sợ dị nghị (người ta nói này nói khác)
Giận ghét hay chán nãn. Đã làm bao nhiêu lần rồi vẫn như vậy
Mất hết nhiệt tâm, lòng nóng nảy như lúc ban đầu
Ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình không hề nghĩ đến ai khác
Ví dụ của sự thờ ơ, lãnh đạm: 1) Các anh của Giô-sép khi bỏ em mình xuống hố để sau đó bán làm nô lệ. Sau đó KT viết “đoạn, họ lại ngồi ăn” (STK 37:25) đang khi Giô-sép cầu khẩn, than khóc của em trong giếng khô. Có thể họ xem đó như một thú giải trí đang khi ăn! 2) Dân chúng thời Nô-e khi thấy ông đóng chiếc tàu chuẩn bị cho cơn đại hồng thủy.
Không một cuộc gặp gỡ nào giữa ĐCJC với người quanh Chúa mà Ngài lại làm ngơ, thờ ơ, lãnh đạm. Từ cuộc gặp gỡ với người đàn bà Sa-ma-ri có 5 đời chồng, hay sự kêu gọi các môn đồ, hay khi giảng dạy cho đoàn dân đông, nhất nhất Chúa đều chú tâm vào con người trước mắt.
KT viết sau khi nghe tin Giăng Báp-tít bị vua Hê-rốt chém đầu, Đức Chúa Jêsus vừa nghe tin ấy liền bỏ đó xuống thuyền, đi tẻ ra nơi đồng vắng. Khi đoàn dân biết vậy, thì từ các thành đi bộ mà theo Ngài. 14 Ngài ở thuyền bước lên, thấy đoàn dân đông đúc, động lòng thương xót, mà chữa cho kẻ bịnh được lành. 15 Đến chiều tối, môn đồ tới gần Ngài mà thưa rằng: Ở đây vắng vẻ, và trời tối rồi, xin thầy cho dân chúng về, để họ đi vào các làng đặng mua đồ ăn. 16 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Không cần họ phải đi; chính các ngươi hãy cho họ ăn. (Ma-thi-ơ 14:13-16). Thay vì lo sợ cho chính sự an toàn của mình, Chúa động lòng thương xót đoàn dân đông, chữa bệnh, cho bánh ăn.
Đây chính là ĐCT chúng ta thờ phượng. Đấng ngự trên cao nhưng luôn luôn quan tâm, để ý, châm sóc cho dân sự Ngài.
Là tín đồ ĐCJC chúng ta làm gì khi đối diện với nan đề, thảm cảnh trong cuộc sống? Thông thường có mấy thái độ, phản ứng sau đây:
Một số người nghĩ làm sao tôi có thể lợi dụng được nan đề này để thêm lợi cho tôi.
Số người khác nghĩ cách để tránh né, để khỏi phải tham gia, khỏi phải tốn thời gian, công sức
Nhưng người tin Chúa phải là người hỏi rằng: làm thế nào để tôi có thể đóng góp, để giúp giải quyết vấn đề (how can I be part of the solution; how can I help)
Hội thánh Chúa tại đây khi nghe tin đồng bào tại VN đang gặp khó khăn vì covid thì nghĩ đến cách để trợ giúp thay vì thờ ơ, dửng dưng trước những thảm cảnh đang xảy ra nơi quê nhà. Đây là thái độ, tấm lòng của người môn đồ ĐCJC.
Chúng ta hỏi làm thế nào để tôi có thể giúp, có thể đem lại phần nào sự yên ủi, niềm hy vọng cho những người trong cảnh khó khăn, mất mát.
NGUY HIỂM CỦA LÒNG DỮNG DƯNG
Hành động, thể hiện tình yêu thương, sự quan tâm không bắt đầu từ một khoảng không (vacuum) . Nhưng bắt đầu với một xúc động, tình cảm, bắt đầu với sự quan tâm thật lòng. Nhiều lúc cảm xúc không có thì sao? Cứ tiếp tục hành động, làm việc, sau đó cảm xúc sẽ đến.
Trẻ em mới sinh ra không biết gì khác ngoài nhu cầu của chính nó. Không ai bắt lỗi trẻ sơ sinh cả. Đến tuổi 5-7 cha mẹ dạy thấy người lớn phải thưa, dạy phụ giúp chút chút như giúp lượm đồ chơi sau khi chơi, dạy chia sẻ với bạn chớ không dành hết đồ chơi cho mình. Càng lớn lên thế giới của một người ngày càng rộng hơn, gồm nhiều người hơn. Không phải chỉ gia đình, bè bạn nhưng còn cả những người không quen biết. Chính sự quan tâm đến người không biết mới là thước đo của lòng nhân từ, rộng rãi của một người trong xã hội.
Thủ tướng Anh Quốc Winston Churchil nói: Chúng ta kiếm sống bằng những gì chúng ta nhận được, nhưng chúng ta tạo ra một cuộc sống bằng những gì chúng ta cho đi (We make a living by what we get, but we make a life by what we give).
Có bao giờ quí vị vào nhà dưỡng lão (nursing home)? Quí vị thấy gì? Những người già nua, yếu ớt? Dĩ nhiên rồi, nếu không sao gọi là dưỡng lão! Nhưng quí vị có thấy nhiều người ngồi trên xe đẩy nhìn ra cửa trông móng con cháu đến thăm viếng. Thử nghĩ nếu con cháu họ thờ ơ, lãnh đạm, không quan tâm đến cha mẹ, ông bà thì những người già đó thấy cô đơn biết chừng nào!
Không ai khen một người qua đời về những gì họ đem theo nhưng về những gì họ để lại trong cuộc đời những người còn sống. Nếu qv thờ ơ với gia đình, trong quan hệ với Chúa, với công việc Chúa thì quí vị để lại gì trong cuộc đời này khi ra đi? Ai sẽ thương nhớ, nhắc nhở đến quí vị như là một người luôn quan tâm đến người khác, lo lắng cho gia đình, nhiệt tâm trong công việc Chúa.
ĐCJC cảnh cáo tín đồ, hội thánh không nóng hay lạnh, nhưng hâm hẩm:
Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay! 16 Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta. (KH 3:15-16)
Từ biết đây không phải là nghe lại từ người khác hay đọc qua một bản báo cáo. Trong các sách Phúc Âm từ này nhiều lúc được dịch là thấy, hiểu, kể lại,thuật lại. ĐCJC thấy rõ, hiểu rõ, có thể thuật lại cho ĐCCha về mọi công việc của mỗi quí vị. Chúa biết tấm lòng của mỗi tín đồ hội thánh Lao-đi-xê. Lòng họ dững dưng, thờ ơ, lãnh đạm với Chúa, với công việc Ngài. Họ hâm hẩm, không nóng, cũng không lạnh. Vì vậy Chúa sẽ nhả họ ra. Từ nhả đây là nhổ ra, phun ra. Nói rõ hơn Chúa ghét lòng hâm hẩm.
Lòng dững dưng nguy hiểm bởi vì Chúa ghét. Nguy hiểm cũng bởi vì chính người dững dưng sẽ trở nên nạn nhân đầu tiên. Sự thờ ơ sẽ thay đổi chính chúng ta. Ban đầu chúng ta có thể chán ngán với thực tế, hay cay đắng trước tình người bạc bẽo, mau thay lòng đổi dạ mà trở nên bất cần, dững dưng. Chúng ta tự bảo với mình: đủ rồi, ai muốn làm gì thì làm! Rồi dần dần chính bản thân chúng ta sẽ thay đổi. Chúng ta sẽ trở nên một người lạnh lùng, xa cách, thờ ơ trong những điều khác.
Quí vị còn nhớ câu chuyện ĐCJC trong buổi ăn cuối cùng các môn đồ cởi áo lấy nước rửa chân cho họ. Dù biết rằng Giu-đa sẽ phản bội, bán mình với 30 miếng bạc, Phi-e-rơ sẽ chối, và 10 người còn lại sẽ bỏ trốn. Dù biết nhưng Chúa vẫn yêu thương họ Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng (Giăng 13:1) Thay vì mặc kệ họ, thay vì lạnh nhạt với họ, ĐCJC dùng tình yêu thương mà đối xử, thay đổi họ.
- Khi dững dưng, người chung quanh cũng không còn giá trị gì. Ai sống chết mặc họ. Ai làm gì mặc họ.
- Khi dững dưng, quan hệ với Chúa, với công việc Chúa không còn ý nghĩa gì. Ngọn lửa nhiệt thành ngày nào cháy mạnh giờ chỉ còn lại đống tro nguội lạnh. Dù vẫn đi nhà thờ, vẫn thờ phượng Chúa, vẫn đọc KT nhưng lòng không còn trong đó. Chỉ làm vì thói quen, cho tròn trách nhiệm.
Khi biến cố 9/11 xảy ra, khi dân chúng bỏ chạy từ các tòa nhà cao tầng đang bị cháy thì những người lính cứu hỏa can đảm chạy vào. Một câu chuyện về người trai trẻ 24 tuổi với tương lai hứa hẹn trước mắt:
Trong ngày lê lao động vài ngày trước 9/11, Welles Crowther, một chàng trai trẻ 24 tuổi đang làm việc trong một ngân hàng như một người cố vấn đầu tư trên tầng lầu 104 của tòa tháp phía nam nói với mẹ anh rằng anh có linh cảm rằng anh sẽ được dự phần vào một điều gì đó rất lớn, rất lịch sử.
Câu chuyện về Welles Crowther. Một chàng trai trẻ, 24 tuổi, mới bắt đầu, làm việc như một cộng sự cơ sở tại một ngân hàng đầu tư trên tầng 104 của tòa tháp phía nam. Anh ta luôn mang trong túi sau một chiếc khăn màu đỏ, và họ trêu chọc anh ta. ANH LÀ GÌ, MỘT NÔNG DÂN? Anh ấy sẽ cười và thể hiện sự dũng cảm: VỚI BANDANA NÀY, tôi là GONNA THAY ĐỔI THẾ GIỚI. Và ngày hôm đó khi thế giới bùng nổ, anh ta đã làm. Ông dẫn mọi người đến nơi an toàn, đưa họ xuống các tầng thấp hơn. Anh ấy tiếp tục quay lại để biết thêm. Để bảo vệ khỏi khói, ông đặt bandanna trên khuôn mặt của mình. Anh không bao giờ trở về nhà từ các tòa tháp ngày hôm đó hoặc ngày hôm sau, cha mẹ anh đã đau khổ, hy vọng chống lại hy vọng. Rồi một ngày, ba ngày sau, mẹ anh đang ở bàn làm việc tại nhà ở Nyack, New York Đột nhiên bà cảm thấy một sự hiện diện phía sau mình. Cô ấy không nhìn, không nhúc nhích. Cô ấy biết đó là Welles. Cô ấy biết anh ấy đang nói lời tạm biệt. Cô ấy nói: "Cảm ơn". Bây giờ cô ấy biết anh ấy đã chết. Nhiều tháng để tang, không có tin tức gì về việc ông đã chết như thế nào. Và một ngày nọ, cuối tuần Lễ Tưởng niệm năm 2002, tờ New York Times đã có một câu chuyện về những phút cuối cùng trong các tòa tháp, và họ đề cập đến những người sống sót nói về một người đàn ông trong một chiếc khăn màu đỏ đã cứu họ. Và mẹ của Welles nghĩ rằng bà biết đó là ai. Cô ấy có một bức ảnh của con trai mình cho những người sống sót và họ nói có, đó là người đàn ông đã cứu tôi. Một thời gian sau, họ tìm thấy hài cốt của ông, gần sở chỉ huy mà lính cứu hỏa đã thiết lập ở Tháp Nam. Khi gia đình ông mở căn hộ của mình, họ tìm thấy một ứng dụng chưa hoàn thành để trở thành lính cứu hỏa thành phố New York.
Chỉ vài ngày trước vụ 11/9, vào cuối tuần Ngày Lao động, Welles, đến thăm cha mẹ, đã bị khuất phục một cách bất thường. Anh ấy nói với mẹ rằng anh ấy có cảm giác anh ấy sẽ là một phần của một cái gì đó lớn, có một vai trò để chơi trong đó hoặc một công việc để làm.
There was Welles Crowther. Remember him? A young guy, 24, just starting out, worked as a junior associate at an investment bank on the 104th floor of the south tower. He always carried in his back pocket a red bandanna, and they teased him. WHAT ARE YOU, A FARMER? He’d laugh and show bravado: WITH THIS BANDANA I’M GONNA CHANGE THE WORLD. And that day as the world exploded he did. He led people to safety, carried them down to lower floors. He kept going back for more. To protect from the smoke he put the bandanna over his face. He never came home from the towers that day or the day after, his parents were anguished, hoping against hope. Then one day, three days in, his mother was at her desk at home in Nyack, N.Y. Suddenly she felt a presence behind her. She didn’t look, didn’t move. She knew it was Welles. She knew he was saying goodbye. She said: “Thank you.” She knew now he was dead. Months of mourning, no word on how he’d died. And one day, Memorial Day weekend 2002, the New York Times had a story about the last minutes in the towers, and they mentioned survivors who spoke of a man in a red bandanna who’d saved them. And Welles’s mother thought she knew who that was. She got a picture of her son to the survivors and they said yes, that was the man who saved me. Some time later they found his remains, near the command post the firemen had set up in the South Tower. When his family opened his apartment they found an unfinished application to become a New York City fireman.
CHÚA THẤY GÌ KHI NHÌN THÀNH
Điều gì khiến lòng người trở nên dửng dưng, thờ ơ, lạnh nhạt? Có nhiều lý do. Có thể vì quá quen thuộc, thấy mỗi ngày. Có thể vì chính mình cũng đã chịu bao nhiêu khó khăn, mất mát, trải qua bao nhiêu thảm cảnh trong đời mà không ai ngó ngàng, quan tâm đó. Có thể quí vị đã kinh nghiệm được những cay đắng, chua chát trong quá khứ nên không muốn làm gì, nghĩ gì nữa. Dù lý do gì, chắc không ai trong chúng ta có thể phủ nhận rằng chính ĐCJC cũng đã trải qua những đau khổ, mất mát có thể làm cho một người trở nên cay đắng, dững dưng. Trái lại Chúa khóc cho dân sự, chính dân sự sẽ đóng đinh Ngài.
Lòng dửng dưng không xảy ra một ngày một bửa. Cũng vậy để thay đổi cũng phải cần thời gian. Qv có thể bắt đầu từ bây giờ, trong giờ này, trong buổi sáng nay. Tôi kêu gọi đặc biệt đến thanh thiếu niên vì các con còn trẻ, còn có thời gian.
Nếu ĐCT thờ ơ, lạnh nhạt với loài người thì mọi người sẽ vào địa ngục. Nhưng chính bởi tình yêu thương mà ĐCJC đến thế gian chịu chết cho tội chúng ta. Sứ đồ Phao-lô viết:
Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo chăng? …Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta. (Rô-ma 8:35, 38)
Qv nhớ lời của 2 môn đồ trên đường đến làng Ê-ma-út đã gặp ĐCJC sau khi Ngài sống lại. Chúa đồng đi với họ và giải thích KT cho họ hiểu rằng cả KTCU đều viết về Ngài.
Họ bảo nhau: “Khi nãy đi đường, Thầy đã nói chuyện với chúng ta và giải thích Kinh Thánh, lòng chúng ta đã chẳng như thiêu như đốt sao?” (Lu-ca 24:32)
Hãy đến với Chúa, Đấng đã khóc cho tôi và quí vị mà xin Ngài thay đổi tấm lòng chai đá.
Chúa gọi HT Chúa, con dân Chúa, đặc biệt các thanh niên tích cực tham gia đóng góp vào công việc Chúa, vào phúc lợi xã hội. Chúa gọi con dân Chúa thắp ngọn nến sáng thay vì ngồi trong bóng tối mà rủa sả, chê bai. Vì trong những lúc khó khăn, đen tối nhất, những người chung quanh chúng ta, thế giới cần hy vọng, yên ủi, cần ánh sáng ĐCJC.
Xin Chúa cho HT này là hy vọng, yên ủi, ánh sáng.
I stopped demanding that God fix the problems and started to be thankful for his presence as I endured them (Beamer 203)
A thought stuck with me: who are you to question God and say that you have a better plan than He does? (Beamer 193)
