Ngươi Yêu Ta Chăng?
Nếu tôi hỏi qv lý do gì, động cơ gì, nguyên nhân gì khiến qv đến thờ phượng Chúa sáng nay, khiến qv học KT, cầu nguyện, dâng hiến, tham gia vào các công việc HT, khiến qv tiếp tục giữ vững đức tin dù năm qua đã trải qua nhiều khó khăn, thử thách, khiến qv muốn hầu việc Chúa, câu trả lời qv là gì? Lý do gì, động cơ gì, nguyên nhân gì? Có thể một số tín đồ cho rằng lý do chính là sự kính sợ ĐCT, như lời tác giả CN Sự kính sợ ĐCT là khởi đầu tri thức. Một số khác cho rằng động cơ chính là để được phước, nhớ lời của ĐCJC Ai hầu việc Ta, ắt Cha Ta yêu mến người, hay lời Chúa hứa ai từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, ruộng đất vì cớ danh ta sẽ được nhận gấp trăm lần hơn và thừa hưởng sự sống vĩnh phúc (Ma-thi-ơ 19:29). Số khác cho rằng động cơ chính phải là lòng biết ơn Đấng đã hy sinh chịu chết cho tội chúng ta, như lời PL giải thích 15 lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình (2 Cô-rinh-tô 5:15).
Những lý do này đều chính đáng, nhưng tôi tin qv chắc đồng ý với tôi rằng lý do chính yếu và căn bản để chúng ta trung tín với Chúa, phục vụ Ngài là tình yêu thương. PL gọi tình yêu thương là sự ban cho lớn hơn hết hay những ân tứ lớn lao hơn (BDM) và con đường tốt lành hơn (1 Cor 12:31). Câu chuyện về sự ĐCJC hiện ra cùng các môn đồ tại biển Ga-li-lê và những câu hỏi của Chúa cùng Si-môn Phi-e-rơ dạy rõ điều này.
HỌ CÙNG ĐI ĐÁNH CÁ
Câu chuyện ĐCJC hiện ra cùng các môn đồ trong Giăng 21 xảy ra tại vùng biển Ti-bê-ri-át, còn gọi là biển Ga-li-lê vào một buổi sáng sớm. Câu 2 cho biết cùng với Si-môn Phi-e-rơ còn có ít nhất 6 sứ đồ khác: Thô-ma gọi là Đi-đim, Na-tha-na-ên nguyên ở thành Ca-na trong xứ Ga-li-lê các con trai của Xê-bê-đê và hai người môn đồ khác nữa. Vùng biển Ga-li-lê này cũng chính là nơi ĐCJC đầu tiên gặp họ và sau đó gọi họ theo Ngài.
Khi P. nói với cả nhóm rằng Tôi đi đánh cá, mọi người đều cùng đi với P. Trong số 7 người này, dĩ nhiên không ai giống ai ngoại trừ một điều là họ đều lớn lên và sinh sống tại vùng biển Ga-li-lê, làm nghề đánh cá. Trái lại, khi đọc 4 sách PA, chúng ta biết họ khác nhau rất nhiều về tính tình và cách cư xử, thái độ. Na-tha-na-ên là người khi nghe ĐCJC từ làng Na-za-rét thì có lời châm biếm, chê bai: Na-xa-rét, có gì tốt từ đó ra. Nhưng sau khi nghe Chúa cho biết Ngài thấy ông từ lúc còn dưới cây vả thì lập tức gọi ĐCJC là Con ĐCT, là Vua Y-sơ-ra-ên. Nhưng hoàn toàn trái với N. là Thô-ma, một người lúc nào cũng hoài nghi. Sau khi nghe tin La-xa-rơ đã chết, ĐCJC nói cùng các môn đồ trở lại vùng Giu-đê, là nơi mà người Giu-đê vừa ném đá Chúa. Khi nghe Chúa, Thô-ma nói lời rất bi quan, nghi ngờ: Chúng ta hãy cùng đi, dù phải chết thì chết chung với Thầy! (Giăng 11:16). Và dĩ nhiên thành ngữ HK doubting Thomas nói về một người hay nghi ngờ vì ông không tin vào sự sống lại của ĐCJC và bảo với các sứ đồ khác chỉ khi chính tay mình đặt tay vào dấu đinh tay Chúa và dấu giáo đâm hông Chúa thì ông mới tin.
Hai người con Xê-bê-đê là Giăng, người viết lại câu chuyện này và anh là Gia-cơ. Giăng là môn đồ trẻ tuổi nhất, người rất gần gũi và được ĐCJC yêu hơn hết. ĐCJC cho anh em Giăng & Gia-cơ một biệt danh là Bô-a-nẹt có nghĩa là con của sấm sét. Từ bô-a-nẹt có nghĩa là rối loạn, lộn xộn, đúng như từ con của sấm sét, là đi đến đâu chắc có rối loạn, có lộn xộn, có xung đột đến đó. Thật vậy chính 2 anh em này là người nói với Chúa Chúa có muốn chúng con khiến lửa từ trời trút xuống thiêu hủy họ [người Sa-ma-ri không tiếp rước ĐCJC khi Chúa trên đường đến Giê-ru-sa-lem] không?(Lu-ca 9:54) đến nỗi Chúa phải quở trách họ!
Cũng chính 2 anh em này là người hỏi xin ĐCJC (mẹ họ hỏi xin Chúa) cho người ngồi bên hữu, người bên tả Chúa khi Ngài vào nước Thiên Đàng uy quyền, làm cho các sứ đồ khác phải tức giận và cải cọ với nhau. Sách Mác 14:51 ghi lại câu chuyện khi ĐCJC bị bắt trong vườn G. một người trẻ tuổi trần truồng chạy tháo thân; có người cho rằng người trẻ tuổi đó chính là sứ đồ Giăng, nhưng chúng ta không biết chắc điều này. Một điều rõ là ĐCJC trong giờ phút cuối cùng trên thập giá đã ủy thác việc nuôi dưỡng bà Ma-ri cho Giăng. Vậy cho thấy Chúa tin tưởng Giăng dù là một người trẻ tuổi hơn hết trong số 12 sứ đồ.
Ít nhất 2 lần các sứ đồ tranh cải với nhau xem ai là người lớn hơn hết. Một lần sau khi Chúa nói với họ rằng Ngài sẽ bị bắt, nộp vào tay người ta rồi đóng đinh đến chết, thay vì thảo luận với nhau ý nghĩa của lời này, họ lại tranh cải với nhau xem ai là người lớn hơn hết (Mác 9:31-34, Ma-thi-ơ 18:1, Lu-ca 9:46). Lần thứ hai còn tệ hơn nữa. Họ tranh cải với nhau xem ai được tôn là lớn hơn hết ngay trong buổi ăn cuối cùng với ĐCJC trên phòng cao sau khi, sau khi Chúa nói với họ rằng đây là buổi ăn cuối cùng với họ: Ta rất muốn ăn lễ Vượt Qua nầy với các ngươi trước khi ta chịu đau đớn. 16 Vì, ta nói cùng các ngươi, ta sẽ không ăn lễ nầy nữa cho đến khi lễ ấy được trọn trong nước Đức Chúa Trời. (Lu-ca 22:15-16). Để dạy họ về sự khiêm nhường Chúa làm gương rửa chân cho họ và dạy thế này: Các vua của các dân ngoại lấy phép riêng mình mà cai trị, những người cầm quyền cai trị được xưng là người làm ơn. 26 Về phần các ngươi, đừng làm như vậy; song ai lớn hơn trong các ngươi phải như kẻ rất nhỏ, và ai cai trị phải như kẻ hầu việc. 27 Vì một người ngồi ăn với một người hầu việc, ai là lớn hơn? Có phải là kẻ ngồi ăn không? Nhưng ta ở giữa các ngươi như kẻ hầu việc vậy. (Lu-ca 22:25-27).
Rõ ràng ngay đến đêm cuối cùng với ĐCJC 12 sứ đồ vẫn còn là những con người xác thịt, tham danh vọng, quyền chức. Họ so sánh, tranh cải với nhau xem ai lớn hơn ai, ai được trọng hơn ai. Điều này cho thấy rằng dù sau 3 năm dài theo Chúa, nghe lời Chúa dạy, chứng kiến phép lạ Chúa làm, đời sống của các môn đồ cũng chưa hoàn toàn thay đổi. 3 năm! Hôm nay chúng ta đòi hỏi người mới tin Chúa phải hoàn toàn thay đổi sau 3 tháng! Không có sự trợ giúp của ĐTL thì đời sống chúng ta sẽ không thể thay đổi.
Còn Phi-e-rơ thì hầu hết qv đây chắc cũng đã có một khái niệm về tính tình, con người ông thế nào. KT dạy chúng ta phải mau nghe, chậm nói, cần suy nghĩ trước khi hành động, nhưng P. là người trái lại: mau nói, chậm nghe, làm trước khi nghĩ sau. Vì mau nói, vội làm, không suy nghĩ cho thấu đáo nên lắm khi nói xong, làm xong lại hối hận. Chính P. là người xác quyết dù ai bỏ Chúa nhưng ông, chỉ mình ông không bao giờ bỏ Chúa, thậm chí ông sẵn sàng chết cho Chúa. Chính P. là người hỏi xin ĐCJC cho ông được đi trên mặt biển. Chính P. là người nói với Chúa mà không biết mình nói gì là làm 3 lều cho Chúa, Mô-se và Ê-li khi ĐCJC hóa hình trên núi. Chính P. là người rút gươm chém đứt tai một người lính khi ĐCJC bị bắt trong vườn Ghết-sê-ma-nê. Và cũng chính P. là người chối ĐCJC 3 lần.
Dù không phải là tâm lý gia nhưng chúng ta đều có thể đoán biết được tâm trạng của P. mỗi khi nghĩ về tội lỗi của ông với Chúa. Mạnh dạng, lớn tiếng, hùng hổ tuyên bố trước Chúa và anh em sứ đồ rằng dù ai, bất kỳ ai đó, có bỏ Chúa thì tôi, P. vẫn không bao giờ làm điều đó. Thậm chí ông sẽ chịu chết cho Chúa. 33 Phi-e-rơ cất tiếng thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, song tôi chắc không bao giờ vấp phạm vậy. 34 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, chính đêm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần. 35 Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu tôi phải chết với thầy đi nữa, tôi chẳng chối thầy đâu. Hết thảy môn đồ đều nói y như vậy. (Mathiơ 26:31-35)
Ông muốn là một người can đảm, trung tín nhưng khi đối diện với thực tế thì con người cũ sợ hãi, hèn nhát toàn thắng. Buồn, tủi, xấu hổ. Thất vọng với chính mình.
Khi P. nói tôi đi đánh cá có lẽ ông muốn quên đi chuyện cũ vẫn còn ám ảnh, in sâu trong trí ức, con tim. Mà ai lại không cố để quên đi lỗi lầm như P.? Mặc cảm tội lỗi, sự hối hận dày vò không được tha thứ là một liều thuốc độc chậm tác dụng, giết người cách dần dà, đau đớn. Mỗi khi nhớ đến, nghĩ đến chuyện xưa thì lòng cảm thấy như ai lấy dao nhọn đâm vào. Một số qv đây chắc cũng như tôi kinh nghiệm được nỗi đau đáng ghê sợ này. Có lúc người trong cuộc nghĩ, thà chết còn hơn phải sống trong sự hối hận, tủi nhục, buồn phiền này!
Cám ơn Chúa vì chính Ngài đã đến với P., đến với các sứ đồ trên bải biển Ga-li-lê buổi sáng hôm đó để nói lời tha thứ, yêu thương, để hồi phục lại hy vọng, niềm vui, mục đích cho cuộc đó. Cũng như Chúa đã đến với tôi và qv để tha thứ, để nói với những ai thật sự ăn năn, thống hối về tội lỗi mình: Ta tha thứ tội con rồi. Sự tha thứ là một ơn phước vô cùng to lớn mà chỉ có những người được tha thứ mới hiểu hết được giá trị. PL viết về vua Đa-vít ghi nhận ơn phước lớn lao đó vì chính PL cũng như Đa-vít là người tay dính máu người vô tội được Chúa tha thứ: Ngay vua Đa-vít cũng nói như vậy về phước hạnh của người mà Đức Chúa Trời kể là công chính không bởi việc làm: 7 "Phước cho người được tha vi phạm, được khỏa lấp tội lỗi; 8 Phước cho những ai mà Chúa sẽ chẳng bắt tội." (Rô-ma 4:6-7 – BDM)
Truyền thống lịch sử HT cho biết Mác là người con trong Chúa trung tín và gần gũi với sứ đồ P. và PA theo Mác là theo lời của P. kể cho Mác viết lại. Tôi tin P. chọn Mác, gần gủi người trẻ tuổi này như PL với Ti-mô-thê là bởi vì P. cảm thông cho lỗi lầm của Giăng Mác đã bỏ cuộc giữa đường trong chuyến truyền giáo thứ nhất.
Tôi chắc hầu hết qv đây đều biết câu chuyện ngụ ngôn ĐCJC kể về người đầy tớ vô ơn thiếu nợ chủ một số nợ lớn đến nỗi làm cả đời cũng không trả hết được. Nhưng khi được chủ tha thì lại đối xử nghiệt ngã với người nợ mình không bao nhiêu. Nếu chúng ta đã được Chúa tha thứ tội lỗi thì cũng phải có lòng nhân từ, thương xót người phạm lỗi cùng mình mà sẵn sàng tha thứ, bỏ qua khi họ đã ăn năn, xưng tội.
Tại sao tôi lại giải thích những điều này về 7 sứ đồ hiện diện tại vùng biển Ga-li-lê, cùng đi đánh cá buổi sáng khi ĐCJC hiện ra cùng họ? Để cho thấy rằng tất cả đều có những lầm lỗi, ân hận về lời nói, hành động trong thời gian theo Chúa. Tất cả đều bỏ Chúa mà chạy trốn, còn P. không chỉ bỏ chạy trốn mà còn chối Chúa 3 lần. Tính tình họ hoàn toàn khác nhau, đã từng xung đột với nhau nhưng họ có một tình cảm chung là mỗi người, mọi người đều yêu mến ĐCJC, mọi người đều ý thức về tội lỗi mình với Chúa. Sự tập họp này, tình thân này, sự hòa thuận này đến từ quan hệ của họ với ĐCJC. Trong danh Chúa Jesus chúng ta là anh em với nhau.
PL dạy: Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhân từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, 13 nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy. 14 Nhưng trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành. (Cô-lô-se 3:12-14). Chính bởi sợi dây liên lạc của sự trọn lành, là lòng yêu thương, đầu tiên với Chúa rồi với nhau nên dù có sự khác biệt họ vẫn có thể hiệp một.
Trong đêm cuối đời ĐCJC cầu nguyện cho sự hiệp một trong vòng những người tin Ngài. Sự hiệp một đó không phải vì tất cả chúng ta đều giống nhau về tính tình, khả năng, nhưng trái lại 12 sứ đồ của Chúa cho thấy có sự khác biệt rất lớn giữa họ. HT Chúa là thân thể Đấng Christ cần có sự đa dạng, khác biệt từ nhiều người khác nhau, nhưng tất cả những chi thể rất khác biệt đó, những tín đồ trong HT hoàn toàn khác biệt có thể hiệp một vì chúng ta có cùng một Chúa, chia sẻ tình yêu thương trong Chúa.
Một bài học quan trọng nữa là khi Chúa gọi người theo Chúa, hầu việc Chúa, Chúa không gọi những người toàn diện, nhưng những người vẫn còn nhiều thiếu sót, sai lầm. Có khác chăng là họ ăn năn, họ ý thức những thiếu sót, khiếm khuyết, lỗi lầm trong tính hạnh, trong lời nói, trong cách cư xử, trong sự hiểu biết mà ăn năn, xin Chúa tha thứ, xin Chúa thay đổi. Chúa không gọi những người tài giỏi nhưng kiêu ngạo. Chúa gọi tội nhân biết ăn năn.
THA THỨ & HỒI PHỤC
Ba năm trước đó cũng tại biển Ga-li-lê là nơi ĐCJC đã gọi các môn đồ đầu tiên trong số đó có Simon Phierơ, Andrew, anh em Giăng, Gia-cơ con trai Xê-bê-đê (Matt 4:18-27). Lu-ca 5:1-10 kể câu chuyện ĐCJC bảo Phierơ hãy đem thuyền ra nơi nước sâu mà thả lưới.
Si-môn thưa rằng: Thưa thầy, chúng tôi đã làm suốt đêm không bắt được chi hết; dầu vậy, tôi cũng theo lời thầy mà thả lưới. 6 Họ thả lưới xuống, được nhiều cá lắm, đến nỗi lưới phải đứt ra. 7 Họ bèn ra vọi gọi đồng bạn mình ở thuyền khác đến giúp; bạn kia đến chở cá đầy hai chiếc thuyền, đến nỗi gần chìm. 8 Si-môn Phi-e-rơ thấy vậy, liền sấp mình xuống ngang đầu gối Đức Chúa Jêsus, mà thưa rằng: Lạy Chúa, xin ra khỏi tôi, vì tôi là người có tội. 9 Số là, vì đánh cá dường ấy, nên Si-môn cùng mọi người ở với mình đều thất kinh; Gia-cơ và Giăng con Xê-bê-đê, là những kẻ đồng bạn với Si-môn cũng đồng một thể ấy. 10 Đức Chúa Jêsus bèn phán cùng Si-môn rằng: Đừng sợ chi, từ nay trở đi, ngươi sẽ nên tay đánh lưới người. 11 Đoạn, họ đem thuyền vào bờ, bỏ hết thảy mà theo Ngài. (Lu-ca 5:5-11)
Câu chuyện trong Giăng 21 cũng giống như Lu-ca 5 về việc họ đánh cá cả đêm mà chẳng được gì cả. Chỉ khi họ nghe theo lời của ĐCJC thì mới đánh được cá, nhiều cá. Chắc mỗi người đều nhớ về kỷ niệm 3 năm về trước với Chúa. Dù họ là người đánh các quen thuộc với biển Ga-li-lê như với lòng bàn tay thì ĐCJC vẫn biết nhiều, biết rõ hơn họ. Họ luôn luôn phải lắng nghe lời dạy của ĐCJC, chớ đừng cho rằng mình đã có nhiều kinh nghiệm, hiểu biết về điều này.
Ánh lửa vào buổi sáng sớm cũng có thể nhắc Phierơ về ánh lửa ông đứng gần sưởi ấm trong đêm Chúa bị bắt và cũng chính tại đó ông chối Chúa lần thứ ba. Lu-ca 22:61 viết ĐCJC quay lại nhìn P.
BH: Trước khi được hồi phục chúng ta cần nhớ lại lỗi lầm mình đã phạm để ăn năn. Sự tha thứ khác sự hồi phục. Chúng ta có thể tha thứ cho một người phạm lỗi, phạm tội cùng mình dù người đó không hề xin lỗi. Nhưng người có lỗi không thể được hồi phục lại quan hệ, hồi phục lại tình thân, hồi phục lại chức vụ, trách nhiệm, công việc nếu không nhận lỗi xin tha thứ.
CẦN CHẤM DỨT SỰ SO SÁNH
Hầu hết mọi người khi đọc đoạn KT này chỉ nghĩ về sự phục hồi cho Phierơ. Nhưng tôi nghĩ qua những lời đối thoại giữa ĐCJC và Phierơ, Chúa muốn các môn đồ kia hiểu rõ rằng họ cũng được tha thứ và được hồi phục chức vụ, trách nhiệm Ngài đã định cho mỗi người.
Chúng ta nhớ lời quả quyết của Phierơ và các môn đồ về tình yêu thương bền vững: dù ai thế nào, dù ai có vấp ngã, bỏ rơi Chúa thì tôi sẽ không vấp ngã, không bỏ Chúa. Chú ý không phải chỉ Phierơ nói điều này nhưng hết thảy môn đồ đều nói y như vậy! 33 Phi-e-rơ cất tiếng thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, song tôi chắc không bao giờ vấp phạm vậy. 34 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, chính đêm nay, trước khi gà gáy, ngươi sẽ chối ta ba lần. 35 Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu tôi phải chết với thầy đi nữa, tôi chẳng chối thầy đâu. Hết thảy môn đồ đều nói y như vậy. (Mathiơ 26:31-35). Có khác chăng là Phierơ bị người ta hỏi vì đứng gần tòa xử. Có thể, có thể nếu các môn đồ khác trong hoàn cảnh, trường hợp Phierơ thì họ cũng đã chối Chúa.
Hai bài học quan trọng ở đây là sự so sánh và sự cả quyết đứng vững trước thử thách, cám dỗ.
Phierơ so sánh tình yêu thương của ông đối với Chúa, so sánh sự chung thủy của ông đối với Chúa cùng các môn đồ khác: Dầu mọi người vấp phạm,
Phierơ cả quyết rằng ông sẽ không bao giờ vấp phạm: song tôi chắc không bao giờ vấp phạm. Phao-lô nhắc dạy: Vậy thì, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã. (1 Corinthians 10:12)
Những sự cám dỗ đến cho anh em, chẳng có sự nào quá sức loài người. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài chẳng hề cho anh em bị cám dỗ quá sức mình đâu; nhưng trong sự cám dỗ, Ngài cũng mở đàng cho ra khỏi, để anh em có thể chịu được (1 Cor 10:13) Dù ĐCT ban cho ĐTL để giúp chúng ta vượt qua mọi các dỗ và không để thử thách cám dỗ quá sức mình nhưng đó là lời Chúa hứa về sự ban cho thành tín để bảo vệ, gìn giữ con dân Ngài. Lời dạy này không nói về sự bảo đảm rằng mọi người trong Chúa đều sẽ xử dụng sức mạnh, nghị lực Chúa ban cho để đứng vững. Khi bàn đã dọn sẵn đồ ăn thì không có nghĩa là mọi người sẽ được no bụng. Chỉ có những người đến bàn, ngồi xuống ăn mới no được.
Chúng ta không nên so sánh mình với người khác trong đức tin, trong sự hầu việc, trong sự dâng hiến, trong sự hiểu biết KT… Cũng đừng tự hào cả quyết rằng mình sẽ luôn luôn đứng vững!
Khi Phierơ chối ĐCJC ba lần, không biết ông có nhớ lại lời Chúa dạy hay không: Bởi đó, ai xưng ta ra trước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ xưng họ trước mặt Cha ta ở trên trời; 33 còn ai chối ta trước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ chối họ trước mặt Cha ta ở trên trời. (Ma-thi-ơ 10:32-33)
Ta nói cùng các ngươi, ai sẽ xưng ta trước mặt thiên hạ, thì Con người cũng sẽ xưng họ trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời. 9 Nhưng ai chối ta trước mặt thiên hạ, thì họ sẽ bị chối trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời. (Lu-ca 12:8-9)
Chối Chúa là một tội lớn với một hậu quả đáng sợ vô cùng: Người chối Chúa trước thiên hạ sẽ bị Ngài không nhận trên thiên đàng. Chối họ trước mặt Cha có nghĩa là gì? Là không biết, là người này không thuộc về Ngài. Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta! (Matt 7:23)
Phierơ phạm một trọng tội! Người khẳng định trước Chúa lại là người phạm trọng tội chối Chúa. Quí vị ơi, xin đừng nói trước vì cuộc đời theo Chúa là một cuộc chạy đường dài chứ không phải một cuộc đua nước rút!
NGƯƠI CÓ YÊU TA CHĂNG?
Khi ĐCJC hỏi Phierơ các môn đồ khác đều có mặt và đều nghe cả.
Khi ăn rồi, Đức Chúa Jêsus phán cùng Si-môn Phi-e-rơ rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta hơn những kẻ nầy chăng? Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy chăn những chiên con ta. 16 Ngài lại phán lần thứ hai cùng người rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta chăng? Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy chăn chiên ta. 17 Ngài phán cùng người đến lần thứ ba rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta chăng? Phi-e-rơ buồn rầu vì Ngài phán cùng mình đến ba lần: Ngươi yêu ta chăng: Người bèn thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi việc; Chúa biết rằng tôi yêu Chúa! Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy chăn chiên ta. (Giăng 21:15-17)
Chú ý Chúa gọi Phierơ với tên cũ, tên ông lớn lên, tên mà hàng xóm láng giềng, tên mà mọi người trong gia đình đều biết: Si-môn, con Giô-na. Chính ĐCJC là người ban cho ông tên mới Phierơ khi Anh-rê đem ông đến với Chúa: Ngài vừa ngó thấy Si-môn, liền phán rằng: Ngươi là Si-môn, con của Giô-na; ngươi sẽ được gọi là Sê-pha (nghĩa là Phi-e-rơ) (Giăng 1:42) Tôi nghĩ Chúa muốn nhắc ông nhớ rằng chính trong sức của con người cũ, con người tự hào khi so sánh mình với người khác, trong sức của Si-môn, con Giô-na mà ông đã hứa hẹn cùng Chúa trước mọi người. Và cũng chính trong con người đó ông đã chối Chúa.
Các bản dịch VN đều dịch câu hỏi của Chúa cùng Phierơ: ngươi yêu ta hơn những kẻ nầy chăng? Câu này trong tiếng nguyên thủy chỉ là ngươi yêu ta hơn là những điều này chăng? Điều này là gì? Ba giả thuyết: 1) Yêu Ta hơn những kẻ này; 2) Yêu Ta hơn nghề đánh cá, hơn thuyền lưới để kiếm sống, hơn cuộc đời trước khi gặp Ta; 3) Yêu Ta hơn những người này yêu Ta.
Câu trả lời là ngươi yêu ta hơn những kẻ này yêu ta chăng? ĐCJC nhắc lại cho Phierơ về tội lỗi ông đã phạm chính vì sự so sánh với anh em trong Chúa. Chú ý câu trả lời của Phierơ: Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa. Ông không còn nói Chúa biết tôi yêu Chúa hơn mọi người! Ông chỉ biết rằng ông yêu Chúa nhưng nhiều bao nhiêu, thủy chung bao nhiêu, bền vững bao nhiêu, sâu đậm bao nhiêu ông cũng chưa dám khẳng định. Đến giờ Simôn mới trả lời đúng.
Chúa hồi phục Phierơ khi giao phó cho ông chức vụ chăn bầy: chăn bầy chiên Chúa giao phó. Chúa gọi người đánh cá để chăn chiên! Dưới mắt con người thật là một điều nghịch lý. Điều này để không ai có thể khoe mình vì do tài năng, kiến thức, kinh nghiệm của tôi mà công việc Chúa có kết quả. Để cho thấy rằng kết quả là bởi Chúa, từ Chúa.
Là người đánh cá Phierơ biết gì về chăn chiên? Ông có thể có những lý do để tránh trách nhiệm này:
Chúa biết con đã chối Ngài, con yếu đuối, không đủ nghị lực khi gặp thử thách, cám dỗ, xin chọn người khác
Chúa biết con tội nặng. Làm sao con xứng đáng mà chăn bầy chiên Chúa giao phó. Khi nhìn con làm sao họ có thể nghe vì biết rằng con đã chối Ngài
Con làm nghề đánh cá, con hoàn toàn không biết gì về việc chăn chiên cả. Khi Chúa gọi Ngài bảo con sẽ nên tay đánh lưới người (truyền giảng) sao giờ Chúa lại bảo con chăn bầy chiên (chăm sóc)?
Nhưng Phierơ im lặng, lắng nghe lời Chúa. Ba lần Chúa hỏi, ba lần ông đều không so sánh, chỉ trả lời Chúa biết con yêu Ngài. Công việc Chúa giao phó không phải rõ ràng ngay lập tức. Chúng ta thường muốn được giải thích tận tường, biết rõ ràng mọi điều kiên trước khi nhận việc, nhưng công việc Chúa thường không như vậy. Khi vâng phục, Chúa sẽ chỉ dạy. Vâng phục trước, khả năng sẽ đến sau.
Cơ hội mới là cơ hội được Chúa tha thứ, được hồi phục. Cơ hội mới với Phierơ là cơ hội để ông xác nhận lại niềm tin của chính ông (không phải so sánh với ai cả) vào Chúa. Cơ hội mới cũng đòi hỏi đức tin để nhận trách nhiệm phục vụ dù chưa biết rõ sẽ ra sao. Cơ hội mới cũng là cơ hội để đặt tay mình trong tay Chúa và xin Ngài dẫn dắt trong mỗi bước đường phục vụ.
Tình yêu thương là động cơ chính yếu thúc đẩy chúng ta vâng giữ lời Chúa, vui lòng mà phục vụ, dâng hiến. Nếu không bởi tình yêu thương thì đời sống tin kính Chúa, thì việc phục vụ, dâng hiến trở nên một gắng nặng. Chính vì nếm được sự ngọt ngào của tình yêu thương ĐCJC cho ông mà PL viết: Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết, 15 lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình. (2 Cô-rinh-tô 5:14-15). Cũng vì lý do này mà PL cầu xin Chúa cho các tín đồ HT Ê đâm rễ vững nền trong sự yêu thương của Đấng Christ và hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó là thể nào, 19 và được biết sự yêu thương của Đấng Christ, là sự trổi hơn mọi sự thông biết (Ê-phê-sô 3:18-19)
Nhạc sĩ Trần Thượng Trí đã dùng câu hỏi của ĐCJC cùng P. Si-môn P. ngươi có yêu Ta chăng? làm cảm hứng sáng tác bài thánh ca Yêu Ta Chăng? Yêu Ta chăng, ngươi yêu Ta chăng, hỡi môn đồ của Ta. Vâng con yêu Cha, con yêu Chúa thiết tha. Dù đường đi bao chông gai thì lòng con vẫn không phai. Chẳng chi dời lòng con yêu Ngài, hiến dâng cả cuộc đời con cho Ngài.
Trong bài hát, câu hỏi không còn chỉ cho P. nhưng cho các môn đồ Chúa, qv và tôi. Chúng ta cần nhớ rằng ông đã viết những lời này sau khi đã bước đi thủy chung với Chúa trong những chặng đường gian khổ trong đời. Còn chúng ta chỉ có thể bày tỏ lòng ước nguyện, mong mỏi sẽ chung thủy với Chúa cho đến cuối cùng.
