Người Được Ở Đất Chúa – Ma-thi-ơ 5:5
Người Việt ta thường nói “Đất lành chim đậu”. Câu nói này không chỉ có nghĩa là ở đâu đất tốt, hiền hòa thì ở đó có chim chóc đến ở. Nhưng còn hàm ý rằng ở đâu có đất lành, đất tốt, có cơ hội thuận lợi thì ở đó sẽ có người muốn đến sinh sống, làm ăn, lập nghiệp. Câu nói này cũng có một ý khác quan trọng. Đó là thường thì mọi người đi tìm đất để dung thân chứ đất không tìm người. Đây là điều mà tôi tin rằng tất cả quý vị đều đồng ý với tôi.
Mới hôm qua, trong tờ báo Wall Street Journal có một bài báo dài tựa là “A Losing Ticket in the American Lottery”, tạm dịch “Vé không trúng trong cuộc sổ số của Hoa Kỳ”. Dù tựa bài về cuộc sổ số nhưng đâu không phải là cuộc sổ số về tiền trúng nhưng là một cuộc sổ số mà người trúng sẽ được nhận thẻ xanh (green card) để định cư tại Hoa Kỳ. Hằng năm Bộ Ngoại Giao HK cho bắt thăm để trong vòng 15 triệu người nộp đơn thì 50,000 người được nhận định cư tại HK. Tháng 5 vừa qua, BNG gởi thư cho 22,000 người từ nhiều quốc gia khác nhau trên toàn thế giới báo tin cho họ được nhận định cư. Nhưng rất tiết đâu là một lỗi lầm của máy vi tính theo lời của BNG.
Bài báo viết về cảm tưởng của một số người tưởng mình sẽ được định cư tại xứ này, nay ngỡ ngàng về tin buồn này. Trong số đó có một sinh viên 31 tuổi vừa mới tốt nghiệp tiến sĩ về hóa học tại trường đại học Michigan tên Dieudonné Kuate, gốc người Cameroon, một xứ tại Phi Châu. Hai năm trước đây anh được học bổng và mơ sau khi hoàn tất chương trình tiến sĩ sẽ ở lại đây rồi dần sẽ bảo lãnh mẹ và anh chị em sang. Anh lớn lên trong gia đình 8 anh chị em, sống trong một làng nhỏ nghèo khổ lắm. Cha mẹ anh không biết đọc hay viết. Anh là người đầu tiên và duy nhất trong gia đình hoàn tất đại học được bằng tiến sĩ. Anh nói, “Giấc mơ của tôi là được trở nên một chuyên gia nghiên cứu giỏi nhất trong ngành. Và nơi duy nhất tôi có thể đạt được mơ ước này là Hoa Kỳ”. Sáu năm qua mỗi năm anh đều nộp đơn, sáu năm bị từ chối. Mãi đến tháng qua. Sau khi nhận được thư vào đầu tháng năm vừa qua, anh nói, “Không có từ nào trong Anh ngữ diễn tả hết sự vui mừng của tôi khi biết cuối cùng tôi đã được chọn để được đến sống nơi đất này” Chỉ trong vòng vài ngày sau khi nghe tin, gia đình anh bán hết đất ở xứ Camaroon, được khoảng 4,000 để anh Kuate trả phí tổn về giấy tờ, khám sức khỏe và có thể sống trong lúc đầu khi mới đến đất này. Nhưng đến ngày 13 tháng 5, chỉ 2 tuần sau đó, giấc mơ tan thành mây khói.
Một người khác thuộc xứ Nigeria là nhà nghiên cứu sinh vật học cũng trong tình cảnh của anh Kuate đã nói, “Tôi không biết cái chết cảm thấy thế nào, nhưng sự từ chối này cay đắng hơn cái chết” (I don’t know how death feels, but I feel this is more bitter than death).
Một trường hợp khác của một nữ sinh viên 27 tuổi Anna Demidchik, người Nga. “She says that after hearing she had won the lottery, she called her parents in Novosibirsk, Russia. They put their apartment up for sale so that she could take out her one-quarter share of the money—worth about $20,000—and show U.S. authorities that she would have cash to support herself in the U.S. On May 13, her brother told her to check the Internet because the results had been invalidated… She said at that moment she was in the middle of final exams so "I couldn't let myself go. But once the finals were over I spent the whole day crying."
Mọi người đều muốn tìm đất tốt, đất lành, đất dễ sinh sống để ở. Để tìm đất tốt, đất lành, đất có tương lai cho gia đình, cho con cháu trong tương lai mà hằng triệu người bỏ xứ ra đi để định cư tại đất mới. Có ai liều mình bỏ tất cả để đến sống ở xứ Lybia hay xứ Iran? [Theo Cao Ủy Tị Nạn LHQ… Mong ước một quê hương tốt hơn – 09/01/2011] .
Nhưng không phải đất nào cũng nhận tất cả mọi người, mà chỉ nhận những ai có đủ điều kiện. Biết bao nhiêu người đã và đang trả một giá hết sức đắt để được sống nơi đất mới. Bên trong tượng Nữ Thần Tự Do tại Ellis Island, New York có một bản đồng khắc một bài thơ của Emma Lazarus. Đoạn cuối của bài thơ có những lời tạm dịch sau đây, “Hãy đem đến ta những kẻ mỏi mệt, những người nghèo khó, đám đông muốn được thở tự do, những kẻ không giá trị thải bỏ từ bờ xa. Hãy đem đến ta những người đó, kẻ không nhà, người chịu ba đào sóng gió. Ta giơ cao ngọn đèn sáng cạnh cánh cửa vàng.” Đất này mời gọi những người như vậy. Và có lẽ vì sự rộng lượng đó mà ĐCT ban phước cho đất và người sinh sống trên đất. Tuy nhiên không phải lúc nào đất này cũng có điều kiện dễ dàng như vậy. Có biết bao nhiêu người đã và đang trả một giá hết sức đắt để có điều kiện mà tìm được đất sống.
VÙNG ĐẤT ĐẦU TIÊN
Chúa tạo vùng đất địa đàng và ban cho người
Sách STK ghi lại sự sáng tạo trời đất và loài người của ĐCT. Ngày thứ ba (không hẳng là 24 tiếng đồng hồ!) Chúa khiến cho đất phải sanh cây cỏ; cỏ kết hột giống, cây trái kết quả, tùy theo loại mà có hột giống trong mình trên đất (STK 1:11). Mãi đến ngày thứ sáu ĐCT mới tạo nên loài người theo như hình Ngài từ bụi đất, Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh (STK 2:7). Rồi sau đó, KT viết, Đoạn, Giê-hô-va Đức Chúa Trời lập một cảnh vườn tại Ê-đen, ở về hướng Đông, và đặt người mà Ngài vừa dựng nên ở đó. Giê-hô-va Đức Chúa Trời khiến đất mọc lên các thứ cây đẹp mắt, và trái thì ăn ngon; giữa vườn lại có cây sự sống cùng cây biết điều thiện và điều ác (STK 2:8-9).
Chúa ban đất cho người không chỉ để sống mà còn để dạy
Như vậy dù ĐCT lập đất trước nhưng khi có con người Chúa lại lập ra vườn Ê-đen, nơi có các thứ cây đẹp (mỹ thuật) và có trái ăn ngon (nhu cầu). Và ở đó cũng có cây sự sống biết giữa thiện và ác (lương tâm, đạo đức). Và trách nhiệm chính của A-đam là Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn (2:15), tức việc làm và trách nhiệm. Như vậy vùng đất đầu tiên ĐCT sáng tạo cho loài người không chỉ có trái ăn ngon cho no bụng, thỏa mãn thể xác nhưng còn có những mục đích khác cho con người: dạy con người biết về sự sáng tạo kỳ diệu, đẹp đẽ lạ thường của ĐCT, dạy con người biết quản lý, làm việc, có trách nhiệm với đất, dạy con người biết dùng đất, dùng sản vật của đất cho sự thiện thay vì sự ác. ĐCT cũng dùng sản phẩm của đất để thử thách loài người, xem có vâng phục Ngài hay không. Loài người rồi phạm tội cùng Chúa khi ăn trái cấm.
ĐỊA ĐÀNG TRỞ NÊN ĐẤT CHÔNG GAI
Sau khi phạm tội cùng ĐCT, A-đam và E-va bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng Ê-đen, nơi họ không cần phải làm việc khó nhọc mới có ăn. Chúa phán với A-đam: Vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn; Đất sẽ sanh chông gai và cây tật lê (thorns and thistles), và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng; ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi (STK 3:17-19). Thay vì sống trong vùng đất đầy các thứ cây đẹp mắt, với trái ngon ĐCT ban cho, loài người sau khi phạm tội phải sống nơi đất chông gai, cằn cổi. Phải làm lụng hết sức khó nhọc đất mới sinh ra cây trái, lúa thóc.
Đầu tiên đất cho loài người là vùng đất ĐCT ban cho không điều kiện nhưng sau khi phạm tội, mỗi vùng đất đều có điều kiện. Ngay cả vùng đất hứa mà ĐCT dành cho dân sự Ngài. Chúa hứa với Mô-se về một vùng đất “đượm sữa và mật”, nơi đất đai màu mở, trù phú. Vùng đất đầu tiên tại vườn Ê-đen là đất ĐCT tạo dựng cho loài người không điều kiện. Nhưng đất hứa cho dân sự Y-sơ-ra-ên là đất có điều kiện. Dân sự phải chiến đấu khó khăn mới có được.
Trước đó là đất được ban cho nên không có gì có thể khoe khoang, tự phụ. Nay phải tranh đấu, làm lụng vất vả mới được đất, được trái nên đất là niềm hảnh diện của con người. Chính vì vậy mà ĐCT phải nhắc dân sự rằng khi đã hưởng được sự thịnh vượng, thành công thì chớ quên Đấng đã đem họ đến đất đó: Lại e sau khi đã ăn no nê, cất nhà tốt đặng ở, thấy bò chiên của mình thêm nhiều lên, bạc, vàng, và mọi tài sản mình dư dật rồi, thì bấy giờ lòng ngươi tự cao, quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, là Đấng đã đem ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, tức khỏi nhà nô lệ chăng (PTLLK 8:12-14).
NGƯỜI NHU MÌ HƯỞNG ĐẤT
Khi KT TU nói về một trời mới, đất mới, KT có 2 ý chính. Ý thứ nhất là đất cũ xưa của thế gian này dưới ánh mặt trời nhưng được cai trị bởi chính ĐCJC. Dưới sự cai trị của Chúa trên đất 1000 năm (KH 20:4) đất cũ xưa đầy gai góc, đầy nước mắt của thế gian này sẽ được đổi mới. Ý thứ hai là thiên đàng, vùng đất trên trời mà Chúa hứa cho những người tin và được cứu. Dù có khác nhau nhưng cả hai vùng đất này đều có một điều giống nhau: ĐCJC là Đấng sẽ cai trị đất. Và dưới sự cai trị của Ngài dân cư cũng sẽ phải thay đổi đúng theo điều kiện công dân của đất.
[Ví dụ về tiêu chuẩn để được làm công dân HK hay một quốc gia nào khác.] Nếu đất nước của loài người đòi hỏi tiêu chuẩn, điều kiện thì tại sao chúng ta lại ngạc nhiên khi nghe rằng đất của ĐCT cũng có điều kiện?
Trong BGTN ĐCJC đầu tiên nói về người sẽ được hưởng nước trời. Sau đó Chúa dạy về tiêu chuẩn của những người sẽ hưởng đất của Ngài. Đó là những người nhu mì. Thế nào là nhu mì (meek)?
Nhu mì khác với nhu nhược
Người miền Nam có câu ca dao:
Đèn Sài Gòn ngọn xanh, ngọn đỏ,
Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ, ngọn lu,
Anh về anh học chữ nhu
Chín trăng em đợi, mười thu em chờ.
Ý câu ca dao nói lên tâm tình của người con gái thấy người mình thương tánh tình còn nóng nảy, bộp chộp, hồ đồ, dễ làm hư việc nên khuyên về học lấy chữ nhu. Và chữ nầy không phải chỉ học một ngày, một giờ mà được nhưng có thể phải mất đến cả chín trăng, mười thu.
Theo tự điển của Viện Ngôn Ngữ học thì nhu mì được định nghĩa là Hiền lành, dịu dàng, mềm mỏng trong quan hệ đối xử với mọi người. Nhưng nhu nhược là Mềm yếu, không dám có phản ứng cần thiết với bất cứ ai; “sấm sét thật nhiều mà chẳng có mưa” (Tường Lưu). Người tin Chúa nhu mì chứ không nhu nhược, mềm mỏng chứ không mền yếu, dịu dàng chứ không hèn nhát.
Theo học giả Aristotle, người Hy Lạp thì các tính hạnh con người cần trao dồi, thay đổi là những điều chúng ta phải quân bình giữa hai cực đoan. Can đảm là tính hạnh giữa hèn nhát, và ngu dại không biết sợ. Kỷ luật là biết tự kềm chế giữa đời sống hoàn toàn buôn thả và đời sống quá khắc khe, không còn thú vị. Cũng vậy nhu mì là tính hạnh giữa nhu nhược, không biết giận và lúc nào cũng giận dỗi (không cần la hét nhưng hay giận dỗi trong lòng). Aritotle định nghĩa người nhu mì là người “biết giận đúng lúc với đúng người và trong đúng thời điểm với đúng kỳ hạn.” (who is angry on the right occasion and with the right people and at the right moment and for the right length of time).
Lời ĐCJC trong BGTN về phước cho người nhu mì trích từ TT 37. Tác giả TT dạy Hăy tin cậy Đức Giê-hô-va, và làm điều lành; hăy khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va; Hăy phó thác đường lối mình cho Đức Giê-hô-va, Và nhờ cậy nơi Ngài; Hăy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va, và chờ đợi Ngài. Người thực hiện những điều đó, người hiền từ hay nhu mì, sẽ được nhận đất làm cơ nghiệp.
Nhu mì đi liền với tin cậy, làm điều đúng; vui thỏa nơi Chúa; phó thác mình cho Chúa, nhờ cậy Ngài. Khi hữu sự trước hết hãy đến với Chúa, yên tỉnh và chờ đợi Ngài.
Nhu mì đi liền với khiêm nhường, mềm mại như ĐCJC là Đấng nhu mì. “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng” (Mathiơ 11:28-30). Là trái Thánh Linh thứ 8 gọi là mềm mại. Lão Tử nói nhu nhi bất nhược, cường nhi bất cương (mềm mà không yếu đuối, mạnh mà không cứng nhắc). Một câu đố vui: cái gì chặt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy? Câu trả lời là Nước.
Không nhút nhát, yếu đuối, nhún nhường cách giả dối. Phao-lô nhắc Ti-mô-thê, Đức Chúa Trời chẳng ban cho chúng ta tâm thần nhút nhát, bèn là tâm thần mạnh mẽ, có tình yêu thương và giè giữ". (II Ti-mô-thê 1:7). ĐCJC đã dùng roi đuổi những buôn bán trong đền thờ ĐCT.
Không ngại nói sự thật, dù có lúc mất lòng. ĐCJC gọi những người Pha-ra-si là kẻ giả hình (Ma-thi-ơ 23). Đức Chúa Trời đă xét chúng tôi là xứng đáng giao cho việc giảng Tin Lành, nên chúng tôi cứ nói, không phải để đẹp lòng loài người, nhưng để đẹp lòng Đức Chúa Trời" (I Tê-sa-lô-ni-ca 2:4).
Trong tất cả các nhân vật KT ngoài ĐCJC, người nhu mì hơn hết là Mô-se. Vả, Môi-se là người rất khiêm hạ (nhu mì) hơn mọi người trên thế gian. Những lời được viết ra khi Mô-se bị chính chị mình là Miriam và anh là Aaron ganh tị nói hành vì không thích người vợ có màu da khác với họ. Không những chỉ nói hành, nhưng họ còn vặn hỏi sự hầu việc Chúa của Mô-se, Hai người nói rằng: Đức Giê-hô-va chỉ dùng một mình Môi-se mà thôi sao? Ngài há không dùng chúng ta mà phán nữa sao?(DSK 12:2). Rồi Chúa phán cùng cả ba sau khi nghe những lời vặn hỏi này đến lều hội mà gặp Ngài. Tại đó Chúa quở trách Miriam và Arôn, và khiến cho Miriam bị phung cùi. Thay vì Mô-se để mặc cho họ học bài học nhớ đời, thì ông cầu xin Chúa tha thứ và chửa lành cho bà. Đây cũng là Mô-se, người đứng trước vua Ai-cập để đòi cho dân sự được tự do. Người lãnh đạo dân sự ra khỏi xứ nô lệ để vào đất hứa.
