Người Anh Cả Thật
Trong nhiều tuần qua chúng ta đã tìm hiểu ý nghĩa của 3 câu chuyện ngụ ngôn ĐCJC kể trong Lu-ca 15, đặc biệt vào ngụ ngôn hai con trai. Cả 3 ngụ ngôn đều có 3 điểm tương đồng như sau:
Cả 3 ngụ ngôn đều có cùng một chủ đề là về sự lạc mất nhưng cuối cùng đều tìm được. Con chiên lạc mất, đồng tiền lạc mất và 2 người con lạc mất. Vâng ngụ ngôn thứ 3 mà chúng ta thường nghe gọi là ngụ ngôn về người con trai hoang đàng thật sự là câu chuyện về 2 người con lạc mất.
Chúng ta nhớ lại lý do gì ĐCJC kể 3 ngụ ngôn này và đối tượng là ai? Lý do là vì những người Pha-ri-si & thông giáo xầm xì khi thấy những người thu thuế và có tội đến gần Chúa và thậm chí ăn uống với Ngài. Đối tượng là 2 nhóm người: 1) những người thu thuế và có tội. Đứa con hoang đàng tượng trưng cho những người này; 2) những người Pha-ri-si và thông giáo. Người anh cả, con trưởng tượng trưng cho họ. Tất cả đều lạc mất và cần được cứu, cần được trở về nhà cha.
Có khác chăng là sự lạc mất của đứa em, con thứ rất rõ ràng vì tội của anh rất rõ và lộ liễu. Mọi người đều có thể nhìn thấy và nhận biết: đòi cha chia gia tà khi cha vẫn còn sống, lấy gia tài rồi bỏ nhà ra đi tiêu xài trác tán hết cả tài của. Đến khi anh quá đói mới hối hận, ăn năn, quyết định trở về nhà.
Người anh cả, con trưởng là một người con gương mẫu, ở nhà với cha, chịu khó, chịu khổ làm việc ngoài đồng, vâng lời cha trong mọi việc và không hề tiêu xài, trác tán như đứa em mình. Vậy đó mà trong câu chuyện ĐCJC kể người cuối cùng lạc mất chính là người anh cả, con trưởng đạo đức này. Tất cả người nghe đều kinh ngạc. Còn những người Pha-ri-si và thông giáo thì tức giận vì hiểu rõ ĐCJC ví họ với người anh cả lạc mất trong chuyện.
Cả 3 đều nói lên sự chủ động và kiên trì của người đi tìm hay hồi phục điều đã lạc mất. Người chăn chiên đi tìm con chiên lạc rồi cỏng trên vai đem về. Người đàn bà thắp đèn, quét nhà cho đến khi tìm được. Người cha chạy vội ra đón đứa con hoang đàng khi còn đàng xa (trước khi con vào làng) và như chúng ta sẽ tìm hiểu sáng nay khi người con trưởng/anh cả từ chối vào nhà thì một lần nữa cha lại từ trong nhà bước ra để khuyên van con mình đoàn tụ với em. Điều này dạy chúng ta tình yêu thương và sự tha thứ thật sự đòi hỏi sự chủ động: chủ động bày tỏ tình yêu thương qua lời nói, hành động; chủ động tìm người làm lỗi cùng mình hay mình phạm lỗi cùng họ để tha thứ và xin tha thứ.
Cả 3 ngụ ngôn đều có tiệc vui mừng với nhiều người đến dự. Ngoại trừ một người: anh cả.
Vả, con trai cả đương ở ngoài đồng. Khi trở về gần đến nhà, nghe tiếng đàn ca nhảy múa, 26 bèn gọi một đầy tớ mà hỏi cớ gì. 27 Đầy tớ thưa rằng: Em cậu bây giờ trở về, nên cha cậu đã làm thịt bò con mập, vì thấy em về được mạnh khoẻ.
Năm 1979 một số người HK bị chính quyền cực đoan tại Iran bắt làm tù binh trong gần 2 năm dài. Một phụ nữ HK (Penelope Laingen) làm một cái nơ màu vàng gắn lên cây trước nhà như dấu hiệu chờ đến khi chồng bà được thả ra. Dân chúng HK cảm động vì hình ảnh này. Nên đã dùng làm biểu tượng khi các tù binh được thả ra trước ngày tân tổng thống Reagan tuyên thệ nhậm chức tại thành phố Washington DC. Rất nhiều cây và cột trong phố đều được gắn những chiếc nơ màu vàng trong ngày lễ nhậm chức để nói lên niềm vui của toàn dân tộc chào đón những người con của đất nước trở về sau 2 năm dài bị giam. Tôi nghĩ cửa thiên đàng cũng đầy những chiếc nơ màu vàng là biểu tượng của sự vui mừng lớn hân hoan chào đón những người con lạc lối trở về nhà cha.
Chuyện kể anh từ ngoài đồng về nhà. Gần đến nhà anh nghe tiếng đàn ca nhảy múa. Hai từ khác nhau: symphonia và choros. Không chỉ có ban nhạc nhưng còn có những người nhảy múa theo tiếng đàn hát. Ai là những người nhảy múa? Hàng xóm, láng giềng cũng như ĐCJC kể trong 2 ngụ ngôn trước: Khi đã kiếm được, thì vui mừng vác nó lên vai; 6 đoạn, về đến nhà, kêu bạn hữu và kẻ lân cận, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được con chiên bị mất. (Lu-ca 15:5-6); Khi tìm được rồi, gọi bầu bạn và người lân cận mình, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được đồng bạc bị mất. (c9).
Không chỉ có buổi tiệc mừng dưới đất khi chiên lạc tìm được, đồng tiền mất tìm được mà trên thiên đàng cũng có tiệc mừng của thiên sứ. Ta nói cùng các ngươi, trên trời cũng như vậy, sẽ vui mừng cho một kẻ có tội ăn năn hơn là chín mươi chín kẻ công bình không cần phải ăn năn...Ta nói cùng các ngươi, trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng như vậy, sẽ mừng rỡ cho một kẻ có tội ăn năn. (c7, 10)
Có tôn giáo, triết lý nào trân trọng và hân hoan vì sự cứu rỗi của một, một linh hồn của người có tội như lời KT dạy? Câu 7 & 10 cũng hàm 2 ý quan trọng sau đây: 1) Cả người có tội cùng người nghĩ mình công bình đều cần phải ăn năn; 2) Thường thì người có tội ăn năn, nhưng người nghĩ mình công bình cũng nghĩ rằng họ không cần phải ăn năn.
Điều này giải thích ngụ ngôn thứ 3 về hai người con trai hoàn toàn im lặng về sự ăn năn của người anh cả, người con trai trưởng. Đây là người ở nhà, không hề đòi cha chia gia tài, làm lụng ngoài đồng, không hề tiêu xài phung phí, sống sa đọa, trụy lạc, tội lỗi như người em. Đây là những người Pha-ri-si & thông giáo, những người sống đạo đức, vâng giữ luật pháp. Vì nghĩ rằng tôi là người công bình nên tôi không cần ăn năn.
Câu hỏi là công bình theo tiêu chuẩn nào, của ai? Tôi không rành về hột soàn, kim cương nhưng một điều tôi biết chắc rằng không phải hột kim cương trong nhẫn cưới đều giống nhau, đều bằng giá với nhau. Ngay cả một viên kim cương bằng số lượng, như dù cả hai viên đều là 1 carat thì cũng có viên sáng hơn, trong hơn viên khác nên đắt giá hơn nhiều.
Vậy sao có thể nghĩ rằng mọi công bình đều cùng một trọng lượng, kích thước, giá trị, đều có cùng một độ sáng, độ trong như nhau? Để loài người có thể vào nước Trời thì tiêu chuẩn công bình phải là tiêu chuẩn do ĐCT đặt ra, chứ không phải do một mục sư hay hội thánh hay từ một thánh nhân nào cả. Và theo tiêu chuẩn của ĐCT thì mọi công chính con người đều như tấm giẻ dơ trước Chúa: Tất cả chúng con đều trở nên như vật ô uế, mọi việc công chính của chúng con như miếng giẻ bẩn thỉu (Ê-sai 64:6)
Qv nhớ câu chuyện ĐCJC kể về người thu thuế và người Pha-ri-si đến đền thờ cầu nguyện: Ngài lại phán thí dụ nầy về kẻ cậy mình là người công bình và khinh dể kẻ khác: 10 Có hai người lên đền thờ cầu nguyện: một người Pha-ri-si và một người thâu thuế. 11 Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện thầm như vầy: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế nầy. 12 Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi. 13 Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! 14 Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên. (Lu-ca 18:9-14)
Chính vì so sánh với những người thu thuế và phạm tội nên những người Pha-ri-si & thông giáo trở nên tự hào về đạo đức mình và khinh dễ người. Đây cũng chính là nan đề, nguy hiểm của những người Pha-ri-si, như người anh cả hay những người có đời sống đạo đức: thay vì so sánh với tiêu chuẩn của ĐCT để nhận biết mình cũng là người có tội, cần ăn năn, xin được tha thứ, thì lại so sánh với người để tự hào về sự công chính của mình.
Con cả liền nổi giận, không muốn vào nhà. Vậy cha nó ra khuyên nó vào. 29 Nhưng nó thưa cha rằng: Nầy, tôi giúp việc cha đã bấy nhiêu năm, chưa từng trái phép, mà cha chẳng hề cho tôi một con dê con đặng ăn chơi với bạn hữu tôi. 30 Nhưng nay con của cha kia, là đứa đã ăn hết gia tài cha với phường điếm đĩ rồi trở về, thì cha vì nó làm thịt bò con mập! (Lu-ca 15:28-30)
Một học giả bình luận về câu trả lời của người con trưởng cùng cha như sau: Người con cay đắng này xa nhà khi anh ở ngoài đồng hơn là đứa em hoang đàng đang ở trong chuồn heo nơi phương xa. Anh giữ lời cha như điều miễn cưởng phải làm; làm việc cho cha là nô lệ. Anh thà ăn uống, tiệc tùng với bạn mình còn hơn với gia đình. Anh không hề có lòng yêu thương cha mình huống chi em mình. Anh không gọi em là em tôi nhưng gọi là đứa con này của cha.
Khi nghe người tớ nói cha làm bửa tiệc lớn với đàn ca nhảy múa, với con bò mập béo vì em trở về bình an, thì người anh cả rất tức giận và cay đắng từ chối vào dự tiệc. Tại sao anh giận? Vì anh so sánh chính mình với đứa em hoang đàng. Nó làm gì để cha phải làm tiệc lớn như vầy?
Người anh cả tự hào vì đạo đức, vì sự công chính của mình như lời anh nói cùng cha: Nầy, tôi giúp việc cha đã bấy nhiêu năm, chưa từng trái phép. Anh không nghĩ mình có gì sai quấy với cha, huống chi phạm tội như em. Anh lên án, buộc tội em mình: nay con của cha kia, là đứa đã ăn hết gia tài cha với phường điếm đĩ rồi trở về.
Dưới mắt người con trưởng, kẻ có tội là đứa em hoang đàng, lấy gia tài của cha, bỏ nhà ra đi, tiêu xài phung phí, trác tán, rồi khi đói khổ mới trở về xin tha thứ. Còn ông thì một mực đạo đức, chịu khó, chịu khổ làm lụng ngoài đồng cả ngày, không tiêu xài hoang phí, vâng lời cha. Vậy đó mà cha lại đãi tiệc lớn cho thằng em trai tội lỗi khi nó trở về sau khi hoan phí cả tài sản với phường điếm đĩ.
Cái đứa con ngỗ nghịch, bất hiếu lấy tiền bỏ nhà ra đi tiêu xài, trách táng với điếm đĩ rồi khi hết tiền lại chường mặt dày về nhà xin cha bỏ qua, tha thứ! Bộ ổng không biết nói lợi dụng ổng hay sao? Bao nhiêu ý nghĩ, lý lẽ càng làm cho anh càng nghĩ càng tức giận, càng buồn tủi, càng cay đắng.
Không có gì khó hiểu về sự cay đắng, tức giận này của người anh cả. Thật sự thì chính mỗi chúng ta cũng có nhiều lúc cảm giác như ông. Buồn tức, hờn giận, chua chát, cay đắng khi thấy những người có đời sống thiếu đạo đức, lừa lọc, chối bỏ Chúa mà lại như phước hạnh hơn mình: gia đình họ vui vẻ, con cái họ thành đạt, công việc họ phát triển. Tác giả TT thú nhận điều này: Còn về phần tôi, chân tôi đã gần vấp, Xuýt chút bước tôi phải trợt. 3 Vì khi tôi thấy sự hưng thạnh của kẻ ác, Thì có lòng ganh ghét kẻ kiêu ngạo. (TT 73:2-3)
Tác giả TT thú nhận tội của ông là lòng ganh ghét, nhưng mấy ai can đảm thú tội trong lòng mình. Rất dễ cho mọi người thấy tội phạm của người kẻ trộm cắp, giết người, nói dối, lừa gạt, nhưng ai có thể thấy được lòng thù hận, ganh ghét, cay đắng, thấy những mưu mô trong thâm tâm một người. Chẳng phải ĐCJC dạy các môn đồ trong bài giảng trên núi về đạo đức trong lòng cũng quan trọng chứ không chỉ bề ngoài hay sao: oán giận cũng như giết người; động lòng tham dục cũng như phạm tội tà dâm.
Lời ĐCJC kể về người con trưởng/anh cả dạy chúng ta 3 tính tình nguy hiểm mà nhiều người, cả tín đồ thường có. Thứ nhất là tấm lòng hờn giận, cay đắng, ganh ghét khi so sánh mình với đứa em hoang đàng. Nhiều người trong chúng ta cười bên ngoài nhưng hờn giận, cay đắng, thù hận bên trong. Tại sao? Vì nghĩ rằng nếu tôi sống đạo đức, lương thiện, chân thật, tôi dâng hiến, tôi hầu việc Chúa thì chắc Chúa phải tặng thưởng cho tôi. Trái lại cuộc sống tôi chỉ gặp hết khó khăn này đến mất mát nọ; con cái không thành công như người ta; gia đình không vui vẻ, hạnh phúc.
Nguy hiểm thứ hai là gánh nặng của bổn phận. Người con trưởng/anh cả xác nhận với cha rằng tôi làm nô lệ cho cha (từ giúp việc cũng là làm nô lệ). Người con hoang đàng tự ý làm nô lệ cho cha khi trở về nhưng lại được cha hồi phục quyền làm con: Tôi không đáng gọi là con; xin cha nhận tôi làm nô lệ. Người anh cả phục vụ cha nhưng cảm thấy như làm nô lệ cho cha mình. Phục vụ không phải do lòng tự nguyện, vui vẻ nhưng là một gánh nặng của người nô lệ.
Nguy hiểm thứ ba là thái độ tự hào về đạo đức của mình và khinh khi người. Con của cha là đứa đã tiêu xài hết tài sản cha với phường điếm đĩ! Khi chúng ta nhìn người quanh mình và so sánh đạo đức của mình với họ để thấy hảnh diện về mình và xem thường người thì chúng ta trở nên người Pha-ri-si. Chúng ta quên rằng mọi người đều phạm tội và được Chúa bởi ân điển. Nếu tôi có sống đạo đức hơn, đó cũng chỉ bởi ân điển, bởi sự gìn giữ của ĐTL nên không có gì phải tự phụ, kiêu ngạo về đạo đức mình.
Đây là 3 dấu hiệu nguy hiểm của người anh cả/con trưởng.
Qv suy nghĩ với tôi về lời dạy này của Phao-lô: Các hành động theo tính xác thịt thật rõ ràng, ấy là: Gian dâm, ô uế, phóng đãng, 20 thờ thần tượng, phù thủy, thù hận, tranh chấp, ganh ghét, giận dữ, tham vọng ích kỷ, chia rẽ, bè phái, 21ghen tị, say sưa, chè chén và những điều khác tương tự. Tôi xin cảnh cáo anh chị em như tôi đã từng cảnh cáo rằng: Những người làm các điều ấy sẽ không được thừa hưởng Nước Đức Chúa Trời. (Ga-la-ti 5:19-21 – BDM) Trong các tính xác thịt này, điều này thuộc về nội tâm của một người hay phát nguồn đầu tiên từ trong lòng sau đó mới thể hiện ra hành động? Ít nhất những điều sau đây: thù hận, tranh chấp, ganh ghét, giận dữ, tham vọng ích kỷ, ghen tị.
Tôi muốn giải thích rằng tội lỗi theo lời KT dạy không phải chỉ là hành động bên ngoài thấy được nhưng nguy hiểm hơn là thái độ, dự định, suy nghĩ bên trong. Đây là lý do ĐCJC ví những người Pha-ri-si và thông giáo như những nấm mồ bên ngoài sơn màu trắng rất đẹp đẻ nhưng bên trong đầy dẫy xương người chết và mọi thứ do dáy hay như chén rửa sạch bên ngoài nhưng bên trong vẫn còn nhơ bẩn.
Tội lỗi của người con hoang đàng rất rõ, dễ thấy. Khó hơn là tội của người anh cả. Anh ghen tị, giận dữ, cay đắng với em, với cha. Anh tự hào về sự vâng giữ lề lối cha mình, làm việc chăm chỉ dù lòng thù hằn, cay đắng, ghen tị.
Đây cũng chính là ý nghĩ của người Pha-ri-si và thông giáo khi nhìn bọn thu thuế và kẻ có tội. Họ khinh khi những kẻ đó, nhưng rất hãnh diện, tự phụ về đạo đức của mình. Họ không hề nghĩ rằng chính họ cũng phạm tội cùng ĐCT như những người thu thuế và có tội. Không hề nghĩ đến việc ăn năn xin Chúa tha thứ tội.
Nghe những lời cay đắng của đứa con trưởng, người cha ôn tồn, nhỏ nhẹ khuyên nhủ: Người cha nói rằng: Con ơi, con ở cùng cha luôn, hết thảy của cha là của con. 32 Nhưng thật nên dọn tiệc và vui mừng, vì em con đây đã chết mà lại sống, đã mất mà lại thấy được. Từ con trong lời của người cha là một từ bày tỏ lòng yêu thương như khi cha mẹ trìu mến gọi con mình là con ơi! Một lời nhỏ nhẹ, mềm mại, dịu dàng, thân ái, trìu mến. Cha không giận, quở trách vì có lẽ hiểu được lý do gì đứa con trưởng lại hờn giận, cay đắng. Cha biết con luôn ở cùng cha; cảm ơn con vì công sức con đã giúp cha, giúp gia đình chúng ta.
Cha như van nài cùng con: hãy vào, hãy vào dự tiệc vui vì em con tưởng đã chết nay lại sống, tưởng đã mất nay tìm lại được. Đây cũng chính là lời van nài của ĐCJC cùng những người Pha-ri-si và thông giáo: dẹp bỏ lòng tự cao, tự phụ, dẹp bỏ lòng thù ghét, khinh thường những người thu thuế, những kẻ phạm tội để vào dự buổi tiệc mừng đón tội nhân ăn năn, được cứu.
Đây cũng chính là lời kêu gọi của ĐCJC với tôi và qv và hội thánh Chúa: có lòng cảm thông, nhân từ, thương xót với anh chị em trong HT và với người chưa tin Chúa.
Qua lời nhắc nhở mềm mại, thân ái này cha cũng muốn nói với người con cả, anh trưởng: nếu thật là con của cha, là anh của đứa em hoang đàng, con phải vào nhà dự tiệc mừng em trở về. Anh không thể tiếp tục đứng bên ngoài trong bóng tối, tiếp tục buồn giận, cay đắng, ghen tị. Anh phải quyết định, phải chọn.
Nếu thương cha và còn có chút lòng với em, anh sẽ dẹp bỏ tự ái, lòng kiêu ngạo, bỏ qua cơn giận để vào nhà, để cùng chung vui trong buổi tiệc mừng. Nếu thật sự thương cha, thương em thì anh đã không hỏi đầy tớ nhưng khi nghe tiếng đàn ca hát xướng, anh đã lập tức chạy vội vào nhà tìm em mà ôm nó trong sự vui mừng. Nhưng anh còn có thể làm hơn thế nữa. Khi em bỏ nhà ra đi, anh sẽ nói với cha rằng anh sẽ đi tìm em cho cha.
Trong chiến tranh VN, máy bay giám sát của thiếu úy phi công tên Daniel Dawson bị rớt xuống trong rừng khu kiểm soát bởi quân địch. Khi nghe tin đó anh của ông Daniel là Donald lập tức mua vé máy bay đi VN để tìm em. Trong nhiều ngày tháng người anh chỉ trang bị với một vài dụng cụ binh sĩ và một số truyền đơn thông báo giải thưởng cho người giúp tin tức về đứa em lang thang nhiều vùng hẻo lánh tìm em. Đến nỗi dân VN trong các làng gọi ông là Anh của phi công (brother of the pilot). Tờ báo Life (qv có thể google số báo với hình ảnh này) viết về câu chuyện cảm động này trong số ngày 12 tháng 03, 1965.
Chúng ta thật sự chưa hiểu ý nghĩa của ngụ ngôn này nếu chúng ta quên người kể và lý do. ĐCJC chính là người anh cả thật, người con đầu của Cha. Vì Đấng làm nên thánh và kẻ được nên thánh, đều bởi một Cha mà ra. Cho nên Ngài không thẹn mà gọi những kẻ đó là anh em, 12 khi Ngài có phán: Tôi sẽ truyền danh Chúa cho anh em tôi; Và ngợi khen Chúa ở giữa hội. (Hê-bơ-rơ 2:11-12)
Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em (Rô-ma 8:29) Từ con cả trong câu KT này không có ý là con trưởng, con đầu lòng nhưng là người con ở một vị trí siêu việt, cao trọng hơn hết.
Ngài là người chăn chiên đi tìm con chiên lạc. Ngài là người đi tìm đồng tiền lạc. Và dĩ nhiên Ngài cũng là người anh cả thật sự tương phản với người anh cả từ chối thay cha đi tìm em, rồi khi em trở về lại từ chối chào đón em mình. ĐCJC đã rời bỏ nước Trời xuống thế gian để tìm những đứa em lạc lối xa nhà sống trong tội lỗi. Và khi tìm được em đang khi còn trong chuồng heo hôi thối, ôm lấy và khuyên bảo: hãy về nhà cùng cha.
Đây là người anh cả thật không chỉ ăn uống chung với những người thu thuế, kẻ có tội nhưng cũng là người chuẩn bị cho buổi tiệc vui lớn trên thiên đàng với chính thân tan vỡ và huyết đổ ra trên thập giá. Như chúng ta sẽ cùng nhau dự bánh và chén sáng nay để nhớ đến buổi tiệc mà người anh cả thật đã chuẩn bị cho chúng ta.
Đừng như người anh cả/con trưởng, trong ngụ ngôn, như những người Pha-ri-si và thông giáo vẫn còn tiếp tục buồn giận, cay đắng với em, từ chối tha thứ cho em, từ chối vào dự tiệc mừng.
Khi hiểu được phần nào tấm lòng nhân từ, tình yêu thương bao la, sự tha thứ và sự hy sinh quá lớn của người anh cả thật, của ĐCJC HT Chúa, con cái Chúa không thể thụ động. HT Chúa phải là nơi người có tội tìm đến để được nhận tình yêu thương và sự tha thứ tội. Và con cái Chúa trong HT, qv và tôi, phải chủ động đem sứ điệp Tin Lành đến những người còn đang lạc mất, còn đang nơi phương xa, đang sống trong tội lỗi. Chúng ta sẽ nói với họ như người anh cả thật sự đã nói với chúng ta: hãy trở về nhà cùng Cha.
