Ngôi Mồ Trống
Sáng nay cùng hàng triệu tín đồ trên toàn quốc gia HK và trên cả thế giới, chúng ta vô cùng hân hoan kỷ niệm Phục Sinh, ngày Chúa Giê-xu đã sống lại từ cõi chết. Đây là không chỉ là một sự kiện thay đổi lịch sử loài người trong hơn 2000 năm qua, nhưng đối với người tin Chúa, Phục Sinh đem lại một hy vọng hết sức to lớn, không gì có thể so sánh bằng. Qua sự sống lại, ĐCJC đã chiến thắng sự chết là điều tất yếu cuối cùng trong cuộc đời của mọi người không ai tránh khỏi. KT gọi sự chết là kẻ thù cuối cùng. Vì PS nên chúng ta tin chắc rằng bên sau cánh cửa của sự chết là sự sống đời đời nơi thiên đàng phước hạnh.
Cả 4 sách PA (Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng) đều ghi lại câu chuyện của những người phụ nữ đến ngôi mộ nơi ĐCJC chôn vào sáng Chúa nhật để liệm xác Ngài. Một bất ngờ và ngạc nhiên lớn khi họ đến mồ. Họ được thiên sứ loan báo một sứ điệp từ ĐCJC: “Đừng sợ, các bà tìm Đức Giê-su người Na-xa-rét đã bị đóng đinh. Ngài sống lại rồi, không còn ở đây. Hãy xem chỗ người ta đặt Ngài. 7Hãy đi nói cho các môn đệ của Ngài và cho Phê-rơ hay rằng Ngài đi trước các ông tới Ga-li-lê; tại đó các ông sẽ thấy Ngài như Ngài đã bảo các ông.” (Mác 16:6-7).
Lời của ĐCJC qua thiên sứ cho dạy chúng ta ba điều thay đổi hoàn toàn cuộc đời của những người phụ nữ này, của các môn đồ và của mọi người tin Chúa: 1) ĐCJC nói: Ta đã sống lại; 2) Ta đã tha thứ; 3) Ta sẽ sai đi.
TA ĐÃ SỐNG LẠI
Các bà tìm Đức Giê-su người Na-xa-rét đã bị đóng đinh. Ngài sống lại rồi, không còn ở đây. Hãy xem chỗ người ta đặt Ngài.
Trước hết tôi xác nhận rằng không phải ai cũng tin ĐCJC đã sống lại từ cõi chết. Có thể một số qv hiện diện đây cũng trong số người đó. Tôi xin dùng phần này của bài giảng để nêu ra vài lý do giúp những người hoài nghi, không tin về sự Chúa sống lại, về ngôi mộ trống suy nghĩ và quyết định.
Trong vài thập niên trước và sau sự chết và sống lại của ĐCJC sử gia ghi lại mười mấy người cũng tự xưng là Đấng Mê-si-a (Đấng Cứu Tinh của người DT được tiên tri trong KTCU). Đây là lời viết của sử gia Josephus về các lãnh đạo của phong trào Mê-si-a trong thời đó: Khoảng mười năm sau cái chết của John the Baptist, một nhân vật khác đã thu hút được một số đông người Sa-ma-ri, một dân tộc có liên quan chặt chẽ với người Do Thái, cả về ý thức hệ và địa lý. Người Sa-ma-ri chờ đợi một nhân vật như Môi-se (một lãnh tụ vĩ đại nhất trong KTCU đã giải cứu dân DT ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập), người sẽ khôi phục lại đền thờ cổ. Vị tiên tri Sa-ma-ri này hứa sẽ cho những người theo ông thấy những chiếc bình thánh mà Moses được cho là đã chôn trên núi Gerizim. Phi-lát (tổng trấn) và bộ binh của ông tấn công nhóm, giết chết một số người và bắt giữ những người khác. Khoảng một thập niên sau đó, một người tự nhận là tiên tri tên Theudas, người được cho là đã thực hiện phép lạ, đã dẫn đầu một nhóm người đến sông Jordan. Ông đã hứa sẽ rẽ nước sông Giô-đanh như Giô-suê (một nhân vật trong KTCU, phụ tá của Mô-se) đã làm. Trước khi nhóm đến sông, chính quyền La Mã đã tấn công họ, giết chết nhiều người và chặt đầu Theudas.
Tất cả các lãnh tụ đó đều bị giết bởi chính quyền La-mã, giết hay hành xử và phong trào của họ đề xướng đều thất bại. Dân chúng theo họ rồi cũng tan rã, ai nấy về nhà mình. Ngoại trừ ĐCJC và các môn đồ Ngài. Trong tất cả các phong trào Mê-si-a thời đó, chỉ có một vẫn còn tồn tại và hiện hữu trong 2000 năm qua. Sách CVCSĐ trong KTTU ghi lại sự bùng phát của hội thánh đầu tiên: chỉ vài tháng sau khi ĐCJC sống lại, hội thánh đầu tiên tại thành Giê-ru-sa-lem tăng từ 120 người tăng lên hơn 3000. Trong vòng 30 năm, Tin Lành được rao giảng đến tận thủ đô của đế quốc La-mã và hội thánh đã được thành lập tại đó. Ít hơn ba thế kỷ sau khi ĐCJC chịu chết và sống lại, đại đế Constantine chính thức hóa Cơ Đốc Giáo (Christianity) là tôn giáo của cả đế quốc. Đến ngày hôm nay, Cơ Đốc Giáo gồm 2.4 tỉ tín đồ, gần 1/3 toàn dân số thế giới, một niềm tin lớn nhất trên thế giới.
Tại sao có sự khác biệt này? Tại sao các phong trào Mê-si-a trước và sau Chúa lại hoàn toàn thất bại nhưng đạo Chúa lại bùng nổ và tăng trưởng mãi đến hôm nay như vậy? Hội thánh đầu tiên và ngày nay giải thích rằng lý do chính là bởi vì Giê-xu Na-xa-rét, Đấng nhận mình là Ngôi Hai ĐCT, chịu chết trên thập giá để chuộc tội cho con người, sống lại từ cõi chết và hiện ra cùng các môn đồ. Sự khác biệt chính yếu là ĐCJC đã sống lại từ cõi chết, ngôi mồ của Ngài là một ngôi mồ trống. Như lời thiên sứ cùng các phụ nữ đến mộ sáng Chúa nhật đó: Ngài sống lại rồi, không còn ở đây.
Rất nhiều người trong xã hội HK và Tây Phương ngày nay, đặc biệt tầng lớp trí thức và giới trẻ hoài nghi, không tin sự sống lại của Giê-xu. Tôi xin hỏi: họ sẽ giải thích thế nào về ngôi mồ trống? họ có giả thuyết gì, chứng minh gì để bác bỏ ngôi mồ trống? giải thích thế nào về sự bùng nổ của niềm tin Cơ Đốc sau ngôi mồ trống?
Một số sẽ trả lời: tôi không biết chính xác điều gì đã xảy ra. Nhưng có thể câu chuyện ghi lại trong Mác hay trong các sách PA khác, Ma-thi-ơ, Lu-ca, Giăng về sự Chúa sống lại, về ngôi mộ trống chỉ là truyền (huyền) thuyết. Bởi vì các sách này được viết rất nhiều năm sau khi Giê-xu chết. Các sách này chỉ là huyền thoại, không dựa vào lịch sử. Chúng ta không biết thật hư thế nào. Không ai biết chắc cả!
4 sách PA không phải là huyền thoại, nhưng ghi lại những sự kiện đã xảy ra trong lịch sử theo lời nhân chứng. Tôi xin nêu ra một chi tiết trong sách Mác để giải thích. Chúng ta chú ý chỉ trong 8 câu từ Mác 15:40 cho đến Mác 16:1, Mác ghi lại 3 lần tên của 3 người phụ nữ đến mồ sáng Chúa nhật. Bức màn trong đền thờ bị xé làm đôi từ trên xuống dưới. 39Viên đội trưởng đứng đối diện với Ngài, thấy Ngài tắt thở như thế thì nói: “Người nầy thật là Con Đức Chúa Trời!” 40Cũng có những phụ nữ từ đàng xa nhìn xem, trong số ấy có Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ của Gia-cơ nhỏ và của Giô-sê, và Sa-lô-mê, 41là những người đã theo và phục vụ Ngài khi còn ở Ga-li-lê, và nhiều phụ nữ khác là những người cùng lên Giê-ru-sa-lem với Ngài. (Mác 15:38-41)
Sau khi Giô-sép A-ri-ma-thê, thành viên tòa thẩm phán tối cao DT bấy giờ đến gặp Phi-lát để xin xác Chúa và chôn Ngài vào một ngôi mộ đục trong đá: Sau khi mua một tấm vải gai, ông (Giô-sép A-ri-ma-thê) đem Ngài xuống, quấn vải quanh thi hài, và đặt Ngài trong mộ đã được đục trong đá; rồi ông lăn một tảng đá chận cửa mộ. 47Ma-ri Ma-đơ-len và Ma-ri mẹ Giô-sép đều thấy nơi mai táng Ngài. (mộ nơi xác Chúa đặt). (Mác 15:47) Lần thứ ba: Ngày sa-bát qua rồi, Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ Gia-cơ, và Sa-lô-mê mua hương liệu để đi xức xác Đức Chúa Jêsus. (16:1)
Chúng ta hỏi Mác có dụng ý gì? Tại sao chỉ trong 8 câu, Mác lại lập đi lập lại 3 lần tên của 3 phụ nữ này: Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ của Gia-cơ và Giô-sê và Sa-lô-mê? Học giả người Anh tên Richard Bauckham viết một quyển sách có tựa là Jesus and the Eyewitnesses – The Gospels As Eyewitness Testimony (Giê-xu và Các Nhân Chứng – Các sách PA như lời làm chứng). Ông giải thích câu chuyện về các phụ nữ đến ngôi mộ nơi đặt xác Chúa và kinh nghiệm về ngôi mộ trống không phải là huyền thuyết nhưng là lời làm chứng của người đã chính mắt thấy, tai nghe kể lại.
Học giả Bauckham giải thích lý do Mác lập lại 3 lần tên của 3 phụ nữ bởi vì họ là những nhân chứng vẫn còn đang sống chứng kiến sự chết và sống lại của ĐCJC. Sử gia ngày xưa đặt trọng lời làm chứng của những người đã chứng kiến sự kiện xảy ra và vẫn còn sống hơn các văn liệu viết. Vì mọi người đều có thể kiểm chứng lại sự trung thực với các nhân chứng vẫn còn sống.
Khi Mác viết lại câu chuyện về sự chết và sống lại của ĐCJC, 3 phụ nữ này vẫn còn sống. Mọi người đều có thể đến gặp họ để hỏi rõ về những gì họ đã thấy, nghe và kinh nghiệm. Đây cũng chính là lý do Giăng ghi lại tên của người đầy tớ bị Phi-e-rơ chém đứt tai, Man-chu: có nghĩa là muốn biết sự việc xảy ra khi Giu-đa Ít đem quân lính La-mã đến bắt Giê-xu thế nào, người đọc có thể đến hỏi Man-chu. Hay khi Chúa không vác nỗi thập giá lên đồi Gô-gô-tha, cả 3 PA (Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca) đều ghi lại tên của Si-môn, người Sy-ren, Mác còn giải thích rõ ông là cha của A-léc-xan-đơ và Ru-phu để mọi người muốn biết về sự kiện này có thể đến hỏi nhân chứng này.
Một số có thể vẫn còn hoài nghi lời giải thích của học giả Bauckham. Tôi xin nêu lên một bằng chứng khác. Celsus, một triết gia Hy Lạp sống vào thế kỷ thứ 2 sau Chúa, cũng là người chống đối đạo Chúa kịch liệt. Ông khinh bỉ người tin Chúa và niềm tin vào ĐCJC. Để nêu lên bằng chứng rằng niềm tin vào sự sống lại của Giê-xu chỉ là dối trái, ông giải thích như sau: Một trong những lý do chúng ta biết đạo Cơ Đốc không thể thật bởi vì lời làm chứng về sự sống lại của Giê-xu dựa vào lời làm chứng của các phụ nữ! Và tất cả những người học thức chống đối đạo Chúa thời đó đều hoàn toàn đồng ý với lý luận này.
Tại sao? Bởi vì thời đó lời làm chứng của phụ nữ không được chấp nhận trước tòa án. Chính điều này xác nhận sự trung thực của câu chuyện kể trong Mác về sự Chúa sống lại và ngôi mồ trống. Bởi vì nếu Mác hay các môn đồ thêu dệt câu chuyện Chúa chết và sống lại thì tại sao ông lại nêu tên của 3 phụ nữ này 3 lần trong 8 câu KT như nhân chứng sống cho sự chết và sống lại của ĐCJC? Nếu sự sống lại của ĐCJC là một câu chuyện thêu dệt, hay huyền thoại bởi Mác, các tín đồ, hội thánh đầu tiên, chắc chắn họ sẽ không bao giờ dùng những người phụ nữ để làm nhân chứng.
Giải thích duy nhất và hợp lý nhất là bởi vì các phụ nữ này thật sự đã nhìn thấy tận mắt, nghe tận tai về sự chết của ĐCJC trên thập giá, khi xác Ngài được lấy xuống từ thập giá và đặt vào ngôi mộ cắt bằng đá. Sau đó vào sáng sớm ngày đầu tuần, tức Chúa nhật, họ đem thuốc thơm đến mộ để liệm xác Chúa. Và khi đến họ không còn thấy xác Chúa Giê-xu mà chỉ thấy một ngôi mộ trống và nghe lời của thiên sứ phán cùng họ rằng ĐCJC đã sống lại từ cõi chết.
Một số người lại nêu ra một lý lẽ khác để bài bác, không tin sự sống lại của ĐCJC: Những người xưa không hiểu khoa học, không có kiến thức, không văn minh như chúng ta hôm nay nên dễ tin vào phép lạ. Nhưng hôm nay khoa học chứng minh không có phép lạ và việc người chết sống lại không thể nào xảy ra.
Tôi xin giải thích thế này. Trong 4 sách PA Mác ngắn nhất, và các diễn tiến trong sách luôn được viết lại cách ngắn gọn hơn so với 3 PA kia. Vì vậy khi Mác lập lại điều gì thì điều đó có ý quan trọng. 3 lần trong 3 đoạn liên tục 8-10, Mác ghi lại lời của ĐCJC rằng Ngài sẽ chịu chết, đến ngày thứ 3 sẽ sống lại.
Rồi Đức Giê-su bắt đầu dạy họ: “Con Người phải chịu nhiều khốn khổ, sẽ bị các trưởng lão, các thượng tế, các chuyên gia kinh luật khai trừ, giết chết, rồi sau ba ngày sẽ sống lại.” (Mác 8:31)
Ngài đã dạy các môn đệ rằng: “Con Người sắp bị nộp vào tay người ta, sẽ bị giết và sau khi chết ba ngày, Người sẽ sống lại.” (Mác 9:31)
Ngài đem mười hai sứ đồ riêng ra mà nói cho họ những việc sẽ xảy đến cho mình. 33Ngài bảo: “Nầy, chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và các chuyên gia kinh luật, họ sẽ lên án xử tử Người và nộp cho dân ngoại quốc. 34Họ sẽ chế nhạo, nhổ trên Người, đánh đập và giết Người đi. Ba ngày sau Người sẽ sống lại.” (Mác 10:32-34)
Mác muốn người đọc biết rõ ràng, chắc chắn rằng ĐCJC lập đi lập lại nhiều lần với các môn đồ rằng Ngài sẽ chịu chết và đến ngày thứ ba sẽ sống lại. Ta sẽ sống lại ngày thứ ba, ta sẽ sống lại ngày thứ ba…
Nhưng một điều lạ là đến ngày thứ ba không một môn đồ nam nào hiện diện và 3 môn đồ nữ lại đem thuốc thơm đến mồ để liệm xác.
Không một môn đồ nào nghĩ đến lời Chúa Ta sẽ sống lại ngày thứ ba và nói với nhau: huh… ngày thứ ba. Hôm nay là ngày thứ ba sau khi Chúa chết. Các anh à, chúng ta nên thử đến mồ xem thế nào. Có hại gì, chúng ta nên đến để coi thử xem. Nhưng không một ai trong họ nghĩ đến. Chúa lập đi, lập đi ngày thứ ba, ngày thứ ba, ngày thứ ba. Ngày thứ ba, không một bóng dáng nào của các môn đồ nam!
Mác viết rõ rằng trên đường đến mồ, những người phụ nữ hỏi nhau Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ cho chúng ta, vì tảng đá lớn lắm. Có nghĩa là họ không hề nghĩ về một ngôi mộ trống, tin rằng hòn đá chận cửa ra vào đã được lăn đi rồi và dĩ nhiên không tin rằng ĐCJC đã sống lại từ cõi chết. Ngày thứ ba, chỉ có 3 người phụ nữ đến mồ để liệm xác Chúa!
Không chỉ vậy sau khi các phụ nữ báo tin cho các môn đồ nam về ngôi mộ trống, Mác viết: 9Sau khi sống lại vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần lễ, Đức Giê-su hiện ra trước hết cho Ma-ri Ma-đơ-len là người đã được Ngài trừ khỏi bảy quỷ dữ. 10Bà ấy đi báo tin cho những người đã từng ở với Ngài đang buồn rầu và khóc lóc. 11Khi nghe rằng Ngài đang sống và bà ấy đã thấy Ngài, họ không tin. (16:9-11)
Không chỉ một lần, Mác lập lại lần thứ 2: 12Sau các việc nầy, Ngài hiện ra trong một dạng khác cho hai người trong số các môn đệ đang trên đường về vùng quê. 13Họ trở lại báo cho những người kia nhưng chẳng ai tin họ. (16:12-13) Đến nỗi ĐCJC phải trách các môn đồ nam: Sau đó, Đức Giê-su hiện ra cho mười một môn đệ khi họ đang ăn. Ngài trách sự vô tín và cứng lòng của họ vì họ không tin lời những người đã thấy Ngài sống lại. (16:14).
Các môn đồ nam, những người đã từng sống với Chúa 3 năm, từng chính tai nghe Ta sẽ sống lại ngày thứ ba, Ta sẽ sống lại ngày thứ ba, Ta sẽ sống lại ngày thứ ba. Vậy đó mà dù sau khi nghe lời chứng của các phụ nữ họ vẫn không tin. Vậy khi một người nói rằng ngày xưa họ dễ tin, ngày nay chúng ta biết điều này không thể xảy ra thì xin nhớ lại rằng chính các môn đồ cũng không tin vào sự Chúa sống lại dù Ngài đã lập đi lập đi nhiều lần với họ.
Tại sao vậy? Theo niềm tin của người Hy Lạp thời đó thì họ hoàn toàn không tin vào sự sống lại bởi vì sự cứu rỗi là khi linh hồn được giải thoát khỏi thể xác. Theo niềm tin của người DT sự sống lại chỉ có thể xảy ra trong ngày sau rốt cho tất cả mọi người, chứ không cho một cá nhân. Hơn thế nữa người DT không bao giờ, không bao giờ có thể thờ lạy một người nào cả. Ý nghĩ về ĐCT hiện thân làm người, chịu chết rồi sống lại, ngồi bên hữu ĐCT để nhận sự thờ lạy là điều hoàn toàn không thể tin được.
Nếu một người nói rằng tôi không thể tin ngôi mộ trống vì khoa học, thì các môn đồ cũng có thể nói chúng tôi không thể tin điều này vì đã được dạy từ nhỏ không có sự sống lại của cá nhân. Lý do duy nhất khiến các môn đồ thay đổi niềm tin vào ngôi mộ trống, vào sự sống lại của ĐCJC là bởi vì chính họ đã để những bằng chứng về sự Chúa sống lại thay đổi định kiến trước đó.
Còn qv là những người không tin thì sao? Qv phải giải thích thế nào về sự phát triển của đạo Chúa, về những người phụ nữ là nhân chứng sống về ngôi mộ trống, về sự thay đổi của của các nam môn đồ từ không tin, dù sau khi đã nghe lời các phụ nữ nhưng sau lại tin. Chúa phán: Ta đã sống lại
TA ĐÃ THA THỨ
Hãy đi nói cho các môn đệ của Ngài và cho Phê-rơ hay rằng Ngài đi trước các ông tới Ga-li-lê; tại đó các ông sẽ thấy Ngài như Ngài đã bảo các ông.” (Mác 16:7)
Đây là những lời nhân hậu bày tỏ sự tha thứ không điều kiện và hoàn toàn của Đấng đã chịu chết cho tội các môn đồ và đã sống lại từ cõi chết. Chúa không hề nhắc lại lỗi lầm, vi phạm của các môn đồ. Không hề có lời trách mắng: hãy đi nói với những kẻ thiếu đức tin, nói nhiều nhưng làm chẳng được bao nhiêu, thề hứa nhiều nhưng cũng chẳng giữ được lời hứa rằng nếu chúng nó đến quì trước Ta để ăn năn, xám hối thì may ra Ta sẽ bỏ qua, tha thứ, hồi phục chức vị sứ đồ!
Họ phạm tội, phạm lỗi gì cùng Chúa? Hầu hết qv đều biết nhưng có thể một vài quí khách chưa hề nghe qua câu chuyện này. Tất cả môn đồ đều hứa rằng họ sẽ không bao giờ lìa bỏ hay chối Ngài cho dù hoàn cảnh khó khăn, thử thách thế nào, cho dù phải chết. Nhưng sau khi ĐCJC bị bắt, họ đổi mặt. Tất cả lìa bỏ Chúa và trong đêm đó Phi-e-rơ chối Chúa ba lần, không chỉ chối nhưng lại còn rủa và thề!
Chú ý lời Chúa qua thiên sứ cùng các phụ nữ: Hãy đi nói cho các môn đệ của Ngài và cho Phê-rơ. Tại sao Chúa lại đề cập đến Phi-e-rơ bên cạnh các môn đệ? Nếu lời Chúa chỉ là: Hãy đi nói cho các môn đệ của Ngài thì khi các môn đồ đang ngồi cùng Phi-e-rơ nghe, họ sẽ nói với nhau: ĐCJC muốn chúng ta đến Ga-li-lê để gặp Ngài. Qv nghĩ Phi-e-rơ có thể nói gì? Các anh đi đi. Chúa gọi các anh, không gọi tôi đâu. Không thể nào Chúa gọi tôi vì tội lớn tôi đã phạm cùng Ngài.
Nhưng Chúa nói: Hãy đi nói cho các môn đệ của Ngài và cho Phê-rơ. Đây là một lời vô cùng nhân hậu, vô cùng tế nhị của ĐCJC. Ngài nghĩ đến các môn đồ là những người đã lìa bỏ Ngài nhưng Chúa cũng nghĩ đến Phi-e-rơ là người phạm tội nặng hơn vì đã chối Ngài. Chúa biết ông hối hận, hổ thẹn, buồn rầu đến chừng nào. Thay vì nghĩ đến lỗi họ đã phạm, thay vì lên án, buộc tội Ngài nói lời nhân hậu để tất cả đều biết họ đã được tha thứ. Vậy Chúa tha thứ cho họ trước khi họ ăn năn. Đúng hơn Chúa tha thứ cho họ để họ có thể ăn năn, thay đổi.
Đây cũng là bài học cho người tin Chúa; khi anh chị em trong hội thánh hay người trong gia đình phạm lỗi, phạm tội chúng ta cần nói gì? Nói thật trong tình yêu thương với mục đích để hồi phục. Lắm khi chúng ta dùng sự thật như một vũ khí để tấn công, để làm cho người phạm lỗi càng cảm thấy xấu hổ, nhục nhã càng tốt. Lời nói của anh em phải luôn có ân hậu và nêm thêm muối, để anh em biết phải đối đáp thế nào với mỗi người. (Cô-lô-se 4:6 – BHĐ) Chớ có một lời dữ nào ra từ miệng anh em; nhưng khi đáng nói hãy nói một vài lời lành giúp ơn cho và có ích lợi cho kẻ nghe đến. (Ê-phê-sô 4:25)
Mọi người được cứu bởi ân điển qua đức tin, không phải bởi công đức hay tính hạnh. Và nếu chúng ta đã được tha thứ, cứu chuộc bởi ân điển, chúng ta cũng phải đối xử nhân hậu với những anh chị em phạm lỗi, phạm tội. ĐCJC nói với Phi-e-rơ: “Hỡi Si-môn, Si-môn, nầy, Sa-tan đòi sàng sảy các con như lúa mì. 32Nhưng Ta đã cầu nguyện cho con để con không thiếu đức tin. Vậy, khi con quay trở lại, hãy làm cho anh em con mạnh mẽ. (Lu-ca 22:31-32 – BHĐ). ĐCJC tha thứ, hồi phục, làm cho Phi-e-rơ mạnh mẽ để ông làm gì? Để làm cho anh em con mạnh mẽ, không phải để làm cho họ càng thêm mặc cảm, càng thêm xấu hổ, buồn rầu.
Chúng ta ghét nhận mình thất bại hay sai phạm. Chúng ta làm đủ mọi cách để tránh nhận lỗi. Nhưng rất mau đổ lỗi cho người, hay tự bào chửa cho sai phạm của mình: nếu người đó đối với anh chị như vậy, nếu anh chị cho người vợ, người chồng như vậy, chỉ vì anh chị chưa hiểu được hoàn cảnh của tôi… Tại sao? Bởi vì nhận lỗi là dấu hiệu sự yếu đuối, thất bại. Nhưng qua sự sống lại và tha thứ của Chúa cùng các môn đồ, Chúa dùng những vi phạm, tội lỗi của các môn đồ sau khi họ thú nhận, ăn năn để thay đổi cuộc đời họ. Tại sao? Hai lý do. Thứ nhất, người vi phạm, thất bại dễ cảm thông, dễ tha thứ, khiêm nhường hơn. Thứ hai, để không ai có thể khoe mình trước Chúa.
Khi một tên tội phạm bị đưa vào tù và hoàn thành bản án của mình để pháp luật không còn buộc tội nữa, anh ta sẽ được tự do. Chúa Giê-xu Christ đã đến để trả hình phạt cho tội lỗi của chúng ta. Đó là một giá phạt rất lớn. Đó là bản án rất lớn, nhưng Ngài đã hoàn thành bản án. Tại sao? Bởi vì vào Chủ nhật Phục sinh, Ngài đã ra khỏi ngục tù sự chết. Ngài đã sống lại. Và bởi vì Chúa Giê-xu Christ đã sống lại từ cõi chết, Ngài cũng sẽ đến với bạn với một lời ân điển như Ngài đã đến nói với Phi-e-rơ. Sự phạm lỗi lớn nhất, sai lầm lớn nhất, cái chết lớn nhất, sẽ dẫn đến sự phục sinh lớn nhất, như lời của ĐCJC cùng người phụ nữ tội lỗi: Vì thế, Ta bảo ngươi, tội lỗi của người đàn bà nầy nhiều lắm, nhưng đã được tha hết, nên chị ấy yêu mến nhiều; còn người được tha ít thì yêu mến ít. (Lu-ca 7:47)
TA SẼ SAI ĐI
Lời của ĐCJC qua thiên sứ cùng 3 phụ nữ: hãy đi cũng chính là lời bắt đầu của Đại Mạng Lệnh cho các môn đồ: hãy đi. Lời kêu gọi hãy đi bắt đầu với lời động viên, trấn an: đừng sợ. Đừng sợ, hãy đi.
Mác không giải thích tại sao ĐCJC lại gọi các môn đồ đến Ga-li-lê nhưng chúng ta biết được ý chỉ và mục đích của Đấng đã sống lại cho các môn đồ khi đọc Giăng 21 & Ma-thi-ơ 28: Chúa giao phó trách nhiệm chăn bầy cho Phi-e-rơ và các sứ đồ và ủy thác Đại Mạng Lệnh rao giảng TL và môn đồ hóa muôn dân cho họ. ĐCJC giao phó trách nhiệm rao giảng Tin Lành không chỉ cho dân cư trong thành Giê-ru-sa-lem hay trong vùng Ga-li-lê: Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất. (Công Vụ 1:8)
Chúng ta hỏi ai là các môn đồ được Chúa sai đi để rao giảng TL cho đến đầu cùng trái đất, để môn đồ hóa muôn dân? Họ là những người dân dã tầm thường, đánh cá, ít học thức, những người chậm tin (dù ĐCJC lập lại ta sẽ sống lại ngày thứ ba). Họ tranh cải với nhau ai là người lớn hơn hết. Họ lìa bỏ Chúa khi Ngài bị bắt. Họ vẫn không tin khi nhiều nhân chứng làm chứng về sự sống lại của ĐCJC. Ai nữa? Tôi và qv, những người không khác các môn đồ xưa: dễ phạm tội, thiếu đức tin, không nhiều tài năng… Tất cả đều là tội nhân được tha thứ, cứu chuộc, hồi phục và ban cho ĐTL. Ai ban cho chúng ta những điều này? Đấng đã chết và nay đã sống lại. Vậy có gì để các môn đồ xưa và chúng ta nay có thể tự hào khoe mình khi được Chúa sai đi? PL giải thích:
Hỡi anh em, hãy suy xét rằng ở giữa anh em là kẻ đã được gọi, không có nhiều người khôn ngoan theo xác thịt, chẳng nhiều kẻ quyền thế, chẳng nhiều kẻ sang trọng. 27 Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những kẻ khôn; Đức Chúa Trời đã chọn những sự yếu ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh; 28 Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, 29 để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời. 30 Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta; 31 hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa. (1 Cô-rinh-tô 1:26-31)
14Nếu Chúa Cứu Thế đã không sống lại, thì sứ điệp Phúc Âm mà chúng tôi truyền giảng thành vô ích và đức tin anh chị em cũng vô ích. 15Hơn nữa, chúng tôi bị coi như những nhân chứng gian dối về Đức Chúa Trời vì chúng tôi đã làm chứng về Đức Chúa Trời rằng: Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Cứu Thế sống lại. (1 Cô-rinh-tô 15:14-15)
