Ngôi Lời Ở Giữa Chúng Ta
Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha. (Giăng 1:14)
BỐN PHÚC ÂM VỀ JÊSUS
Bốn sách Phúc Âm đều ghi lại về cuộc đời và diễn tiến trong vòng 3 năm ĐCJC hành đạo. Trong đó chỉ có hai Phúc Âm Ma-thi-ơ và Lu-ca ghi lại các chi tiết về sự giáng sinh của ĐCJC. Ma-thi-ơ viết cho người Do Thái và nhấn mạnh về sự ứng nghiệm của CU trong ĐCJC. Lu-ca viết chủ yếu cho người Greek (người ngoại) và cho biết rõ các chi tiết về cuộc đời của Đấng Cứu Rỗi Jêsus như Con Loài Người (Son of Man). Đối tượng của Mác là người La-mã (Romans). Sách chú trọng nhiều về các công việc và hành động của ĐCJC. Vì vậy Mác bắt đầu với lời tiên tri của Ê-sai và giới thiệu về người dọn đường cho Chúa là Giăng Báp-tít.
Sách Giăng chủ yếu viết cho cả người Giu-đa và người ngoại về Jêsus là Con Thượng Đế (Son of God). Khác với 3 sách Tin Lành kia chú trọng về những sự kiện trong đời ĐCJC, Giăng chú trọng về ý nghĩa của những sự kiện đó. Khi cả 4 sách PA ghi lại về câu chuyện Chúa làm phép lạ hóa bánh cho 5000 người thì chỉ có Giăng giải thích rằng chính Jêsus là Bánh Hằng Sống. Và khác với 3 PA kia, Giăng bắt đầu với lời như trong STK ban đầu (in the beginning) và đưa người đọc trở về thời gian từ trước khi trời đất, vũ trụ được tạo dựng.
DANH XƯNG CỦA JÊSUS
KT có trên 50 danh xưng dùng cho ĐCJC. Sau đây là một vài danh xưng, một số chúng ta thường dùng để gọi Ngài trong mùa Giáng Sinh: Đấng Mê-si, Đấng Cứu Rỗi, Chúa Bình An, Ê-ma-nu-ên, Sự Sáng Lớn, Đấng Lạ Lùng, Đấng Mưu Luận, ĐCT Quyền Năng, Cha Đời Đời, Chiên Con Thượng Đế, Sự Sống Lại và Sự Sống, Sư Tử chi phái Giu-đa, Chồi của vua Đa-vít, A-đam thứ hai, Vua muôn vua Chúa muôn chúa…
Giăng 1 dùng một danh xưng rất đặc biệt để nói về ĐCJC. Bản dịch của chúng ta dịch là Ngôi Lời (Thiên Ngôn – BDM). Ngôi để nói lên sự kính trọng, kỉnh kiền như khi gọi ĐCJC là Ngôi Hai. Nhưng thật sự danh xưng dùng cho Chúa là Lời (Word) hay cũng có nghĩa là Sứ Điệp (Message). Vì vậy mà một bản dịch diễn ý mới có đề tựa là The Message (Sứ Điệp) khi nói về ĐCJC và Tin Lành. Từ nguyên thủy là Logos. Trong cả KT chỉ có sứ đồ Giăng là dùng danh xưng này để nói về ĐCJC: trong Giăng 1 và KH 19:13 danh Ngài xưng là Lời Đức Chúa Trời.
Trong cuộc sống hằng ngày, mọi người đều dùng lời nói, lời viết để diễn tả ý nghĩ, tình cảm, mơ ước. Lời là phương tiện chính để truyền đạt mạng lệnh, tin tức, bày tỏ tình cảm, giải thích ý nghĩ, chia xẻ ước mơ. Lời đem đến sự yên ủi, động viên, khích lệ. Lời cũng được dùng để dạy bảo, quở trách, thậm chí rủa xả. Lời có thể truyền đạt một lần qua giọng nói, hay ghi lại cho mai sau qua trên bảng đá, trên giấy tập.
Lời vô cùng quan trọng cho con người và xã hội. Ý nghĩ nằm trong trí của một người và thuộc về người đó cho đến khi thể hiện bằng lời nói, lời viết. Chúng ta hoàn toàn không thể hiểu nhau nếu không có lời trao đổi. Nếu lời bày tỏ ý nghĩ và tấm lòng giữa người và người thì Ngôi Lời thể hiện ý nghĩ và tấm lòng của ĐCT cho loài người. Danh xưng Ngôi Lời cũng cho biết rằng lời dạy của ĐCJC cũng chính là lời của ĐCT.
Vậy danh xưng Ngôi Lời của ĐCJC là một danh xưng vô cùng quan trọng vì nó cho chúng ta biết chính ĐCT qua ĐCJC đã đến thế gian để nói cho loài người về tình yêu thương và sự cứu chuộc của Ngài. ĐCT là Đấng Vô Hạn. Làm sao để Đấng Vô Hạn giải thích ý nghĩ của Ngài cho con người hữu hạn? Qua ngôn ngữ, lời nói của con người.
Hơn thế nữa, không phải Ngôi Lời xuống trần để đọc diễn văn cho toàn thế giới như tổng thống đọc diễn văn cho cả nước, hay chỉ diễn thuyết như một giáo sư. ĐCJC trò chuyện với những người dân dã tầm thường: người đánh cá, người chăn chiên, phụ nữ bị bắt quả tan phạm tội tà dâm, người đàn bà Sa-ma-ri có 5 đời chồng… Chúa dạy dỗ cho cá nhân, cho đoàn dân và cho các môn đồ. Chúa quở trách người Pha-ra-si. Chúa yên ủi Ma-ri, Ma-thê. Tất cả đều qua lời nói của Ngài đến từng người một.
Ngôi Lời không phải chỉ đến nói về sứ điệp nước Trời và về tin mừng của sự cứu rỗi cho toàn nhân loại nhưng tiếng Ngài đến với mỗi cá nhân. Lời Chúa thích hợp cho từng người, từng giai đoạn và hoàn cảnh của cuộc sống.
NGÔI LỜI LÀ HIỆN THÂN CỦA ĐCT
Có lần một người chưa tin Chúa hỏi tôi: làm sao tôi biết có ĐCT? Câu trả lời của tôi là ĐCT khải thị về sự hiện hữu của Ngài qua 4 điều chính.
1) Sự sáng tạo của Ngài qua thiên nhiên, vũ trụ và các định luật tự nhiên.
2) Ý thức đạo đức, ý thức về sự đúng sai, phải trái.
3) KT là lời Chúa được ghi lại để loài người có thể đọc, biết về Ngài, về tội lỗi, về dân sự Ngài, về luật pháp đạo đức và tâm linh Chúa đòi hỏi, về chương trình cứu chuộc của Chúa cho con người.
4) Đức Chúa Jêsus Christ. ĐCT đã hiện thân làm người qua sự xuống trần của Jêsus Christ hơn 2000 năm trước đây.
Đối với người tin Chúa Ngài còn ban thêm cho họ ĐTL. Đây là một khải thị đặc biệt.
Dù vũ trụ có bao la, sâu thẩm, vĩ đại đến mấy, dù thiên nhiên có kỳ lạ, tuyệt vời đến mấy thì đây cũng chỉ là sự sáng tạo của ĐCT. Mọi vật thể này chỉ gián tiếp nói về Chúa. Tự chúng nó không nói rõ rằng ĐCT là Đấng Sáng Tạo chúng tôi! Chúng nó cũng không có tình cảm hay cảm xúc được điều gì từ loài người. Khi chúng ta vi phạm các định luật tự nhiên thì chắc chắn chúng ta sẽ phải trả một giá rất đắt, thậm chí với cả tính mạng. Luật tự nhiên không có ân điển, di du, không bao giờ có sự ngoại lệ dù người đó nhỏ lớn, tội lỗi hay thánh khiết.
Dù các khoa học gia, vật lý gia có khám phá ra được các luật pháp tự nhiên thì cũng không chắc họ sẽ tin vào Chúa. Nhà toán học và triết gia Blaise Pascal biết rõ điều này khi ông viết: Tại sao! Tại sao bạn không thể nói rằng vũ trụ và chim trời chứng minh sự hiện hữu của ĐCT? Dù đúng rằng vài người có ánh sáng của ĐCT để nhận biết Ngài qua sự sáng tạo, nhưng đa số con người đều không biết điều này.
Vì vậy ĐCT ban thêm một bằng chứng về sự hiện hữu của Ngài: luật pháp đạo đức (moral law). Dù vậy con người vẫn phủ nhận Chúa. Ngày nay bên cạnh hai điều này, Chúa còn cho con người hai điều khác khải thị về Ngài: KT và ĐCJC.
ĐCJC là hiện thân của ĐCT. Ngài là Ngôi Lời, sự khải thị cụ thể nhất, rõ ràng nhất về sự hiện hữu của ĐCT cho loài người.
STK 1 cho biết ĐCT tạo nên trời đất vũ trụ cùng mọi loài vật trên đất qua chính lời phán của Ngài: Đức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng; thì có sự sáng… Với mạng lệnh qua lời phán Chúa sáng tạo muôn loài, muôn vật. Ít nhất 9 lần trong đoạn KT này câu ĐCT phán rằng được lập lại mỗi khi nói về sự sáng tạo mới. Vậy qua lời của ĐCT Ngài sáng tạo mọi loài. Trong Cô-lô-se 1:16 PL giải thích rằng chính Lời Sáng Tạo đó là ĐCJC: Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả.
Vậy Ngôi Lời chính là Đấng đã hiện hữu cùng ĐCT từ trước vô cùng, từ trước khi mọi vật được sáng tạo: Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. KT xác nhận rõ rằng ĐCJC cũng chính là ĐCT. Ngôi Lời cũng chính là Ngôi Hai ĐCT. Và Ngôi Lời cũng là Đấng đã sáng tạo mọi loài vật như đã ghi lại tron STK 1.
Từ ở cùng hàm ý rằng Ngôi Lời khác với ĐCT (Chúa Cha) và có quan hệ cùng ĐCT. Vậy ĐCT Ba Ngôi hiện hữu ngoài vật chất hữu hình của thiên nhiên. Ba Ngôi từ trước muôn đời, trước khi vũ trụ được tạo lập đã có quan hệ và hòa hợp cách tuyệt đối, không hề có sự bất hòa.
Đến cuối thời CU là một thời gian im lặng của ĐCT trong vòng 400 năm. Không có lời phán của ĐCT hoặc trực tiếp, hoặc qua tiên tri cho dân sự. Mãi đến khi Jêsus giáng sinh.
Ngôi Lời xuống trần làm người trong thân xác của một hài nhi yếu đuối, bất lực để bày tỏ sự cảm thông với con người. Và hơn hết để tỏ bày tin lành, tin vui mừng (phúc âm) về sự cứu rỗi, về nước Trời cho tội nhân sống trong thế giới cai trị bởi quyền lực Sa-tan. Trong 3 năm Ngôi Lời đã rao giảng Tin Lành cho dân chúng và dạy dỗ các môn đồ để sau này họ có thể là lời cho Chúa.
Khi Ngôi Lời xuống trần, ĐCT nói với loài người chúng ta rằng Ngài muốn bày tỏ ý chỉ, mạng lệnh với ngôn ngữ của con người, chứ không phải bằng một ngôn ngữ xa lạ của thiên sứ nào đó. Chúa cũng nhắc tôi và quí vị rằng chúng ta có thể nghe tiếng Ngài, hiểu lời dạy Ngài.
BÀI HỌC VỀ NGÔI LỜI
Chúng ta sống trong thế giới đầy tiếng động. Tiếng động làm chúng ta chú ý nhưng cũng chi phối rất nhiều. Tùy nơi chốn và hoàn cảnh ta sống, chúng ta nghe những tiếng động khác nhau. Trong thành phố chúng ta nghe tiếng xe chạy. Trong công sở, nghe tiếng chủ thợ, tiếng bè bạn, tiếng người nói. Trong gia đình, tiếng chồng vợ, con cái.
Không phải tiếng nào cũng đều có ý nghĩa và giá trị như nhau. Chúng ta chuộng tiếng cười hơn tiếng khóc, tiếng nhỏ nhẹ, động viên hơn tiếng giận dữ la lối. Chúng ta muốn nghe tiếng của người mình thương mến hơn tiếng của người mình không thích, giận ghét. Tôi vẫn còn nhớ tiếng của mẹ tôi dù bà đã mất mười mấy năm rồi.
Có lần khi về VN tôi đi chợ với người chị của tôi. Chợ VN ồn ào, hổn độn lắm chớ không phải như supermarket ở đây trật tự, im lặng. Chỉ sợ tôi đi lạc nên bảo tôi đi gần. Vậy đó mà tôi vẫn đi lạc. Khi còn đang tìm kiếm chị trong vòng đám đông giữa chợ, tôi nghe có tiếng gọi lớn tên tôi. Lập tức tôi biết ngay đó là tiếng của chị tôi. Tôi bỏ qua những tiếng động không quan trọng để có thể lắng nghe và nhận biết tiếng của người tôi yêu mến.
Còn đối với tiếng gọi của Ngôi Lời thì sao? Liệu tôi và quí vị có để tai và hơn hết để tâm lắng nghe tiếng của Ngài mỗi ngày của đời sống? Hay những tiếng gọi khác làm át đi tiếng Chúa?
Giáng Sinh thường là mùa của nhiều tiếng động: tiếng gọi của shopping, của các chương trình lễ, của các buổi tiệc. Nghe theo những tiếng gọi này không có gì là sai cả. Nhưng chúng ta cũng cần nhớ đến tiếng của Ngôi Lời, không chỉ trong mùa Giáng Sinh, mà trong mỗi ngày của đời sống.
Ngôi Lời nhắc chúng ta rằng chính ĐCT đã hiện thân làm người đến sống trong vòng loài người tội lỗi. Dù cuộc sống mỗi ngày có ồn ào đến mấy, chúng ta cũng cần chú ý mà lắng nghe tiếng của Ngôi Lời, của ĐCJC. Chớ để tiếng ồn ào náo nhiệt của mùa lễ làm át đi tiếng Ngôi Lời.
Ngày xưa trong một xứ nọ có một vị vua nhân từ. Vua yêu mến dân chúng trong xứ và muốn biết họ sống thế nào. Vua thường mặc quần áo người lao động tầm thường và đến nhà những người nghèo khó. Không ai ngờ rằng đây là vua của xứ. Một ngày nọ vua đến thăm một gia đình nghèo khó và ăn bửa đạm bạc với họ. Khi dùng bửa, vua có những lời động viên, yên ủi. Không lâu sau đó vua trở lại gia đình nghèo khó đó như một vị vua. Bấy giờ vua bảo: Ta là vua các ngươi. Ta có thể ban gì cho ngươi và gia đình? Vua nghĩ người chủ gia đình nghèo khó sẽ hỏi xin quà hay tiền. Nhưng ông không hề hỏi xin điều gì. Thay vì hỏi xin, người đàn ông này nói: Vua rời bỏ hoàng cung và ngôi vua để đến ngôi nhà nghèo nàn, thấp hèn này thăm tôi, dùng bửa với gia đình chúng tôi. Vua đã đem lại nhiều niềm vui cho chúng tôi. Với những người khác vua ban cho quà quí. Với chúng tôi vua cho chúng tôi chính ngài.
Qua Ngôi Lời ĐCT cho chính Ngài cho chúng ta.
Vài bài học có thể rút ra được về Ngôi Lời.
1) Qua Ngôi Lời chúng ta biết rõ hơn về ĐCT. Khi sứ đồ Phi-líp hỏi xin Chúa Lạy Chúa, xin chỉ Cha cho chúng tôi, thì đủ rồi. Ông muốn biết ĐCT. Ngôi Lời trả lời: Hỡi Phi-líp, ta ở cùng các ngươi đă lâu thay, mà ngươi chưa biết ta! Ai đă thấy ta, tức là đă thấy Cha. Sao ngươi lại nói rằng: Xin chỉ Cha cho chúng tôi?(Giăng 14:8-9) ĐCJ xác nhận rằng ai thấy Ngài tức là thấy ĐCT rồi.
2) Vì Ngôi Lời là ĐCT nên lời của Ngài là lời của ĐCT. Ai nghe tiếng Ngôi Lời là nghe chính tiếng của ĐCT. Thẩm quyền của lời Jêsus chính là thẩm quyền của ĐCT. Khi Jêsus xác nhận TU là lời hằng sống không hề thay đổi thì đó cũng chính là lời xác nhận của ĐCT. Qua Ngôi Lời chúng ta biết chắc chắn về sự cứu rỗi. Không chỉ biết nhưng qua Ngài chúng ta còn nhận được sự cứu rỗi: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. (Giăng 5:24)
3) Trong thế gian đầy tiếng quyến rũ này, có một tiếng gọi mà chúng ta cần chú tâm là tiếng của Ngôi Lời. Đây không phải là điều tự nhiên hay dễ dàng. Nếu để tự nhiên chúng ta chắc sẽ nghe tiếng của thế gian, tiếng gọi theo đuổi vật chất. Tiếng thế gian lớn tiếng rằng hãy sống cho đời này, rằng ĐCT không có thật, rằng dại khờ, uổng phí thời gian để học lời KT, để thờ phượng, thông công, để hầu việc Chúa.
Tiếng của thế gian dù có hấp dẫn nhưng là tiếng của giả dối, tạm bợ. Thường cũng là tiếng hung dữ, độc ác. Nhưng tiếng của Ngôi Lời là tiếng của lẽ thật và tiếng của ân điển. Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha. (Giăng 1:14)
Chẳng phải tất cả chúng ta đều mong ước tiếng ân điển và tiếng của sự thật trong đời sống hay sao?
Qua Ngôi Lời, chỉ qua Ngôi Lời chúng ta mới có thể nhận được lẽ thật và ân điển từ Đức Chúa Trời.
If our greatest need had been information, God would have sent us an educator; If our greatest need had been technology, God would have sent us a scientist; If our greatest need had been money, God would have sent us an economist; If our greatest need had been pleasure, God would have sent us an entertainer; But our greatest need was forgiveness, so God sent us a Savior.
