Mấy Ai Học Được Chữ Ngờ!
Hai điều tất nhiên không ai từ xưa đến nay có thể tránh được. Dù có cố gắng đến mấy, dù thông minh đến mấy, tài giỏi, giàu có, quyền chức, đạo đức, thậm chí yêu mến Chúa hết lòng vẫn không tránh được 2 điều này. Một số đông qv đây chắc nghĩ 2 điều tất yếu trong đời sống này là: thuế vụ và sự chết. Nhưng bài giảng sáng nay không nhằm về 2 điều tất nhiên đó. Hai điều chắc chắn đã, đang và sẽ xảy đến cho mọi người, cho tất cả qv hiện diện tại đây là: 1) Lỗi lầm chính mình gây ra; 2) Bất ngờ ngoài ý mình dự tưởng.
Có ai sống trong đời lại muốn phạm lầm lỗi? Dĩ nhiên không ai cả. Ngay cả các cổ thụ trong hội thánh, trong lịch sử đạo Chúa. Mọi người, tất cả mọi người đều muốn lời nói, thái độ, cư xử, quan hệ của mình với người trong gia đình, hội thánh đều mực thức, cân nhắc, đúng nơi đúng lúc để có quan hệ ngày càng tốt đẹp hơn với thân quyến, bè bạn. Nhưng rồi miệng lại thốt ra những lời không nên trước khi đầu bảo dừng lại, khiến sinh ra buồn phiền, ngăn cách trong quan hệ. Ai lại muốn mình quyết định, chọn lựa, hành động sai lầm trong việc làm ăn buôn bán.
Tôi chắc rằng mỗi qv đây đều có thể nghĩ lại, nhớ lại như in về nhiều sự kiện, diễn tiến xảy ra trong đời mình gồm cả 2 điều không tránh khỏi này. Có thể sự việc đó vừa mới xảy ra trong tuần qua. Hay trong tháng qua, năm qua. Hay cũng có thể vừa xảy ra trước khi qv đến nhà Chúa để thờ phượng sáng nay. Một cách hoàn toàn bất ngờ (out of the blue), hoàn toàn không nghĩ đến, huống chi dự tính trước, điều này, điều nọ lại xảy ra.
KT cũng đầy dẫy những câu chuyện xảy ra hoàn toàn bất ngờ, hoàn toàn ngoài dự tính:
Nô-e. Nô-e là người đóng chiếc tàu lớn trước cơn đại hồng thủy hủy diệt cả loài người, ngoại trừ Nô-e và 7 người trong gia đình ông. KT viết về Nô-e như sau: Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va. 9 Nầy là dòng dõi của Nô-ê. Nô-ê trong đời mình là một người công bình và trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời. (STK 6:8-9) Trong 600 năm dài, ông trung tín bước đi với ĐCT. Nhưng sau cơn lụt lớn, khi nước đã rút khỏi đất, thì Nô-e lại sa ngã: Vả, Nô-ê khởi cày đất và trồng nho. 21 Người uống rượu say, rồi lõa thể ở giữa trại mình. (STK 9:20-21)
Áp-ra-ham đang sống êm ấm với gia đình tại Cha-ran. Hoàn toàn bất ngờ, ĐCT gọi ông ra khỏi vòng quê hương, vòng bà con và nhà cha ngươi, mà đi đến xứ ta sẽ chỉ cho. Sách Hê-bơ-rơ cho biết, Áp-ra-ham vâng lời Chúa ra đi, nhưng không biết mình đi đâu. Một người đầy đức tin, vâng lời Chúa trong việc to lớn, hệ trọng như vậy nhưng có ai ngờ lại hèn nhát, sợ chết nên nói dối với vua Pha-ra-ôn rằng vợ mình là em gái mình. Không chỉ một lần nhưng lại thêm một lần khác với vua A-bi-mê-léc.
Làm sao Mô-se có thể ngờ một buổi sáng ông rời khỏi hoàn cung Ai-cập ra đường như mọi ngày khác, nhưng hôm đó lại thấy một người lính Ai-cập hà hiếp người Ỵ nên căm giận và giết người lính đó. Rồi Mô-se phải bỏ trốn, lập gia đình với con gái của một người Mê-đi, chăn chiên trong 40 năm dài. Rồi một ngày cũng như những ngày khác, Mô-se dân bầy súc vật tìm cỏ, thình lình thấy một bụi cây cháy hoài không tắt, đó chính là ĐCT hiện ra cùng ông. Rồi ĐCT sai phái Mô-se trở về xứ Ai-cập để giải cứu dân sự ra khỏi vòng nô lệ. Chắc chắn Mô-se không bao giờ nghĩ đến việc này!
Như Đa-vít nhìn thấy Bát-sê-ba tắm và động lòng rồi phạm tội tà dâm và giết cả chồng bà. Tôi có thể kể cho qv đây hay qv có thể kể cho tôi bao nhiêu nhân vật, câu chuyện khác trong KT đều phạm nhiều lỗi lầm do chính họ gây ra hay những sự cố xảy ra trong đời họ một cách hoàn toàn bất ngờ, hoàn toàn ngoài dự tính của họ.
Cũng như câu chuyện hết sức bất ngờ xảy ra giữa PL và Ba-na-ba trong CV 15: 36-41: Sau ít lâu, Phao-lô nói với Ba-na-ba rằng: Chúng ta hăy trở lại thăm hết thảy anh em trong các thành mà chúng ta trước đă giảng đạo Chúa, xem thử ra thể nào. Ba-na-ba muốn đem theo Giăng cũng gọi là Mác. Nhưng Phao-lô không có ý đem Mác đi với, vì người đă lìa hai người trong xứ Bam-phi-ly, chẳng cùng đi làm việc với. Nhơn đó có sự căi lẫy nhau dữ dội, đến nỗi hai người phân rẽ nhau, và Ba-na-ba đem Mác cùng xuống thuyền vượt qua đảo Chíp-rơ. Còn Phao-lô sau khi đã chọn Si-la, và nhờ anh em giao phó mình cho ân điển Chúa, thì khởi đi. 41 Người trải qua xứ Sy-ri và xứ Si-li-si, làm cho các Hội thánh được vững bền. (CV 15:36-41)
KHÔNG AI QUYẾT ĐỊNH, HÀNH ĐỘNG CÁCH TOÀN HẢO
Chúng ta có thể nói hai nhân vật trong đoạn KT trên là hai đại cổ thụ trong lịch sử HT. Vậy đó mà vẫn có sự tranh cải dữ dội đến nỗi phải chia tay nhau.
Về Phao-lô
Thiết nghĩ hầu hết qv đây đều đã nghe giảng, đọc biết nhiều về PL nên tôi chỉ xin tóm tắt về vài điều về nhân vật quan trọng, cây đại cổ thụ này trong lịch sử HT và cả nhân loại.
PL đầu tiên xuất hiện trong CV như một người cuồng tín chống đối đạo Chúa, tìm mọi cách để bắt bớ, giam cầm, thậm chí giết chết những người tin Chúa. Rồi một ngày, trên đường từ thành Giê-ru-sa-lem đến thành Đa-mách, một sự kiện hoàn toàn bất ngờ xảy ra. Nhưng Sau-lơ đang đi đường gần đến thành Đa-mách, thình lình có ánh sáng từ trời soi sáng chung quanh người. 4 Người té xuống đất, và nghe có tiếng phán cùng mình rằng: Hỡi Sau-lơ, Sau-lơ, sao ngươi bắt bớ ta? (CV 9:3-4)
Từ một người Pha-ri-si vâng giữ mọi luật pháp Mô-se, PL trở nên một sứ đồ trung tín với ĐCJC cho đến chết. Ai có thể tin câu chuyện này? Rồi PL hy sinh trọn cuộc đời để đem Tin Lành từ những ngày tháng đầu tiên của lịch sử HT đến dân ngoại trong khắp vùng Trung Đông, Tiểu Á, Âu Châu và cả đến La-mã. PL là một người vô cùng thông minh (brilliant), can trường, cứng rắn, luôn giữ vững chí hướng (single-minded), quyết chí, từng trải. Trong số 27 sách TU ông là tác giả của ít nhất 13 sách. Tính tất cả 3 chuyến truyền giáo bằng thuyền, hay đường bộ và chuyến hành trình cuối cùng từ Jerusalem đến Rome, ước tính PL đã đi hơn 13,000 miles! Khoảng cách giữa Sài Gòn và Los Angelos theo đường phi cơ khoảng 8,200 miles. PL đã đi gần 2 lần chuyến đường này! PL là một vĩ nhân không chỉ trong lịch sử HT nhưng còn trong lịch sử nhân loại.
Về Ba-na-ba
Trước đoạn KT trong CV 15:36-41 đã đọc là thời gian PL đã hoàn tất chuyến truyền giáo thứ nhất và vừa trở về từ hội nghị tại thành Jerusalem cùng với một người bạn trong Chúa rất thân tín tên Ba-na-ba. Tên của ông có nghĩa là con trai của sự yên ủi (4:36) bởi vì ông thường động viên, yên ủi, khích lệ tín đồ. Theo CV 11:24 thì Ba-na-ba thật là người lành, đầy dẫy Thánh Linh và đức tin.
Chính Ba-na-ba là người giới thiệu PL đến các sứ đồ tại thành Jerusalem. Sau-lơ tới thành Giê-ru-sa-lem rồi, muốn hiệp với các môn đồ; nhưng hết thảy đều nghi sợ người, không tin là môn đồ. Ba-na-ba bèn đem người đi, đưa đến các sứ đồ và thuật lại cho biết thể nào dọc đường Chúa đă hiện ra và phải cùng người, lại thể nào người đă giảng dạy cách bạo dạn về danh Đức Chúa Jêsus tại thành Đa-mách. (9:27)
Khi không ai tin PL thì chính Banaba đã can đảm mà bảo chứng về sự thay đổi của PL cho các môn đồ. Đọc câu Ba-na-ba bèn đem người đi, đưa đến các sứ đồ và thuật lại cho biết thể nào dọc đường, quí vị nghĩ gì? Trước hết ông chủ động đến với PL, dẫn ông đến gặp các sứ đồ, là những cột trụ của HT đầu tiên, những người đã chính mắt thấy ĐCJC. Ba-na-ba lại còn mở lời, lấy danh dự, lấy tên tuổi của mình mà làm chứng cho PL, là một người vừa mới được Chúa cứu, vừa tin Chúa. Mấy ai muốn làm điều này với một tín đồ mới? Ba-na-ba có lẽ thấy được điều gì đó đặc biệt trong PL, thấy được điều lớn Chúa làm qua cuộc đời PL.
Vì vậy mà tên Ba-na-ba là con trai yên ủi. Khi mọi người ngờ vực, sợ hãi trước PL thì B. đã can đảm, cảm thông mà chấp nhận PL. Rồi bảo chứng cho người mới tin Chúa này. Có thể nào PL không nhớ về tình cảm đầu tiên này mà B. dành cho ông?
Độ 6 năm sau đó, cũng chính B. đã đi gần 450 miles từ Jerusalem đến một hội thánh phía bắc thuộc thành phố Antioch xứ Syria. Mục đích là để giúp cho hội thánh mới và gồm nhiều thành phần khác nhau. Không sai với tính tình như tên ông là người khích lệ, động viên, yên ủi: Khi người đến nơi và thấy ơn Đức Chúa Trời, bèn vui mừng và khuyên mọi người phải cứ vững lòng theo Chúa; vì Ba-na-ba thật là người lành, đầy dẫy Thánh Linh và đức tin. (11:23-24) Khi B. đến hội thánh Antioch thì có rất đông người tin Chúa.
Thay vì ở đó để làm việc một mình cho nổi danh, KT cho biết Kế đó, Ba-na-ba đi đến thành Tạt-sơ, để tìm Sau-lơ, tìm gặp rồi, bèn đưa đến thành An-ti-ốt. Trọn một năm, hai người cùng nhóm với Hội-thánh và dạy dỗ nhiều người. Ấy là ở thành An-ti-ốt, người ta bắt đầu xưng môn đồ là Cơ-rê-tiên. (11:25-26). Một lần nữa chúng ta thấy lòng rộng rãi của B. Ý thức ông cần sự giúp đở nên đi tìm PL và đem người đến HT Antioch để cùng nhóm và dạy. Tìm PL trong một thành phố gần 1/2 triệu dân không phải là điều dễ.
Chắc B. phải thấy có điều gì đặc biệt ở PL. Có thể B. biết rằng Chúa có thể dùng PL cho những việc rất lớn và khó của Ngài mà chưa ai có thể thực hiện được. Chính vì vậy ông mới bỏ rất nhiều thời gian, công khó để tìm cho được PL và thuyết phục ông về nhóm tại ht Antioch. Một lần nữa cũng chính B. là người đã đưa dẫn PL đến với các lãnh đạo và tín đồ HT Antioch. Và chính tại hội thánh này PL đã khởi xướng 3 cuộc truyền giáo. ĐCT đã dùng B. để đưa PL đến gặp các sứ đồ. Đến nhóm và gây dựng HT Antioch. Và dùng HT này như hội thánh nhà cầu nguyện, động viên, trợ giúp cho PL trong các cuộc truyền giáo.
Lắm khi chúng ta chỉ nhớ đến PL nhưng quên đi những Ba-na-ba, những người ĐCT dùng cách âm thầm nhìn thấy được đức tin, khả năng của một người Chúa dùng trong tương lai cho các việc lớn và khó. B. tượng trưng cho những tín đồ có ân tứ động viên, khích lệ, yên ủi. Những người có mắt nhìn sâu sắc về một người, biết được khả năng tìm tàng Chúa ban cho và khích lệ để họ có thể phát huy khả năng đó. Đây là những người đứng sau hậu trường nhưng quan trọng không kém gì người đứng trước hậu trường. Có thể nói nếu Chúa không dùng B. để tìm gặp PL thì có lẽ lịch sử hội thánh đã không như ngày nay.
Truyền Giáo
Rồi ĐCT gọi cả hai người vào cánh đồng truyền giáo. Chính hội thánh tại thành Antioch đã kiêng ăn, cầu nguyện rồi đặt tay trên hai người gởi cho đi ra truyền giáo. Nhưng chú ý sự kêu gọi, sự biệt riêng đến từ ĐCT: Đương khi môn đồ thờ phượng Chúa và kiêng ăn, thì Đức Thánh Linh phán rằng: hăy để riêng Ba-na-ba và Sau-lơ đặng làm công việc ta đă gọi làm. (13:2).
Trong chuyến truyền giáo này họ đem theo một người trẻ tuổi tên là Giăng Mác (13:5). Mác là cháu của Ba-na-ba. Mẹ Mác là người giàu có sinh sống tại thành Giê-ru-sa-lem: vì có một ngôi nhà rộng rãi để các tín đồ đến nhóm và có đầy tớ. Vì yêu mến Chúa, mẹ Mác muốn con mình tham gia vào cuộc truyền giáo nên đã gửi gắm con cho em mình, Ba-na-ba. Vậy, Sau-lơ và Ba-na-ba đã chịu Đức Thánh Linh sai đi, bèn xuống thành Sê-lơ-xi, rồi từ đó đi thuyền đến đảo Chíp-rơ. Đến thành Sa-la-min, hai người giảng đạo Đức Chúa Trời trong các nhà hội của người Giu-đa; cũng có Giăng [Mác] cùng đi để giúp cho. Công Vụ 13:4-5
Nhưng không lâu sau đó Mác rời bỏ họ và trở về quê là thành Jerusalem Phao-lô với đồng bạn mình xuống thuyền tại Ba-phô, sang thành Bẹt-giê trong xứ Bam-phi-ly. Nhưng Giăng lìa hai người, trở về thành Giê-ru-sa-lem. (13:13). Ai có thể ngờ được điều này? Chẳng phải cả hai đều đồng ý chọn Giăng Mác hay sao? Chẳng phải Mác, con của một gia đình tin kính Chúa là đối tượng lý tưởng cho cuộc truyền giáo hay sao? Cả hai người Ba-na-ba và PL đều nhằm về người trẻ tuổi này. Mác không chịu nổi sự khó nhọc hay đòi hỏi của công việc Chúa nên bỏ về nhà! Nhưng cám ơn Chúa câu chuyện về Giăng Mác không kết thúc tại đây. Mác trở nên người con tinh thần rất thương mến của sứ đồ Phi-e-rơ. ĐTL lại dùng Mác để viết lại cuộc đời của ĐCJC qua lời kể của Phi-e-rơ. Nhờ đó chúng ta có Phúc Âm Mác. Mãi đến cuối đời khi bị giam trong ngục tại thành La-mã chờ ngày xử tử, PL viết lá thư cuối cùng cho Timothy. Trong thơ đó, PL viết: hãy đem Mác đến cùng ta vì người có ít cho công việc Chúa.
CUỘC TRANH CẢI – CÓ AI HỌC ĐƯỢC CHỮ NGỜ
CV 15:36 cho biết chính PL là người khởi xướng lời đề nghị trở lại các hội thánh đã lập trong cuộc truyền giáo thứ nhất để thăm viếng. Nhưng rồi hoàn toàn bất ngờ, hoàn toàn ngoài dự tính, ý nghĩ của cả PL và Ba-na-ba, một cuộc tranh cải dữ dội bất ngờ xảy ra đến nỗi họ chia tay nhau.
Tại sao hai người tranh cải nhau về Mác? Vấn đề chính ở đây là một người khi đã bỏ công việc Chúa, trách nhiệm quan trọng khi làm việc Chúa thì có thể tin tưởng được cho lần nữa? B. chắc tin rằng cần cho người đó một cơ hội thứ hai. Nhưng PL có sự nghi ngờ và không tin như vậy.
Tính đến lúc này khi hai người tranh cải và lìa nhau thì B. & PL đã quen biết và hầu việc Chúa hơn 12 năm (38-52). Trong hơn 12 năm dài đó họ trải qua biết bao nhiêu tháng ngày hầu việc Chúa. Tại hội thánh Antioch, đem tiền cho các tín hữu nghèo khó tại Jerusalem, dự hội nghị đầu tiên tại Jerusalem, 2 năm trời sát cánh trong chuyến truyền giáo thứ nhất. Bao nhiêu khó nhọc, thử thách họ cùng nhau trải qua. Nay chỉ vì một việc như nhỏ: đem theo Giăng Mác lần nữa trong chuyến này, mà nảy ra việc tranh cải đến nỗi mỗi người đi một đường.
Ai là người bảo chứng cho PL khi không một sứ đồ, tín đồ nào tại HT Giê-ru-sa-lem tin tưởng PL? B.
Ai là người lặn lội đường xa, không ngại khó khăn để đến thành Tạt-sơ tìm cho được PL để đem ông về cùng cộng tác tại HT An-ti-ốt? B.
Ai là người băng bó vết thương, chăm sóc khi PL bị ném đá tưởng như đã chết? B.
Vậy đó mà PL lại nhất định, khăn khăn từ chối không đem Mác theo trong chuyến truyền giáo II.
TẠI SAO CHÚA LẠI ĐỂ VIỆC XẢY RA, AI ĐÚNG AI SAI?
Khi đọc qua câu chuyện này, câu hỏi đầu tiên thường là Tại sao ĐCT lại để việc này xảy ra và Ai đúng, Ai sai? Kinh Thánh không hề cho biết lý do, cũng không hề phân tích hay giải thích ai đúng ai sai.
Chúng ta đều có thể liên hệ được những lý lẽ của hai người nêu trên. Phải chăng cả hai đều được Chúa gọi và chọn để hầu việc Ngài? Đúng vậy. Phải chăng cả hai đều là người gương mẫu, trưởng thành trong Chúa? Dĩ nhiên. Phải chăng cả hai đều biết và hiểu rõ Kinh Thánh? Rõ ràng.
Vậy tại sao họ không thể đồng ý với nhau? Tại sao không thể giải hòa với nhau? Các tín đồ hội thánh thành Antioch suy nghĩ và đánh giá họ thế nào? Hội thánh hỏi sao không thể bỏ qua việc nhỏ này mà cùng tiếp tục hầu việc Chúa?
Quí vị chớ ngạc nhiên khi nghe rằng vâng ngay cả trong vòng tín đồ, ngay cả những người trưởng thành, chính chắn, tận tụy, dâng hiến cả đời cho công việc Chúa, vẫn có sự bất hòa trong nhiều vấn đề khác nhau. Cả vợ chồng, anh chị trong gia đình cũng có sự bất hòa. Trong việc nhỏ như mua xe màu gì, sơn phòng màu gì, thay thảm loại nào. Đến việc lớn như hôn nhân, công việc, nơi thờ phượng.
Nhưng đến nỗi phân rẽ nhau? Trong hôn nhân như cách ly hay ly dị. Trong thương mãi như xé bỏ hợp đồng và mỗi người đi một đường. Trong gia đình, một chia cách mà không có ngày trở lại. Trong tình bạn, một quan hệ tan vỡ không nối lại được: chúng ta mất một người bạn vĩnh viễn. Trong một hội thánh, hai nhóm người tách rời cùng nhau không có thể cùng thờ phượng chung trong cùng một hội thánh.
Ai đúng ai sai? Ai phải ai quấy? Đây là một cách nhìn bình thường của con người chúng ta.
Nhưng có thể có một góc nhìn khác, một dự tính khác của ĐCT mà chúng ta không hiểu hết. Không phải đúng sai, phải quấy nhưng cho công việc lớn và khó của Ngài.
Một học giả TU rất nổi tiếng tên A.T. Roberson viết về sự việc này như sau: Không ai có thể đổ lỗi cách chính đáng cho Ba-na-ba về việc cố cho cháu mình là Giăng Mác một cơ hội thứ hai. Cũng không thể trách Phao-lô về việc không dám dùng Mác lần nữa. Lý trí chúng ta có thể đồng ý với Phao-lô nhưng con tim và tình cảm với Ba-na-ba.
Hai đầy tớ trung tín, từng trải, kinh nghiệm, nhiệt tâm với hai người trẻ tuổi cần được huấn luyện đi hai đường. Họ vẫn tiếp tục trung tín hầu việc Chúa, và làm sáng danh Ngài.
CÁC HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN CỦA CÓ VẤN ĐỀ HIỆP MỘT
Tín đồ thường nghĩ các HT đầu tiên là những HT lý tưởng, không chổ chê trách. Tôi xin được trích dẫn bằng chứng các HT xưa cũng có những nan đề chia rẽ, thiếu sự hiệp một như HT chúng ta trong vài tháng qua. Ma quỉ sẽ dùng đủ mọi cách để phá hủy sự hiệp một trong hội thánh. Chiến lược, mưu mô này đã được thực hiện ngay với các hội thánh đầu tiên:
• Hội thánh Cô-rinh-tô.
Hỡi Anh em, tôi nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, khuyên anh em thảy đều phải đồng một tiếng nói với nhau, chớ phân rẽ nhau ra, nhưng phải hiệp một ý một lòng cùng nhau. 11 Vì, hỡi anh em, bởi người nhà Cơ-lô-ê, tôi có được tin rằng trong anh em có sự tranh cạnh. 12 Tôi có ý nói rằng trong anh em mỗi người nói như vầy: Ta là môn đồ của Phao-lô; ta là của A-bô-lô, ta là của Sê-pha, ta là của Đấng Christ. (1:1-12)
• Hội thánh Phi-líp
Vậy thì, hỡi anh em rất yêu rất thiết, là sự vui mừng và mão triều thiên cho tôi, kẻ rất yêu dấu ơi, hãy đứng vững trong Chúa. 2 Tôi khuyên Ê-yô-đi và khuyên Sin-ty-cơ phải hiệp một ý trong Chúa. 3 Hỡi kẻ đồng liêu trung tín, tôi cũng xin anh giúp hai người đàn bà ấy, nhân hai bà ấy cùng tôi đã vì đạo Tin Lành mà chiến đấu (4:1-3)
• Hội thánh Ê-phê-sô
Vậy, tôi là kẻ tù trong Chúa, khuyên anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em, 2 phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau, 3 dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh. 4 Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, như anh em bởi chức phận mình đã được gọi đến một sự trông cậy mà thôi; 5 chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp tem (4:1-5)
• Gia-cơ
Nhưng nếu anh em có sự ghen tương cay đắng và sự tranh cạnh trong lòng mình, thì chớ khoe mình và nói dối nghịch cùng lẽ thật. 15 Sự khôn ngoan đó không phải từ trên mà xuống đâu; trái lại, nó thuộc về đất, về xác thịt và về ma quỉ [3 kẻ thù chính trong cuộc chiến tâm linh!]. 16 Vì ở đâu có những điều ghen tương tranh cạnh ấy, thì ở đó có sự lộn lạo và đủ mọi thứ ác. (4:14-16)
BÀI HỌC – CHỚ ĐỂ QUÁ KHỨ GIAM CẦM HIỆN TẠI
Tôi tin chắc rằng dù sau nhiều năm tháng mỗi khi nghĩ lại cả hai đều cảm thấy bùi ngùi và hối hận. Hai lần sau này PL đề cập đến tên của người bạn thân yêu này trong thư gởi cho hội thánh Cô-rinh-tô và Cô-lô-se (1 Cor 9:6, Col 4:10) Hai thư đó được viết khoảng 6-10 năm sau khi sự chia cách này xảy ra!
Trong rất nhiều vấn đề, trở ngại, bất hòa trong đời sống chúng ta cần xác nhận rõ rằng hiếm khi, nếu có thể nói là không có, những việc này được giải quyết cách hoàn toàn thỏa đáng cho cả hai bên. Lắm khi chúng ta chỉ phải chấp nhận kết quả (hay hậu quả) sau khi đã cố hết sức để giải quyết, chứ không thể như ý mình muốn.
Tuy vậy qua sự bất hòa, chia cách này, Chúa dùng cả hai Phao-lô, Si-la và Ba-ba-na, Giăng Mác cho việc truyền bá Tin Lành. Trong ân điển Chúa sẽ dùng mọi hoàn cảnh, sự việc dù tốt xấu thế nào để hiệp lại làm ít cho những người yêu mến Ngài: Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đă định (Rôma 8:28). Điều kiện chính yếu và quan trọng ở đây là cho người yêu mến Chúa và được gọi theo ý muốn Ngài.
Tôi tin mỗi chúng ta đều có thể đồng cảm cùng cả Phao-lô và Ba-na-ba. Có lúc chúng ta lắng nghe tiếng nhỏ nhẹ, êm dịu của tình cảm, của con tim. Và có lúc chúng ta khăng khăng nhất định giải quyết vấn đề theo lý lẽ. Có lẽ một bài học là chúng ta cần cả hai, cần sự quân bình của cả con tim và lý trí.
Chúng ta cần chấp nhận sự thật trong đời sống, trong công việc Chúa là không thể hoàn toàn giải quyết mọi vấn đề, mọi khác biệt, mọi bất hòa theo ý nguyện của mình. Vì vậy PL sau này viết: Nếu có thể được, thì hăy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người. (Rô-ma 12:18) Vậy chúng ta hăy tìm cách làm nên hòa thuận và làm gương sáng cho nhau. (Rô-ma 14:19). Chúng ta chỉ có thể làm hết sức mình mà hòa thuận với mọi người. Hết sức mình có nghĩa là mỗi chúng ta đều có trách nhiệm trước Chúa sống hòa thuận. Còn việc người khác đem đến bất hòa là điều lắm khi không tránh được.
Hành động của người tin Chúa không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân, người chung quanh nhưng còn cả đến những người chưa tin Chúa. Sự bất hòa trong vòng tín hữu có thể đem đến danh xấu cho Chúa, cho hội thánh.
[Câu chuyện của Tolstoy về 3 câu hỏi của vua]. Để nhắc rằng thời gian quan trọng nhất là hiện tại. Các anh chị em hiện diện trong buổi thờ phượng hôm nay quan trọng nhất trong công việc Chúa tại HT. Quyết tâm truyền giảng TL và động viên, khích lệ, nâng đỡ anh chị em mình trong HT là việc làm quan trọng nhất.
Cũng có thể một bài học nữa là như lời Sô-lô-môn dạy: Ta xây lại thấy dưới mặt trời có kẻ lẹ làng chẳng được cuộc chạy đua, người mạnh sức chẳng được thắng trận, kẻ khôn ngoan không đặng bánh, kẻ thông sáng chẳng hưởng của cải, và người khôn khéo chẳng được ơn; vì thời thế và cơ hội xảy đến cho mọi người. (Truyền Đạo 9:11)
Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhân từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, 13 nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy. 14 Nhưng trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành (binds them all together in perfect unity). (3:12-14)
Trong Phi-líp 3:12 PL viết: Ấy không phải tôi đă giựt giải rồi, hay là đă đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đương chạy hầu cho giựt được, vì chính tôi đă được Đức Chúa Jêsus Christ giựt lấy rồi. Hỡi anh em, về phần tôi, tôi không tưởng rằng đă đạt đến mục đích, nhưng tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ.
