Mắt Của Thân và Mắt Của Lòng – Mãnh Lực Của Vật Chất
Trong bài giảng hôm nay và tuần tới tôi muốn dùng lời Chúa để cùng qv suy nghĩ về quan hệ của mỗi chúng ta với hai thế giới: vật chất và tâm linh. Thế giới vật chất có thể nhận biết qua mắt của thân và thế giới tâm linh chỉ có thể nhận biết qua mắt của lòng. Mắt của thân tập trung vào thế giới vật chất hữu hình; nhưng chỉ với mắt của lòng chúng ta mới có thể thấy được, hiểu được thế giới tâm linh, vô hình nhưng rất thật. Mọi người đều có mắt của thân và từ khi chào đời từ lòng mẹ đã mở mắt cho đến khi qua đời. Tuy nhiên, KT cho biết một người dù có sống thở, nói năng, đi lại, vẫn mở mắt của thân nhưng mắt của lòng lại bị đóng kín. Và theo lời KT dạy mắt của lòng chỉ được mở ra bởi ĐTL của ĐCT cho những ai tin nhận ĐCJC.
Chúng ta đang sống trong thế giới vật chất. Chúng ta nhận biết được mọi vật thể chung quan do 5 giác quan: mắt nhìn (thị giác), tai nghe (thính giác), mũi ngữi (khứu giác), tay sờ (xúc giác), lưỡi nếm (vị giác). Theo thời gian mọi vật chất đều thay đổi và trở nên cũ xưa, già yếu. Bên cạnh thế giới vật chất này, chúng ta cũng tin vào một đời sống, thế giới vô hình nhưng rất thật. Như tâm linh con người, là điều không ai thấy được nhưng là điều rất thật. KT cũng khẳng định về thế giới tâm linh này. PL viết: bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy (2 Cô-rinh-tô 4:18)
Dù người tin Chúa nghe, biết, hiểu về đời sống, thế giới tâm linh, thậm chí tin là có thật nhưng cám dỗ, mãnh lực của thế giới vật chất vô cùng mạnh mẽ chi phối, cản trở, thậm chí đưa dẫn sang một con đường khác, con đường rộng dẫn đến sự hư mất như ĐCJC đã dạy: Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít (Ma-thi-ơ 7:13-14).
Qv có thể nhớ về hai bài giảng này qua 7 từ bắt đầu với vần T. 4T về mắt của thân: tình, tài, tiên, và tiền; 2T về mắt của lòng: tâm và Thiên (thập giá) và 1T chấm dứt, kết thúc 4T về mắt của thân: tử.
Mắt của thân để ý đến thế giới vật chất với bốn T mà mọi người thường xuyên nhắc đến và mong có được. Bốn T đó là tình, tài, tiên và tiền. Thế giới vật chất với khát vọng về 4T này rồi sẽ chấm dứt vì một chữ T khác là tử hay sự chết. Đây là chữ T mà mọi người đều ngại nhắc đến, ít muốn nghe và không muốn nghĩ đến, nhất là khi xảy đến cho mình. Không ai có thể đem theo bất cứ điều gì trong 4T khi qua đời, khi tử, khi chết. Giàu có đến mấy, xinh đẹp đến mấy, tài giỏi đến mấy, tình cảm đến mấy, thì sự chết cũng sẽ lấy đi tất cả những điều này: con mắt của thân rồi một ngày sẽ phải nhắm lại khi qua đời. Nhưng mắt của lòng vẫn còn cho đến đời đời với những người được cứu.
Chúng ta có thể so sánh quan hệ, trọng tâm của hai mắt như sau [slide]: Mắt của thân: 1) Một thế giới, một cuộc sống duy nhất: vật chất hữu hình; 2) Đời sống vật chất là ưu tiên và quan trọng hơn hết; 3) Một sự chết về thể xác. Mắt của lòng: 1) Hai thế giới, hai đời sống: vật chất hữu hình và tâm linh vô hình nhưng rất thật; 2) Đời sống tâm linh là ưu tiên và quan trọng hơn tất cả vật chất; 3) Ba sự chết
Tình hay tình yêu, tình cảm là điều hết sức cần thiết và quan trọng. Không ai sống mà lại không khao khát tình yêu; cũng chính vì vậy mà đây là đề tài phổ thông nhất trong sách báo, phim ảnh, âm nhạc. Tài và trí là hai điều mà mọi người đều ao ước bởi vì tài và trí đi liền với thành công, đỗ đạt trong việc học hành, thăng tiến trong đường danh lợi.
Tiên nói về sắc đẹp. Sắc đẹp là chìa khóa vàng có thể mở mọi cánh cửa. Tôi có một bài viết trên báo Hướng Đi về ảnh hưởng của sắc đẹp trong đời sống.
Về sắc đẹp: Bà Sa-rai đã 65 tuổi (1/3 tuổi đời), mãi đến 89 vẫn còn đẹp (20)
Những người phụ nữ đẹp trong KT: Sa-ra (STK 12:11-14); Ra-chên (29:17 – 2 lần -> rất rất đẹp); A-bi-gai (1 Sa 25:3); Tha-ma (2 Sa 13:1); Bết-sê-ba (2 Sam 11:2); Ê-xơ-tê (2:7);
Ba người phụ nữ đầu tiên ngoài bà E-va được KT đề cập đến là A-đa và Si-la, vợ và của Lê-méc, đời thứ 7 từ A-đam dòng Ca-in, và con gái là Na-a-ma (STK 4:19, 22). A-đa có nghĩa là trang sức, đẹp đẽ, và Si-la có nghĩa là đồ che, như đồ che mặt, che tóc để làm đẹp. Na-a-ma nghĩa là đáng yêu, sắc đẹp. Ba tên này cho thấy sự chú ý và quan trọng của sắc đẹp, trang sức bên ngoài của người phụ nữ, đặc biệt dưới mắt người nam từ thời Lê-méc. Đến thời Nô-e thì tiêu chuẩn duy nhất để người nam chọn chỉ là sắc đẹp như viết trong STK 6:2 Các con trai Đức Chúa Trời thấy các con gái loài người xinh đẹp bèn cưới làm vợ những người họ chọn.
Dù biết rằng “cái nết đánh chết cái đẹp”, chúng ta vẫn hay chấp nhận và đánh giá người chung quanh theo diện mạo, nhan sắc bên ngoài hơn là theo tính hạnh bên trong. Dù nói gì đi nữa, thông thường “cái vỏ” bên ngoài vẫn được nâng niu và quí trọng hơn “cái ruột” bên trong.
Bài nhạc Kỷ Vật Cho Em của nhạc sĩ Phạm Duy có những lời sau: Anh trở về đời em tan vỡ. Anh trở về người đã cụt chân. Em một chiều dạo phố mùa xuân bên người yêu tật nguyền chai đá! Lời nhạc nói lên một hiện thực cay đắng của người chiến sĩ tật nguyền sau chiến tranh phải đối diện khi trở về với người mình yêu. Sự xấu xí, tàn tật bên ngoài khiến tình cảm không còn như ngày xưa nào đó. Lý do? Vì người yêu của anh không chấp nhận được cái thân thể tật nguyền cho dù tâm hồn bên trong có nguyên vẹn như xưa.
Hơn năm mươi năm trước đây, hai bác sĩ Anh Quốc F.W. Masters và D.C. Greaves đã viết một bài nghiên cứu trong Tạp Chí Giải Phẩu Chỉnh Hình Anh Quốc (British Journal of Plastic Surgery) có tựa đề là Mặc Cảm Quasimodo (Quasimodo Complex). Tựa bài nghiên cứu dựa vào tên của nhân vật Quasimodo, một người gù xấu xí trong tiểu thuyết nổi tiếng Người Gù Nhà Thờ Notre Dame của văn hào Pháp Victor Hugo.
Trong bài viết, tác giả tường thuật lại cuộc nghiên cứu của họ về 11,000 tù nhân đã phạm các tội giết người, hãm hiếp và những tội phạm kinh khiếp khác. Họ so sánh tỉ lệ của số tù nhân có những khuyết tật và dị dạng bên ngoài với dân số bình thường trong xã hội. Theo tác giả, khoảng 20.2% toàn dân số trong xã hội có những khuyết tật, dị dạng như tai vểnh, mủi khuyết, xức môi, thẹo mặt vì mụn, mắt xết, mắt lé... Nhưng trong số 11,000 tù phạm, tỉ lệ này lên đến 60%.
Masters và Greaves kết thúc bài nghiên cứu với các câu hỏi có thể tóm tắt như sau. Phải chăng số tù nhân này đã bị ngược đãi, chê khinh khi lớn lên vì những khuyết tật, dị dạng của họ? Phải chăng chính vì sự ngược đãi và khinh khi này dẫn đến sự uẩn ức nội tâm rồi dần đưa đến những hành động phạm pháp?
Bài viết đã đưa ra một giả thuyết về sự liên hệ trực tiếp giữa diện mạo, nhan sắc bên ngoài với sự đối xử của những người chung quanh. Hầu hết mọi người đều thiên vị người đẹp hơn người xấu. Người xấu thường bị bạc đãi hơn người đẹp.
Giả thuyết này cũng đã được xác định qua một chương trình nghiên cứu khác của hai nhà tâm lý gia Hoa Kỳ Ellen Berscheid và Elaine Walster. Trong bài viết Sắc Đẹp và Kẻ Ưu Tú (Beauty and The Best) đăng trong Tạp Chí Tâm Lý Ngày Nay (Psychology Today) tháng 03, 1972, hai tâm lý gia này đã nhận xét những điều sau đây:
1) Diện mạo bên ngoài của các em học sinh ảnh hưởng đến điểm học.
2) Trẻ em xấu thường bị nghi ngờ là không thành thật bằng trẻ em đẹp. Khi người lớn được cho xem hình của một số học sinh và được hỏi để chỉ ra học sinh nào có thể gây lộn xộn trong lớp từ các hình, họ thường chọn hình của các em không dễ thương hay không xinh xắn.
3) Nếu phạm cùng một lỗi, trẻ em xấu thường bị phạt nặng hơn trẻ em xinh đẹp, dễ thương.
4) Trẻ em xinh đẹp thường có nhiều bạn và được chuộng bởi bè bạn, thầy cô hơn các em xấu.
Thực tế đời sống cũng khẳng định kết quả của hai cuộc nghiên cứu trên. Sắc đẹp, diện mạo bên ngoài là đồng tiền vàng quí giá nhất trong quan hệ giữa người và người. Có đồng tiền vàng nầy hầu như người ta muốn mua gì cũng được!
Theo định luật tất yếu của đời sống, thân thể chúng ta hay “cái vỏ” bên ngoài, ngày theo ngày sẽ yếu ớt, bệnh tật, già nua hơn với thời gian. Dù giữ gìn kỷ lưỡng đến mấy, nâng niu đến mấy, không ai có thể làm trái lại định luật này. Chuyện cải lão hoàng đồng chỉ có thể xảy ra trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung qua nhân vật Châu Bá Thông hay trong mộng tưởng của các nhà bác học làm việc trong phòng thí nghiệm chứ chưa hề xảy ra trong thực tế cuộc đời!
Người ta có thể chích Botox để giữ da mặt không nhăn nheo trong vài tháng vài năm nhưng rồi định luật tất yếu của tuổi già cũng sẽ thắng mọi loại thuốc Botox mạnh nhất! Sự tương phản giữa hai hình trẻ và già bên dưới của nữ tài tử Pháp thượng thặng Brigitte Bardot cho thấy rõ định luật tất yếu của tuổi già.
Từ một thiếu nữ xinh đẹp nhất nhì thế giới khi còn trẻ, thời gian đã cướp mất sắc đẹp cùng tuổi xuân của nữ tài tử Bardot khiến bà trở nên một phụ nữ già nua. Hễ một người càng xinh đẹp, thông minh, tài giỏi bao nhiêu khi còn trẻ, thì nỗi lo sợ và sự nuối tiếc khi mất đi những điều này lúc tuổi già càng trầm trọng bấy nhiêu. Dù lo sợ, nuối tiếc đến mấy, không ai có thể giữ mãi dáng vẽ thời thanh xuân của mình. Thời gian chính là kẻ thù tàn nhẫn, nghiệt ngã nhất của mọi sắc đẹp.
Chúng ta cám ơn Chúa vì Ngài không nhìn và xét con người theo diện mạo, sắc đẹp bề ngoài, nhưng Chúa nhìn sâu vào tấm lòng: Nhưng Đức Giê-hô-va phán với Sa-mu-ên: “Đừng xét theo diện mạo và vóc dáng cao lớn của nó, vì Ta đã loại bỏ nó. Đức Giê-hô-va không xem theo cách loài người xem; loài người xem bề ngoài, nhưng Đức Giê-hô-va nhìn thấy trong lòng.” (1 Sa-mu-ên 16:7 – BHĐ)
Và tiền, tiền chi phối con người; tiền thống trị thương mãi, kinh tế; tiền ảnh hưởng đến chính trị và thậm chí đến cả tôn giáo. Chúng ta đều nghe, "có tiền mua tiên cũng được". Thành ngữ Do Thái cũng có câu tương tự, "tiền có thể bắt cả các thần làm việc". Có tiền là có đầy đủ vật chất bởi vì tiền mua được mọi thứ vật chất trong đời sống vật chất này! Vậy khi nói đến tiền, cám dỗ, mãnh lực của đồng tiền thì tôi hàm chung một ý về vật chất, về cám dỗ, mãnh lực của vật chất.
Đường rộng là con đường theo đuổi 4 T mà quên đi 1 T vô cùng quan trọng. 4T người theo đường rộng chạy đuổi là tình, tài, tiên và tiền, nói tóm lại là vật chất. 1T vô cùng quan trọng mà người theo đường rộng thường tránh nói đến là tử.
Lời Kinh Thánh xác định rõ mãnh lực của vật chất, đặc biệt của tiền của. Vua Sô-lô-môn viết trong TĐ 10:19, "người ta bày tiệc đặng vui chơi; rượu khiến cho đời vui; có tiền bạc thì ứng cho mọi sự"; một bản dịch khác, "tiền là câu trả lời cho mọi việc". Ai có thể phủ nhận mãnh lực của đồng tiền trong cuộc sống? Có tiền người ta sống tiện nghi, dư dật, sống nhàn nhả, thong dung. Tiền giúp mình mua sắm điều lòng mình mong muốn, mắt mình ao ước.
Chính vì vậy, người ta có thể sẵn sàng làm mọi việc, thậm chí phản bội người thân yêu để được tiền. Như những câu chuyện trong Kinh Thánh. Nữ nhân Đa-li-la bán người tình Sam-sông cho kẻ thù Phi-lít-tin với giá 1100 miếng bạc. Một môn đồ của Đức Chúa Jê-sus Christ tên Giu-đa đã nhận bán thầy mình vì 30 miếng bạc, rẽ hơn bao nhiêu lần Đa-li-la bán Sam-sông! Ngay cả những người thầy tôn giáo Pha-ri-si cũng chê cười Đức Chúa Jê-sus Christ khi Ngài dạy rằng con người không thể vừa làm tôi tớ cho Đức Chúa Trời, lại vừa làm tôi tớ cho tiền bạc. Lý do là vì họ là kẻ tham tiền! (Lu-ca 16:14) .
Những lời dạy của Kinh Thánh về sự quyến rũ, mãnh lực của vật chất, tiền bạc, không chỉ dựa vào lý thuyết xa vời nào đó. Kinh Thánh hiểu thấu lòng dạ con người, đầy những khao khát, ước ao, tham muốn về tiền của, tài vật trong đời sống dưới trời này. Lời dạy trong Kinh Thánh gắn liền với thực tế về con người, về mãnh lực đồng tiền và những cám dỗ con người đối diện trước mãnh lực đó.
Cám dỗ, mãnh lực của tiền của mạnh mẽ đến nỗi PL phải cảnh cáo Ti-mô-thê: Còn những kẻ ham làm giàu bị rơi vào vòng cám dỗ, mắc vào cạm bẫy và nhiều dục vọng điên dại và tổn hại, là những điều làm người ta nhảy vào chỗ hư hoại, diệt vong. 10 Mê tham tiền bạc là cội rễ mọi điều gian ác; cũng vì đeo đuổi nó mà một số người đã lầm lạc lìa bỏ đức tin, và bản thân họ bị nhiều nỗi khổ đau xâu xé. (1 Ti-mô-thê 6:9-10 – BDM)
Tuy nhiên KT không dạy vật chất, tiền bạc là điều tội lỗi, xấu xa. Như tôi có nghe tín đồ lâu năm nói: mục sư phải nghèo mới đúng như KT dạy. Không nơi nào trong KT dạy như vậy cả. KT dạy rằng tiền của tự nó không phải là điều xấu xa, tội lỗi nhưng chính sự tham lam tiền của, lòng ham muốn không đáy của con người mới là nguyên cớ của những điều xấu xa, tội lỗi. I Timô-thê 6:10 viết, 10 Mê tham tiền bạc là cội rễ mọi điều gian ác; cũng vì đeo đuổi nó mà một số người đã lầm lạc lìa bỏ đức tin, và bản thân họ bị nhiều nỗi khổ đau xâu xé."
Kinh Thánh dạy "chớ tham tiền; hãy lấy điều mình có làm đủ rồi" (Hê-bơ-rơ 13:5). Sô-lô-môn trong Truyền Đạo 5:10 thì dạy rằng, Người ham tiền bạc, bao nhiêu tiền bạc cũng không đủ, Người ham của cải, lợi nhuận mấy cũng chẳng vừa lòng. Đấy cũng là phù vân, hư ảo.
Sự tham lam tiền bạc mới chính là cội rễ mọi điều ác. Trộm cướp đập phá nhà, hãm hại người để đoạt của. Nhưng hầu hết chúng ta đều biết hay nghe về những người liêm chính khi lượm được số tiền hay của vật lại đem trả lại cho người mất. Cũng là tiền, là của nhưng kẻ tham tìm đủ mọi cách để có được, còn người tốt thì dù có chật vật vẫn không đánh đổi với danh dự, phẩm giá. Kinh Thánh không hề dạy rằng giàu có đồng nghĩa với tham lam.
Nhiều nhân vật trong Kinh Thánh rất giàu có. Như Abraham là người được Đức Chúa Trời gọi rời khỏi quê hương đến vùng đất xa, nơi Chúa thiết lập lời giao ước và ban ơn phước cho ông cùng hậu tự. Như Gióp, một nhân vật tiêu biểu cho sự hoạn nạn, thử thách vẫn vững lòng tin cậy Đức Chúa Trời. Như Giô-sép Arimathê người xin xác Đức Chúa Jê-sus Christ để vào mộ. Hay như bà Ly-đia làm nghề bán hàng vãi sắc tía cho những người quí tộc, chức sắc là người trung tín với Chúa và với Hội Thánh Ngài. Các nhân vật này dù giàu có nhưng không tham lam. Họ dùng tiền của để trợ giúp người túng thiếu, để làm sáng danh Đức Chúa Trời là Đấng ban cho họ mọi điều trong cuộc sống, để phát triển công việc Chúa trên đất. Họ ý thức rằng tiền của là điều Đức Chúa Trời ủy thác cho họ quản lý, chứ không phải để làm chủ. Kinh Thánh dạy rằng chúng ta chỉ là người quản lý tài của Chúa ban; Đức Chúa Trời mới là chủ thật. Nhưng thường thì chúng ta muốn mình làm chủ rồi "mượn" Đức Chúa Trời làm quản lý để đảm bảo tiền của không bị thất thoát, mất mát!
MẮT CỦA THÂN LUÔN LUÔN MUỐN ĐIỀU NGƯỜI KHÁC CÓ
Cám dỗ, mãnh lực chính yếu của vật chất, tiền của là khi chưa có chúng ta muốn có điều người khác có, và khi có rồi chúng ta muốn có hơn điều người khác có.
Văn chương dân gian Việt chúng ta có bài về thằng bờm và phú ông. Bờm là một đứa bé trai bình thường nếu không gọi là tầm thường. Bờm không sinh ra trong một gia đình chức tước, quyền thế, cũng không có gia tài của cải. Bờm chỉ có một vật hết sức đơn sơ là cái quạt mo. Nhân vật kia là phú ông, một người giàu có, bề thế, chức sắc, có nhà cao cửa rộng, có bò trâu, ruộng đất công rẫy, có kẻ hầu người hạ. Bài thơ theo thể lục bát như sau:
Thằng bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng : bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè.
Bờm rằng : bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi ba bè gỗ lim.
Bờm rằng : bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi
Bờm rằng : bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi nắm xôi, bờm cười.
Tại sao phú ông lại muốn đổi ba bò chín trâu, ao sâu đầy cá, ba bè gỗ lim quý giá hay con chim đồi mồi đắt tiền để lấy cái quạt mo tầm thường, chẳng đáng chi? Có người bình luận rằng phú ông là người khôn ngoan, từng trải, biết Bờm là một đứa bé ngây thơ, chất phát, không hiểu được ý nghĩa hay giá trị của các vật quý nên hắn nêu lên những thứ đổi đắt tiền đó để lừa cậu bé trai nghĩ rằng quạt mo là vật quý. Kẻ khác thì cho rằng Bờm là một cậu bé thông minh nên không bao giờ tin lời của một người điêu ngoa như phú ông có thể rộng lượng đến độ lấy những vật quý giá mà đổi lấy một vật tầm thường như cái quạt mo. Vì vậy mà Bờm cứ khăng khăng từ chối những thứ đổi quý báu.
Tôi thiết nghĩ câu chuyện này còn nói lên một ý khác quan trọng hơn: là về lòng ham muốn những điều mình không có hay chưa có và lòng luôn mong muốn được điều người khác có. Người HK có câu nói: Cỏ nhà người lân cận luôn xanh hơn cỏ nhà mình. Đối với một số người, dù họ có nhiều vật chất đến mấy vẫn không đủ, vẫn còn thấy thiếu, vẫn không vui thoả. Đây là hình ảnh của phú ông. Dù đã giàu có nức trời nhưng khi thấy cây quạt mo tầm thường của một cậu bé vẫn ham muốn đến nỗi mặc cả bằng mọi giá cho được. Tương phản với người phú ông giàu có nhưng không thoả lòng là Bờm, một cậu bé hồn nhiên, tư lự. Cậu bé chơi đùa vui vẻ với cái quạt mo tầm thường, rẻ tiền. Sau đó nở nụ cười ngây thơ, mộc mạc khi được đổi quạt để lấy một nắm xôi ăn no bụng. Cho dù xôi là thức ăn của người bình dân, không là cao lương hay mỹ vị. Dù chỉ có hai thứ tầm thường như quạt mo và nắm xôi nhưng Bờm luôn vui vẻ, thoả lòng. Còn phú ông dù có biết bao nhiêu tiền của, vẫn không thấy thoả lòng với những điều mình có.
Mãnh lực của vật chất không phải chỉ với những người thiếu thốn, nghèo khó nhưng cả với những người đầy đủm, giàu có như phú ông. Không ai có thể phủ nhận được mãnh lực của vật chất, của đồng tiền, của tài sản, của vật trong cuộc sống. Nhưng hơn hết là tiền bạc. Một lý do rất cụ thể: tiền của đem lại cho chúng ta mọi tiện nghi, vật chất, mua cho chúng ta thế lực, địa vị. Tiền mở cửa cả văn phòng của các bậc có chức sắc, quyền thế trong chính quyền. Danh sách của những điều vật chất mà tiền của có thể đem đến cho chúng ta rất dài, đếm hoài như không hết. Đến nỗi tục ngữ ta có câu, "Có tiền mua tiên cũng được!" Thành ngữ Do Thái cũng có câu tương tự, "tiền có thể bắt cả các thần làm việc". Và chắc rằng vô số các dân tộc khác đều có những thành ngữ, tục ngữ tương tự nói về giá trị, về mãnh lực của đồng tiền.
Chúng ta cám ơn Đức Chúa Trời đã ban cho công việc làm để kiếm tiền, cho một cuộc sống vật chất tiện nghi, đầy đủ, thậm chí dư dã. Tuy nhiên tiền không phải là tất cả của đời sống và cũng không mua được tất cả. Trong bài chia xẻ này, tôi xin nêu ra ba điều vô cùng quan trọng và cần thiết mà tiền không mua được. Trái lại lắm lúc tiền còn là trở ngại, gánh nặng cho ba điều này. Ba điều vật chất, tiền bạc không mua được là được hạnh phúc, bảo đảm bình an (không tai họa) và được sự sống đời đời.
VẬT CHẤT KHÔNG MUA ĐƯỢC NIỀM VUI, SỰ THỎA LÒNG
Vật chất, tiền của không mua được niềm vui, hạnh phúc. Vua Sô-lô-môn là người giàu có tột đỉnh trong thời vua sinh sống. Lẽ ra vua phải vui thỏa, hài lòng với đống tiền của mình, thế nhưng vua lại viết trong Truyền Đạo 5:10-11 Người ham tiền bạc, bao nhiêu tiền bạc cũng không đủ, Người ham của cải, lợi nhuận mấy cũng chẳng vừa lòng. Đấy cũng là phù vân, hư ảo. 11 Của cải càng nhiều, Càng lắm người ăn. Người có của được lợi ích gì hơn, Ngoài niềm vui ngắm nhìn của cải? (BDM)
Có hai niềm vui, hạnh phúc mà chúng ta có thể nhìn thấy. Niềm vui đến bởi sự thoả mãn nhất thời khi đời sống chúng ta tiện nghi, đầy đủ, khi thể xác mạnh khỏe, hay trẻ trung. Khi hoàn cảnh thay đổi, niềm vui hay hạnh phúc này cũng đổi thay và biến mất. Niềm vui khác không tùy thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài. Nó chất chứa trong lòng với sự bình an. Trong những cơn phong ba bảo tố của đời sống, hạnh phúc này vẫn tồn tại và có thể càng mạnh mẽ hơn. Dù tiền của có thể mua được loại hạnh phúc nhất thời nhưng không thể mua được hạnh phúc bền vững nội tâm.
Tiền mua được nhà cửa nhưng không mua được hạnh phúc gia đình. Mua được thuốc men nhưng không mua được sức khỏe; mua được giường nằm nhưng không mua được giấc ngủ ngon. Mua được chức vị nhưng không mua được sự kính trọng. Mua được sách vở nhưng không mua được kiến thức; mua được cả máu nhưng không mua được sự sống.
Vua Sô-lô-môn nhận xét vô cùng chính xác, Người làm công lao nhọc, dù ăn ít hay nhiều, Có được giấc ngủ ngon. Nhưng người giàu có dư dả Lại lo lắng ngủ không yên. 13 Tôi thấy một hoàn cảnh đau thương: Một người giàu có kia chất chứa của cải, phòng khi bất trắc, 14 Nhưng gặp chuyện chẳng may, tài sản tiêu tan. Người có con cái, Song không còn gì để lại cho con. (TĐ 5:12-14 – BDM) Có một tai nạn dữ mà ta đã thấy dưới mặt trời: ấy là của cải mà người chủ dành chứa lại, trở làm hại cho mình.
Có bao nhiêu người chúng ta biết tuyên bố rằng, "tôi có đủ rồi, tôi giàu đủ rồi!" Trái lại nếu hỏi bao nhiêu tiền của thì đủ, bao nhiêu làm cho chúng ta thỏa mản, thì câu trả lời thông thường, "không nhiều, chỉ thêm một chút nữa!" Chỉ khổ là tháng tới hay năm tới khi hỏi lại, câu trả lời vẫn như nguyên, "không nhiều, chỉ thêm chút nữa!" Chính vì tiền của mua được cho chúng ta quá nhiều, quá nhiều vật chất trong đời nên nó thu hút chúng ta như nam châm hút sắt, như con bạch tuộc khổng lồ với hằng chục vòi vây quấn nạn nhân.
Vật chất, tiền của như nước biển mặn, càng uống lại càng khát. Khi chạy đuổi để kiếm thêm tiền, thì giờ đâu, sức lực đâu, tâm trí đâu mà chúng ta có cho người thân yêu huống chi đến những người lân cận. Thậm chí có người trở nên cô độc hay cay đắng vì lòng hoài nghi, đố kị, ghen ghét với người quanh mình chỉ vì sự chạy đua để xem ai giàu có hơn ai. Thấy người ta có xe Lexus mình muốn có Mercedes; thấy người có nhẫn ½ carat, phải rán cho được 1 carat; thấy nhà người 4 phòng, lại muốn căn 5 phòng với một phòng chơi. Không phải sự chạy đuổi nào cũng lộ liễu như vậy. Lắm lúc chúng ta so sánh với nhau một cách kín đáo, tế nhị hơn nhưng nói cho cùng động cơ mạnh nhất của cuộc chạy đuổi về vật chất, tài của vẫn là sự so sánh, là lòng cạnh tranh, ganh tị với người quanh ta. Và khi sống với động cơ, mục đích đó thì làm sao có sự vui thỏa, hạnh phúc được? Bởi vì luôn luôn có người giàu hơn, thành công, phát đạt hơn chúng ta. Thật đúng như Đức Chúa Jê-sus Christ đã dạy, "Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó" (Ma-thi-ơ 6:21).
Một lần Mục sư tiến sĩ Billy Graham cùng vợ là bà Ruth Graham đến thăm viến một hòn đảo tại vùng biển . Một trong những người giàu có nhất trên thế giới mời hai người đến dùng bửa ăn trưa với ông trong một biệt thự đồ sộ, lộng lẫy biệt lập trên hòn đảo giữa biển khơi. Người tỉ phú ấy 75 tuổi ngoài và theo lời Mục sư Graham, trong suốt bửa ăn ông như nghẹn ngào muốn khóc. Ông nói với hai vợ chồng ông bà mục sư Graham, "Tôi là người đau khổ nhất trên thế gian. Ngoài kia là thuyền du ngoạn. Tôi có thể đi bất cứ nơi nào trên thế giới tôi muốn. Tôi có máy bay và trực thăng riêng. Tôi có tất cả mọi điều tôi muốn để làm cho hạnh phúc. Tuy vậy, tôi lại đau khổ". Ông bà mục sư Graham an ủi người tỉ phú và cầu nguyện với ông. Mục sư Graham giải thích cho ông về sự cứu rỗi và sự bình an trong Đức Chúa Jê-sus Christ. Sau đó hai người trở về căn phòng nhỏ họ mướn trên đảo. Chiều hôm đó, một mục sư của một Hội Thánh địa phương gọi họ. Người mục sư đó cũng khoảng 75 tuổi. Ông là người góa vợ và ngoài việc chăm sóc Hội Thánh, mục sư dành thời gian để chăm sóc cho hai người chị liệt bại. Tiến sĩ Billy Graham viết, "Ông gợi tôi nhớ về hình ảnh của một con dế, luôn luôn nhảy từ nơi này đến nơi khác, đầy sự phấn khởi và tình yêu thương dành cho Đức Chúa Trời và cho người lân cận". Người mục sư nói với với ông bà Graham với nụ cười, "Tôi không có đến hai pounds (độ 6 dollars) nhưng tôi là người hạnh phúc nhất trên đảo này". Khi ra về, Mục sư Graham hỏi vợ, "Em nghĩ xem ai là người giàu có hơn?" Cả hai người và chúng ta đều biết câu trả lời.
Vật chất đem lại nhiều tiện nghi cho đời sống. Nhưng vật chất cũng gây nên nhiều áp lực (stress) cho đời sống. Càng có nhiều tiền của, vật chất, càng thêm nhiều trách nhiệm, nhiều lo lắng, nhiều bất an. Người làm thợ lãnh ít tiền, sợ bị layoff hay bị đuổi nhưng không có những cái lo triền miền, mỗi ngày như người làm chủ. Phải chăng đúng như lời Sô-lô-môn trong 5:12, "Giấc ngủ của người làm việc là ngon, mặc dầu người ăn ít hay nhiều; nhưng sự chán lắc làm cho người giàu không ngủ được".
Một lý do khác vật chất không mua được hạnh phúc. Vật chất không mua được tình yêu, tình bạn, tình thân quyến. Và tình cảm là điều quan trọng hơn vật chất. Trong một xã hội thiếu thốn về tài của, người ta tìm sự an ủi và ý nghĩa cho đời sống qua quan hệ gia đình, qua tình thân của hàng xóm, láng giềng và qua nguồn sống nơi tôn giáo. Nhưng trong xã hội dư dật về vật chất, trọng tâm của đời sống dần dà chỉ chú vào tiền của, vật chất. Quan hệ, tình thân, và tôn giáo rồi trở nên điều thứ phụ. Tiền mua cho chúng ta trăm vạn thứ nhưng làm thể nào có thể mua được một tình yêu thương không vụ lợi, sẵn sàng hy sinh như tình nghĩa vợ chồng keo sơn gắn bó, hay như tình thương yêu của cha mẹ cho con cái.
VẬT CHẤT KHÔNG BẢO ĐẢM BÌNH AN
Tiền không bảo đảm đem lại hạnh phúc. Tiền cũng không bảo đảm bình an trong cuộc sống, đem lại cho chúng ta một cuộc sống không hề có tai ương, khổ nạn. Sô-lô-môn viết trong 5:13-14, Có một tai nạn dữ mà ta đã thấy dưới mặt trời: ấy là của cải mà người chủ dành chứa lại, trở lại làm hại cho mình, hoặc vì cớ tai họa gì, cả của cải này phải mất hết; nếu người chủ sanh được một con trai, thì để lại cho nó hai tay không. Hai điều bất ngờ, ngoài dự tính của chúng ta mà Sô-lô-môn nêu ra trong câu Kinh Thánh trên sẽ xảy ra cho tất cả mọi người, dù đó là người thật giàu có.
Biết bao nhiêu người lao công, lao lực mất ăn, mất ngủ, đổ mồ hôi, cả nước mắt để tạo dựng một gia tài, sự sản. Đến khi được rồi lại sinh ra đau bệnh bất ngờ không hưởng được bông trái của công khó nhọc mình đã bỏ ra. Có người làm bao nhiêu thì bị con cái tiêu phá tan hoang bấy nhiêu. Ai có thể tránh được tai nạn, những sự việc không bao giờ dự tính trước như "vì cớ tai họa gì, cả của cải này phải mất hết". Một vụ ly dị, một lần bị trộm cắp, một cơn bảo lớn, một thay đổi lớn của thị trường chứng khoáng, hay một căn bệnh hiểm nghèo có thể thiêu hủy tất cả gia tài của chúng ta trong một giây phút.
Đời sống luôn có những bất ngờ để nhắc nhở chúng ta rằng Đức Chúa Trời là chủ của đời sống, chứ không phải là tiền rừng bạc biển. Mua gì thì có thể được nhưng chưa một người nào có thể mua được một cuộc sống hoàn toàn tránh khỏi những tai họa thiên nhiên, những tai nạn do mình hay do người gây ra.
Hầu hết tất cả chúng ta đều có bảo hiểm. Tất cả bảo hiểm đều nhằm mục đích để bảo vệ chúng ta khi tai nạn bất ngờ xảy đến. Bảo hiểm sức khoẻ giúp chúng ta trả tiền bác sĩ, bệnh viện, chi phí chửa trị khi có bệnh hoạn. Bảo hiểm xe cộ, nhà cửa trả cho chúng ta khi có tai nạn lưu thông hay khi nhà cửa bị trộm cướp hay hư hại vì thiên tai. Bảo hiểm nhân thọ phòng khi chúng ta gặp tai nạn trầm trọng mất đi phần thân thể hay qua đời đột ngột. Sự cần thiết của bảo hiểm là một bằng chứng rằng tai nạn bất ngờ có thể sẽ xảy ra lúc nào không biết trước trong cuộc đời chúng ta. Nếu trong đời sống dưới ánh mặt trời này không bao giờ có tai nạn thì có ai cần đến bảo hiểm.
Dù tiền của có thể đem lại hạnh phúc nhất thời qua những cuộc vui chơi thoả mãn thể xác, dục vọng, nhưng không có tiền của nào có thể bảo đảm một cuộc sống không bao giờ có tai ương, khổ nạn. Thậm chí người giàu có còn gặp một tai nạn mà người ít của không gặp như vua Sô-lô-môn nhận xét chính xác, "Có một tai nạn dữ mà ta đã thấy dưới mặt trời: ấy là của cải mà người chủ dành chứa lại, trở làm hại cho mình" (5:13) . Một ngôi nhà nhỏ, tầm thường không cần có hệ thống báo động đắt tiền. Nhưng một ngôi biệt thự sang trọng thì cổng kín, tường cao với hệ thống báo động tinh vi, hiện đại đắt tiền thông báo trực tiếp cho cảnh sát khi có báo động. Vì lòng tham tiền của mà người ta trộm cắp, lường gạt, hãm hại lẫn nhau. Và cũng bởi sự dư dật về tiền của mà người ta trở nên tráng táng, trụy lạc làm hại đến chính bản thân, làm xấu danh đến cả gia đình như các tài tử, minh tinh trẻ tuổi.
Tiền của không mua được sự bình an trong tâm hồn, mua được hạnh phúc bền vững. Tiền của không mua được một đời sống miễn tai nạn. Tiền của chắc chắn không bao giờ mua được sự cứu rỗi, một sự sống đời đời trên nước thiên đàng. Đức Chúa Jê-sus Christ phán cùng các môn đồ, "Quả thật, ta nói cùng các ngươi, người giàu vào nước thiên đàng là khó lắm. Ta lại nói cùng các ngươi, lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn một người giàu vào nước Đức Chúa Trời" (Ma-thi-ơ 19:23-24) . Chúng ta hỏi tại sao? Câu trả lời rất đơn giản: bởi vì tài của, sự giàu có hay sự chạy đuổi theo nó khiến chúng ta chỉ chú mắt, chú tâm vào cuộc sống dưới trời này mà quên đi cuộc sống vĩnh cữu nơi thiên đàng. Thường thì trong đời sống của người giàu có tài vật choáng ngai của Đức Chúa Trời.
VẬT CHẤT KHÔNG MUA ĐƯỢC SỰ CỨU RỖI
Kinh Thánh dạy chúng ta nhận được sự sống đời đời khi chúng ta thành tâm tin nhận Đức Chúa Jê-sus Christ làm Cứu Chúa. Như lời Phao Lô viết, "Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình" (Ê-phê-sô 2:8-9). Sự cứu rỗi, sự sống đời đời đến từ hai điều: ân điển và đức tin. Ân điển là sự ban cho từ Đức Chúa Trời mà chúng ta không xứng đáng nhận lãnh. Đây là hình ảnh của những thuyền nhân vượt biển đang trong tình trạng hiểm nguy, tuyệt vọng vì hết thức ăn, nước uống và máy thuyền lại không làm việc được một chiếc thủy hạm hải quân hay một tàu chở hàng thật lớn đến cứu. Thủy thủ trên tàu leo xuống chiếc thuyền con nhỏ bé, mong manh để đem các thuyền nhân lên tàu, cho ăn uống, tắm rửa, thay quần áo. Sự cứu vớt, ban cho, giúp đở này là ân điển bởi vì người được cứu chỉ bởi lòng nhân đạo chớ không vì công sức của họ. Đây là hình ảnh của ân điển. Nhưng khi các thuyền nhân được cứu thì chính họ phải tin tưởng vào người cứu họ và đồng ý để được cứu. Nếu họ quyết tâm từ chối thì dù những người thủy thủ có tài giỏi đến mấy, dù chiếc tàu to lớn, tiện nghi đến mấy, dù thức ăn trên tàu có đầy đủ đến mấy thì cũng vô ích. Đức tin là lòng chân thành tin tưởng của người được cứu đối với người cứu mình. Ân điển đến từ Đức Chúa Trời nhưng loài người chúng ta cần lòng tin để nhận lãnh ân điển đó để được cứu.
Sô-lô-môn viết, "Mình lọt ra khỏi lòng mẹ trần truồng thể nào, ắt sẽ trở về thể ấy, và về các huê lợi của sự lao khổ mình, chẳng có vật gì tay mình đem theo được. Điều này cũng là một tai nạn lớn: người ra đời thể nào, ắt phải trở về thể ấy." (TĐ 5:15-16). Khi qua đời mọi tài của cả đời chúng ta đổ công sức để tạo dựng đều phải để lại. Không ai đem theo được một đồng dù chỉ một đồng. Đồng tiền có thể mua được nhiều điều khi chúng ta còn hơi thở, nhưng nó không có giá trị gì trong cuộc sống đời sau. Hãy nhớ điều này để biết xử dụng tiền của Chúa ban cho một cách khôn ngoan và lợi ích cho gia đình, cho người thiếu khó và cho công việc Đức Chúa Trời.
Vả, sự tin kính cùng sự thỏa lòng ấy là một lợi lớn. Vì chúng ta ra đời chẳng hề đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được. Như vậy, miễn là đủ ăn đủ mặc thì phải thỏa lòng; Còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ, mắc bẫy dò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại kia, là sự làm đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất. Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn. (1 Ti-mô-thê 6:6-10)
Mắt của lòng bị đóng kín:
Như PL giải thích cho vua Áp-ríp-ba về lời của ĐCJC cùng ông khi ông được cứu trên đường đến thành Đa-mách: Ta sẽ bảo hộ ngươi khỏi dân nầy và dân ngoại là nơi ta sai ngươi đến, 18 đặng mở mắt họ, hầu cho họ từ tối tăm mà qua sáng láng, từ quyền lực của quỉ Sa-tan mà đến Đức Chúa Trời, và cho họ bởi đức tin nơi ta được sự tha tội, cùng phần gia tài với các thánh đồ. (CV 26:17-18)
Những hạt rơi giữa bụi gai là những người đã nghe đạo nhưng để cho sự lo lắng, giàu sang, vui thú đời nầy làm nghẹt ngòi nên không trưởng thành được. (Lu-ca 8:14)
Tôi cũng xin Ngài soi sáng con mắt của lòng anh em, để anh em biết niềm hi vọng mà Chúa đã gọi anh em đến là gì, sự phong phú của cơ nghiệp vinh quang Ngài trong các thánh đồ là thể nào, 19và đâu là quyền năng vĩ đại không dò lường được của Ngài đối với chúng ta là những người tin, theo sự tác động của quyền năng siêu việt của Ngài. (Ê-phê-sô 1:18-19 – BHĐ)
Nếu Tin Lành của chúng tôi có bị che khuất thì chỉ che khuất đối với những người bị hư mất. 4Thần của đời nầy làm mù lòa tâm trí của những người vô tín, để họ không thấy ánh sáng Tin Lành vinh quang của Đấng Christ, là hình ảnh của Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 4:3-4)
