Hầu hết chúng ta đều dùng một công thức để quyết định mức độ cảm tạ, biết ơn. Theo công thức này thì mức độ biết ơn bằng điều nhận được trừ cho điều mất đi (cảm tạ = điều muốn/nhận được – điều mất đi). Hễ điều nhận được càng nhiều hơn điều mất đi thì mức độ biết ơn càng lên cao. Khi số mất đi tăng lên mà số nhận được vẫn như nguyên thì sự biết ơn cũng giảm xuống một cách tương xứng. Và khi số mất đi nhiều hơn số nhận được, thì chúng ta trở nên cay đắng chua chát.
Theo công thức này thì ít có gì để chúng ta có thể tạ ơn Chúa về HT vì từ đầu năm đến nay chúng ta đã trải qua biết bao nhiều trở ngại, khó khăn, thậm chí mất mát. Và trong đời sống cá nhân, gia đình, trong quan hệ, việc làm tôi tin tất cả qv từ đầu năm đến nay đã phải trải qua những cảnh ngộ hết sức khó khăn, thậm chí tưởng như không lối thoát. Trong những cảnh ngộ, hoàn cảnh khó khăn như vậy thì hiếm có ai có thể dâng lời tạ ơn Chúa.
Tuy nhiên KT dạy chúng ta cảm tạ Chúa trong mọi hoàn cảnh, trước mọi sự việc: 16 Hãy vui mừng mãi mãi; 17 cầu nguyện không ngừng; 18 trong mọi hoàn cảnh, hãy cảm tạ vì đây là ý muốn Đức Chúa Trời cho anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-su. (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:16-17 – BDM). Nếu muốn biết về ý chỉ ĐCT thì cu KT này dạy rất rõ về ý Chúa: trong mọi cảnh ngộ, hoàn cảnh, hãy cảm tạ Chúa. Mọi cảnh ngộ tức gồm những cảnh ngộ thuận lợi, thành đạt và cả khi khó khăn, mất mát.
Lịch sử đất nước HK cho chúng ta thấy rõ rằng dù trong hoàn cảnh khó khăn, đen tối nhất thì người dân HK vẫn có thể tạ ơn ĐCT vì họ biết rằng chính Chúa là Đấng đã ban cho họ đất nước này và đã gìn giữ đất nước này trong những thăng trầm trong lịch sử.
NGUỒN GỐC CỦA BUỔI TIỆC TẠ ƠN
Một đêm mùa thu năm 1607 (tức 417 năm trước đây), một nhóm người độ chừng năm mươi hay sáu mươi, đàn ông, phụ nữ và cả trẻ con lén lút trốn ra những thuyền nhỏ bé từ một làng nhỏ của Anh Quốc tên Scrooby. Đi bằng những thuyền nhỏ, họ tập họp tại cửa vịnh Lincolnshire của thành phố Boston, Anh Quốc. Rồi trong đêm tối, cùng nhau lên tàu vượt biển từ giả quê hương để đến xứ Hòa Lan. Họ là ai? Tại sao họ lại phải trốn khỏi Anh Quốc?
Đây là nhóm người mà 12 năm sau đó lại một lần nữa phải giả từ quê hương để đến vùng đất xa lạ Mỹ Châu trên chiếc tàu Mayflower. Họ là những người Pilgrims, những người đầu tiên đến , tiểu bang Massachussetts vào năm 1620. Họ là những người sáng lập đất nước Hoa Kỳ mà ngày hôm nay chúng ta chọn làm quê hương thứ hai. Cũng như chúng ta, họ đã rời bỏ quê hương để tìm tự do. Nhưng khác với chúng ta, họ phải vượt biển hai lần. Lần đầu từ Anh Quốc tạm trú tại Hòa Lan. Rồi từ đó họ lại phải vượt Đại Tây Dương mênh mông để đến Mỹ Châu. Khác chúng ta, họ bỏ quê hương, chọn lấy một vùng đất hoang vu, nguy hiểm chỉ để được sự tự do thờ phượng Đức Chúa Trời.
Cuộc vượt biên năm 1620 của những người Pilgrims đầy những bất trắc, khó khăn. Thậm chí tưởng như đã không thành. Tháng 7, 1620 những người Pilgrims rời thành phố , Hòa Lan trên con tàu Speedwell. Họ đến một thành phố vùng biển phía nam của nước Anh. Tại đó họ bổ thêm lương thực rồi cùng một chiếc tàu khác lớn hơn tên Mayflower nhổ neo ra khơi. Nhưng không lâu sau khi ra biển, con tàu Speedwell lại bị nước vào nên phải cố lắm mới trở lại được cảng tại , Anh Quốc. Sau khi sửa chửa đến cuối tháng 8, hai tàu Speedwell và Mayflower lại một lần nữa ra khơi đi đến Mỹ Châu. Chỉ đi được độ 300 miles, tàu Speedwell lại bị nước vào. Rồi một lần nữa cả hai tàu phải trở lại Anh Quốc. 20 người trong số 120 người đầu tiên trên 2 tàu giờ nản lòng, một số bỏ trở về Hòa Lan, một số ở lại Anh Quốc.
Ngày 6 tháng 9 năm đó, 102 người còn lại lên tàu Mayflower vượt biển. Cuộc hành trình vượt biển của họ trong hơn hai tháng trời đầy những nguy hiểm. Một vài người chết trên chuyến đi đó. Cuối cùng vào ngày 9 tháng 11, 1620, con tàu Mayflower nhìn thấy đất liền, vùng đất ngày nay gọi là , tiểu bang Massachussetts. Những người di cư để tàu chạy dọc bờ biển trong hai ngày. Ngày 11 tháng 11 họ thả neo tại . Nơi đó 41 người đàn ông đã cùng ký bản Giao Ước Mayflower (the Mayflower Compact). Tổng thống John Quincy Adams đã xem Giao Ước là nền tảng của chế độ dân chủ cho hiến chương và luật pháp của Hoa Kỳ. Vào ngày 21 tháng 12 họ định cư tại . Mùa đông năm đó vô cùng khắc nghiệt. Một số người vì thiếu thức ăn, thiếu dinh dưỡng không chịu nổi cơn lạnh khắc nghiệt của vùng Đông Bắc đã phải bỏ mạng. Đến mùa xuân 1621 chỉ còn phân nửa số 102 người đầu tiên vượt biển sống sót.
Một ngày mùa xuân năm đó, một người da đỏ biết nói tiếng Anh tên Squanto liên lạc với nhóm người định cư đầu tiên này và giúp họ trong việc trồng trọt, săn bắn. Nhờ sự giúp đở này, đến mùa thu 1621, số mùa màng thu gặt không những đủ cho mùa đông tới mà con dư dùng cho năm tới. Họ quyết định tổ chứa một buổi tiệc lớn với người bản xứ da đỏ, buổi tiệc Tạ Ơn. Mục đích của tiệc là để tạ ơn Đức Chúa Trời là Đấng đã bảo vệ họ trong cuộc hành trình nguy hiểm, gìn giữ mạng sống họ trong mùa đông đầu tiên, đem người đến giúp đở và ban cho mùa màng thuận lợi. Buổi tiệc cũng để bày tỏ lòng biết ơn đối người dân bản xứ đã giúp đỡ cho họ. Tiệc kéo dài đến ba ngày liền.
Đây là lịch sử, nguồn gốc của buổi tiệc Tạ Ơn với khoai lang và gà tây!
LỊCH SỬ CỦA NGÀY LỄ TẠ ƠN
Một số người lại hỏi: nhưng tại sao ngày lễ Tạ Ơn tại HK lại tổ chức vào ngày thứ Năm tuần lễ cuối của tháng 11 hàng năm? Cũng như câu chuyện về nguồn gốc bửa tiệc Tạ Ơn, câu chuyện về nguồn gốc của ngày lễ Tạ Ơn rất cảm động và đầy ý nghĩa. Một bài học là dù trong cảnh ngộ đen tối nhất, dân chúng và chính quyền HK vẫn quyết định bày tỏ lòng biết ơn ĐCT. Họ không chờ cho đến khi dư dật hay đầy đủ thì mới cảm tạ, bởi vì không bao giờ đủ cả.
Mãi đến 155 năm sau khi những người Pilgrims cử hành buổi tiệc Tạ Ơn vào năm 1621, đất nước HK mới dành được độc lập từ Anh Quốc. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập năm 1776 là một văn kiện vô cùng quan trọng về sự độc lập khỏi đế quốc Anh.
Trong hơn 80 năm từ khi độc lập, đất nước HK được ĐCT ban cho ơn phước, trở nên giàu mạnh, phát triển lãnh thổ. Nhưng đến năm 1863 xứ HK trãi qua một cuộc nội chiến đẫm máu và tàn khốc nhất trong lịch sử quốc gia giữa Nam Bắc. Trên một triệu người đã mất mạng và thương tích, biết bao nhiêu gia đình phải ly tán, làng xóm bị tàn phá, nhà cửa bị hủy diệt trong cuộc nội chiến tàn khốc này.
Trong thời gian vô cùng đen tối này, Tổng Thống Abraham Lincoln đã ký thành sắc luật một nghị quyết của thượng viện Hoa Kỳ. Nghị quyết của tổng thống Lincoln tuyên bố rằng ngày thứ năm 30 tháng 04 năm 1863 sẽ là ngày toàn quốc kiên ăn và cầu nguyện. Lời tuyên ngôn kêu gọi cho ngày kiên ăn cầu nguyện của tổng thống Lincoln có những lời như sau: Quốc gia chúng ta đã được nhận những của ban tốt nhất từ Trời; chúng ta đã hưởng hòa bình, thịnh vượng trong nhiều năm; chúng ta đã gia tăng về dân số, về sự giàu có và về sức mạnh như chưa một quốc gia nào kinh nghiệm được.* Nhưng chúng ta đã quên Thượng Đế. Chúng ta đã quên đi cánh tay nhân lành đã gìn giữ chúng ta trong những năm tháng hòa bình và giúp chúng ta trù phú, giàu mạnh.* Trong sự lừa dối của lòng mình, qua suy nghĩ hão huyền, chúng ta nghĩ rằng mọi ơn phước đó là sản phẩm của sự khôn ngoan vượt bực và do công đức của chính mình*. Say sưa với những thành công liên tục, chúng ta trở nên tự đắc và quên đi ân điển của Thượng Đế. Chúng ta trở nên kiêu hảnh đến nỗi không còn cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời là Đấng đã sáng tạo chúng ta*. Vậy nay thật chính đáng để chúng ta khiêm nhường trước Đấng mà chúng ta đã phạm tội để cầu nguyện cho tội lỗi của dân tộc chúng ta, để xin Đức Chúa Trời tha thứ và thương xót.
Đến ngày 03 tháng 10 cùng năm đó, tổng thống Lincoln đã tuyên bố ngày lễ Tạ Ơn toàn quốc đầu tiên vào ngày thứ năm cuối của tháng 11 năm 1863. Bản tuyên ngôn về ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên có lời kêu gọi như sau: Tôi thiết nghĩ thật xứng đáng và thích hợp để toàn thể dân tộc Hoa Kỳ đồng một tâm tình, một tiếng nói mà long trọng, kỉnh kiền và với lòng biết ơn mà xưng nhận Đức Chúa Trời*. Vì vậy tôi kêu gọi toàn thể đồng bào đang sinh sống trên mọi vùng của đất nước, cùng những ai đang ở biển khơi, và những đồng bào đang ở nước ngoài, biệt riêng ra ngày thứ năm cuối của tháng 11 như ngày lễ Tạ Ơn và ca ngợi đến Cha Nhân Từ là Đấng ngự trên cao.
Khi đất nước đang trong cuộc nội chiến tàn khốc và đẩm máu, không biết còn tồn tại hay không thì tổng thống và quốc hội HK biệt riêng một ngày để Tạ Ơn ĐCT và cầu nguyện cùng Ngài. Họ không oán trách, cay đắng với Chúa; trái lại họ bày tỏ lòng biết ơn. Cám ơn Trời khi đất nước thanh bình đã là điều hiếm thấy. Dân chúng Hoa Kỳ lại dâng lời cảm tạ khi đất nước tan tóc vì chiến tranh lại là điều chưa từng thấy bao giờ. Mấy ai trong số qv có thể nghĩ rằng ngày lễ Tạ Ơn toàn quốc đầu tiên và chính thức của Hoa Kỳ lại được kỷ niệm vào giữa một thời kỳ đen tối nhất của lịch sử đất nước này.
Kinh Thánh viết: "Nước nào có Đức Chúa Trời hằng hữu là Chúa mình, dân tộc nào được Ngài chọn làm cơ nghiệp mình có phước thay!" (Thi thiên 33:12). Từ những ngày tháng đầu tiên mới đến định cư tại vùng đất mới này, dân sự Hoa Kỳ đã hết lòng tôn thờ Đức Chúa Trời, tôn thờ Thượng Đế. Nhưng sau hơn 200 năm dài được Đức Chúa Trời ban phước, đất nước cường mạnh, dân cư an lạc, ấm no, họ bắt đầu nghĩ rằng do bởi chính sự khôn ngoan, tài giỏi hay công đức mà họ đạt được mọi điều tốt đẹp. Trước cuộc nội chiến năm 1863, quốc gia Hoa Kỳ đã tự tôn, tự đắc, kiêu hảnh về sự phát triển vượt bực, về đất nước bao la, tài nguyên trù phú của họ. Khi ấy họ quên đi Thượng Đế như chính lời trong bản tuyên ngôn kêu gọi kiên ăn, cầu nguyện của tổng thống Lincoln đã thú nhận.
Rồi chiến tranh đến. Trong những năm tháng dài mất mát, đau khổ, khốn khó đó, dân chúng ý thức rằng họ đã quên đi Đức Chúa Trời, là Đấng đã đem họ từ vùng đất Âu Châu xa xôi, gìn giữ họ khỏi những nguy hiểm của rừng thiên nước độc của vùng đất mới này và ban cho đất đai phì nhiêu, mùa màng thuận lợi. Cuộc chiến tranh đẫm máu này cũng nhắc nhở cho dân chúng về sự độc ác, tội lỗi tày trời của người với người. Chỉ duy bởi khác màu da mà một giống người có thể bắt giống người khác làm nô lệ, đối xử với đồng loại mình không hơn gì loài súc vật. Cuộc chiến cũng nhắc dân chúng rằng có nhiều nan đề trong cuộc sống ngoài sự giải quyết của loài người, phải cần đến cánh tay quyền năng của Thượng Đế. Sau khi ý thức tội lỗi, nhận thức rõ lòng kiêu hảnh, người dân Hoa Kỳ đã kiên ăn, cầu nguyện, hạ mình khiêm nhường trước Chúa ăn năn, xưng tội và xin Đức Chúa Trời ban lại những ơn phước đã mất. Chúa hứa với dân nào ăn năn thật sự, Ngài sẽ cứu họ. Lời Kinh Thánh viết: "Nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ" (II Sử Ký 7:14).
Hơn nữa ơn phước không phải chỉ gồm vật chất, tiền của, tài sản. Khi giúp người, qv còn nghe được, nhận được lời cảm ơn, nhưng có bao giờ căn nhà, hay chiếc xe, hay miếng đất nói cám ơn! Dù chúng ta có thể dốc hết tâm sức, đổi cả gia đình để chạy đuổi theo vật chất, không một người nào có thể nghe được một lời cảm ơn từ những của vật này. Cũng không có một người nào lại muốn cúi đầu cám ơn vật mình có được hay do chính mình làm ra. Vật chất hữu hình dù thấy được, sờ được, cảm biết được nhưng vô tri vô giác, không biết ơn hay trả ơn. Qv có bao giờ thấy xe hay nhà nói cám ơn không? Dĩ nhiên không! Chính vì vậy khi bày tỏ lòng cảm tạ thì chúng ta nói rằng mình cám ơn Đấng đã tha thứ tội, ban cho sự cứu rỗi, cuộc sống mới và cám ơn những người giúp đở mình. Quan điểm sống, nhận thức điều gì là giá trị để biết thật sự cảm tạ Chúa về gia đình, tình bạn, hội thánh, sự cứu chuộc hơn là chỉ nghĩ về vật chất, tài của.
ĐỪNG CHỜ ĐẾN KHI ĐỦ MỚI CẢM TẠ
Chúng ta có rất nhiều điều để tạ ơn Chúa: sự tha thứ, sự cứu rỗi, gia đình, thân quyến, bè bạn, hội thánh, sức khỏe, công việc, nhà cửa, xe cộ, thức ăn dư dật… Tôi cũng biết rằng khi nghe những điều này, một số sẽ thầm nghĩ: làm sao tôi có thể cảm tạ Chúa khi gia đình tôi đang trãi qua biết bao nhiêu khó khăn, tan vỡ; làm sao tôi có thể cảm tạ Chúa về hội thánh khi người anh chị em trong Chúa nói điều không đẹp về tôi; hay về sức khỏe, việc làm…
Nếu chờ cho đến đi mọi sự được đầy đủ, trọn vẹn mới dâng lời cảm tạ Chúa thì điều này chắc chắn sẽ không bao giờ sảy ra vì không ai trong chúng ta tại đây lại không có điều khó khăn, mất mát cả. Không mất sức khỏe thì cũng mất tình cảm; không mất sức khỏe, tình cảm thì cũng sẽ mất tiền bạc… Lòng biết ơn ĐCT không thể tùy thuộc vào hoàn cảnh hay sự dư dật nhưng như PL dạy: 16 Hãy vui mừng mãi mãi; 17 cầu nguyện không ngừng; 18 trong mọi hoàn cảnh, hãy cảm tạ vì đây là ý muốn Đức Chúa Trời cho anh chị em trong Chúa Cứu Thế Giê-su. (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:16-17 – BDM)
Một câu chuyện kể về Scottie Pippen, một thể tháo gia bóng rỗ. Ông lớn lên trong một gia đình nghèo khó, ở trong một căn nhà nhỏ chật hẹp với 11 anh chị em. Năm 1999 ông ký giao kèo với một đội bóng rỗ sẽ trả cho ông ít nhất $14.7 triệu mỗi năm cho đến năm 2002. Cộng cả tiền lương và tiền quản cáo của Scottie thì mỗi năm ông chắc thu vào khoảng $50 triệu. Ông sắm cho mình một chiếc du thuyền dài 74 feet và một chiếc xe Mercedes giá $100K. Chủ của đội này tên là Paul Allen, một tỉ phú gia, người cùng Bill Gates sáng lập công ty Microsoft. Mỗi khi chơi bóng rỗ cho đội và có mặt của Paul Allen thì Scottie thường nhìn ông chủ và nói rằng phải chi ông được giầu như một phần của chủ mình.
Hai loại toán: Khi mới học làm toán chúng ta bắt đầu với đếm số, rồi đến toán cộng, toán trừ, rồi mới đến toán nhân và chia. Toán của những người không có lòng biết ơn thường như sau:
Đếm những điều người ta có mà mình không có. Đếm lỗi của người chung quanh. Đếm người thù mình.
Thường cộng thêm vào những điều mình muốn có như người ta.
Trừ đi điều mình đang có nhưng cộng vào điều mình muốn có. Lỗi của mình
Nhân lên điều đã mất. Nhân lỗi của người
Chia đi công việc cho người khác. Chia nhỏ lỗi mình.
Thường thì trong đời sống chúng ta giỏi tính toán trong nhiều điều không đáng theo lời Chúa dạy: đếm lỗi của người chung quanh, đếm kẻ thù của mình; cộng vào và nhơn thêm nhiều tài của vào túi, vào bank nhưng lại trừ ra hay chia bớt công việc cho Chúa, sự giúp đở cho người. Nhưng hễ làm người, đặc biệt là người tin Chúa, thì chúng ta phải biết học đếm các ơn phước Chúa ban. Loại toán khó nhất để học cho người có lòng biết ơn
Đếm các ơn phước Chúa ban và điều người làm cho mình
Cộng thêm điều đã có và đang có: đây chính là ơn phước Chúa ban cho. Cũng nhớ cộng lỗi của mình chớ đừng làm lơ hay bỏ qua.
Trừ đi những điều những điều không cần thiết cho đời sống. Trừ đi lỗi người phạm cùng mình. Trừ bớt đi cho đến số không những điều hờn giận, những cay đắng, bất mãn trong đời sống
Nhân lên ân điển Chúa ban, nhân lên sự tha thứ, tình yêu thương, sự cứu chuộc của ĐCT. Nhân lên điều tốt mà người làm cho mình.
Chia cho người chung quanh ơn phước Chúa ban. Chia xớt tài của. Chia xớt thời gian để hầu việc Chúa.
Lắm lúc Đức Chúa Trời dùng những gian truân, thử thách để đem chúng ta trở lại cùng Ngài. Ngài có thể dùng khó khăn hay khổ nạn để giúp chúng ta ý thức về sự bấp bênh, hữu hạn của đời sống mình và về sự thay đổi, gian dối của tình người. Để chúng ta đến cùng Chúa trong sự thống hối, tan vỡ mà tin nhận Ngài. Như chính bản thân tôi và biết bao nhiêu tỉ người khác đã tin nhận Ngài. Tôi tin nhận Đức Chúa Jê-sus Christ là cứu Chúa khi cuộc đời của tôi ở trong bóng tối của tuyệt vọng và trong vũng bùn của tội lỗi. Tuy nhiên cùng một hoàn cảnh nhưng có người ăn năn, trở về với Chúa, có người lại oán trách, thù hằn.
Trong hai năm dài, tiên tri Giê-rê-mi chứng kiến sự bao vây của quân đội Babylon quanh thành Giê-ru-sa-lem. Hết thức ăn, dân chúng chết vì đói, vì bệnh. Rồi thành bị thất thủ, dân sự bị giết hại và giải làm phu tù sang xứ xa. Trước cảnh ngộ tan thương đó, Giê-rê-mi viết bài Ca Thương (bài ca trong khi đau thương, ai ca -BDM) để khóc cho dân Chúa. Nhưng dù trong những lời than khóc, ông vẫn bày tỏ cảm tạ: Hãy nhớ đến sự hoạn nạn khốn khổ ta, là ngải cứu [đắng] và mật đắng. 20 Hồn ta còn nhớ đến, và hao mòn trong ta. 21 Ta nhớ lại sự đó, thì có sự trông mong: 22 Ấy là nhờ sự nhân từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt. 23 Mỗi buổi sáng thì lại mới luôn, sự thành tín Ngài là lớn lắm. 24 Hồn ta nói: Đức Giê-hô-va là cơ nghiệp ta, nên ta để lòng trông cậy nơi Ngài. (3:19-24)
Ai quên đi ngôn ngữ của lòng biết ơn không bao giờ có thể nói được tiếng của hạnh phúc.
